CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .
ĐỂ VÀO DIỂN ĐÀN TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC , BẠN CẦN ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY .
CHÚC BẠN AN KHANG THỊNH VƯỢNG VÀ TINH TẤN TRÊN CON ĐƯỜNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC ........
TRUNG TÂM HUYỀN BÍ HỌC ĐÔNG TÂY
CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .

Cùng tìm tòi, nghiên cứu, chia sẻ, thảo luận và thực hành các kỷ năng, kiến thức tâm linh để tạo hạnh phúc cho bản thân và tha nhân ..........
 
Trang ChínhPortalGalleryTìm kiếmĐăng kýĐăng Nhập
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Sách ÂM LUẬT VÔ TÌNH
CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeSat Nov 16, 2019 3:39 pm by phoenix030

»  Học tập Mật pháp có cần phải quán đỉnh?
CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Jun 12, 2019 7:36 pm by dieutam333

» Cửa hàng văn hóa phẩm Phật giáo Phật Linh
CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeThu Jun 06, 2019 9:48 am by dieutam333

» Học đạo thầy chân chính có lấy tiền mình ko thầy?
CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeThu May 30, 2019 9:28 am by dieutam333

» Mua launchpad
CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Feb 27, 2019 8:44 am by hanhmit

» tour du lịch Phú Quốc
CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeFri Feb 15, 2019 2:31 am by hanhmit

» căn hộ Hado Green Lane quận 8
CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeTue Feb 12, 2019 11:45 pm by hanhmit

» Dự án chung cư Thanh Hà
CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeSun Feb 10, 2019 12:14 am by hanhmit

» Thi công nội thất Đà Nẵng
CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeTue Jan 29, 2019 10:51 pm by hanhmit

Navigation
 Portal
 Diễn Đàn
 Thành viên
 Lý lịch
 Trợ giúp
 Tìm kiếm
Diễn Đàn
Affiliates
free forum


 

 CHIẾN QUỐC SÁCH

Go down 
Tác giảThông điệp
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

CHIẾN QUỐC SÁCH Empty
Bài gửiTiêu đề: CHIẾN QUỐC SÁCH   CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Dec 01, 2010 4:25 pm


CHIẾN QUỐC SÁCH

Chú dịch và giới thiệu: Giản Chi – Nguyễn Hiến Lê
Nhà xuất bản: Từ điển Bách khoa
Năm xuất bản: 2006
Số trang: 496


MỤC LỤC

PHẤN I: GIỚI THIỆU
PHẦN II: TRÍCH DỊCH
Chương I: Chu sách
Chương II: Tần sách
Chương III: Tề sách
Chương IV: Sở sách
Chương V: Triệu sách
Chương VI: Nguỵ sách
Chương VII: Hàn sách
Chương VIII: Yên sách
Chương IX: Tống, Tề sách
Chương X: Trung Sơn sách
PHỤ LỤC
Niên biểu đời Chiến Quốc

Vài lời thưa trước

Đọc danh mục sách của cụ Nguyễn Hiến Lê, chúng ta thấy có khá nhiều tác phẩm cụ viết chung với cụ Giản Chi. Riêng hai bộ Chiến Quốc sách và Sử kí của Tư Mã Thiên, cụ Nguyễn Hiến Lê cho biết:

“Chiến Quốc sách đã được các nhà Nho trong Nam Phong trích dịch vài chục bài; Sử ký được Nhượng Tống dịch dăm chương. Ông Giản Chi và tôi tính làm kỹ hơn, phân công nhau: tôi giới thiệu bộ Chiến Quốc sách và trích dịch, chú thích hết các bài hay; ông Giản Chi tuyển dịch độ một phần tư bộ Sử ký và chú thích rất kỹ; tôi giới thiệu tác giả cùng tác phẩm. Người này làm xong, đưa người kia coi lại.

Chúng tôi sưu tập tất cả các sách Hoa và Anh, Pháp viết về hai tác phẩm đó, để giúp độc giả hiểu thời đại, nguồn gốc, nội dung, giá trị về sử liệu, giá trị về phương diện văn học (điều mà các nhà khác không chú trọng tới mấy) của mỗi tác phẩm.

Riêng về Chiến Quốc sách, chúng tôi còn dùng tài liệu trong tác phẩm để vẽ lại xã hội Trung Hoa thời Chiến Quốc. Trong bộ Sử ký, chúng tôi nhấn mạnh vào cuộc đời oan khổ của Tư Mã Thiên, nó ảnh hưởng tới tư tưởng và phương pháp viết sử của ông ra sao.

Bộ Chiến Quốc sách có phụ lục: Niên biểu thời Chiến Quốc, Nhân danh và Địa danh. Bộ Sử ký có hai bản đồ: Trung Hoa thời Chiến Quốc và Trung Hoa thời Hán.

Bị hạn chế về phương tiện in, chúng tôi không thể dịch trọn hai tác phẩm bất hủ đó được, nhưng đọc hai bản dịch của chúng tôi – 700 và 800 trang – độc giả cũng có một số tri thức tạm đủ và rõ rệt rồi, và chúng tôi mong rằng vài ba chục năm nữa sẽ có người dịch trọn bộ Sử ký. Ai cũng nhận hai bộ đó của chúng tôi có giá trị”[1].

Theo Wikipedia thì “Chiến Quốc sách là cuốn cổ sử Trung Quốc viết về lịch sử thời Chiến Quốc, từ năm 490 TCN đến năm 221 TCN, lúc Cao Tiệm Ly[2] không thành công ám sát Tần Thuỷ Hoàng”[3]; nhưng theo hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê bảo: “(…) bộ Chiến Quốc sách – thực ra chưa đáng gọi là sử - chép việc của mười một nước: Chu[4], Tần, Tề, Sở, Triệu, Nguỵ, Hàn, Yên, Tống, Vệ, Trung Sơn từ năm 453 (đời Đông Chu Định Vương) tới năm 221 trước Tây lịch (tức năm 16 đời Tần Thuỷ Hoàng, năm mà Tần diệt xong lục quốc và thống nhất Trung Hoa)” (trang 15). Hai cụ còn cho biết thêm: “(…) xét về nội dung Chiến Quốc Sách thì phần lớn không phải là tài liệu đáng tin về sử, mà có lẽ chỉ là những luận thuyết, biện thuyết dựa vào lịch sử mà viết” (trang 18); và “chúng ta đừng nên coi Chiến Quốc Sách là tác phẩm của Sử-phái đời Tiên Tần mà nên coi nó là tác phẩm của Luận-phái đời Tiên Tần hoặc đời Tây Hán; mà đọc Chiến Quốc sách thì chúng ta đừng nên tìm tài liệu lịch sử trong đó, chỉ nên tìm hiểu xã hội Trung Hoa, tư tưởng và chính sách của bọn chính khách, mưu sĩ thời Chiến Quốc, nhất là thưởng thức giá trị nghệ thuật tự sự, luận thuyết, tức giá trị về văn học của bộ đó thôi” [5](trang 26).

Cũng theo Wikipedia thì “Sách này (tức Chiến Quốc sách) có khoảng 120.000 chữ và chia thành 33 chương và 497 tiết đoạn[6], gồm có 12 sách lược như sau: Đông Chu sách (东周策), Tây Chu sách (西周策), Tần sách (秦策), Tề sách (齐策), Sở sách (楚策), Triệu sách (赵策), Ngụy sách (魏策), Hàn sách (韩策), Yên sách (燕策), Tống sách (宋策), Vệ sách (卫策), Trung Sơn sách (中山策)”. Và theo hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê thì Lưu Hướng là người thu thập và chỉnh lý bộ Chiến Quốc sách[7]. Hai cụ bảo: “…ngày nay, còn lưu lại bài Tựa Chiến Quốc sách của ông, trong đó đại ý nói rằng khi thu thập các tài liệu, ông tìm được nhiều quyển sắp đặt lộn xộn, lại thấy tám thiên chép riêng về các nước, nhưng không đủ, ông bèn theo từng nước và theo thứ tự thời gian mà sắp đặt lại thành ba mươi ba thiên[8], hiệu đính lại nhiều chữ sai lầm” [9].

Vì Lưu Hướng không sắp đặt tất cả các bài trong trọn bộ Chiến Quốc sách theo thứ tự thời gian, cho nên đọc những bài do hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê tuyển dịch, ta thấy bài Trí Bá quá tham mà bị diệt (Triệu I 1), có thể xem như bài đầu tiên chép việc xảy ra đầu thời Chiến Quốc lại không phải là bài đầu tiên trong Chu sách, và bài chép việc xảy ra cuối thời Chiến Quốc là bài Thái tử Đan và Kinh Kha (Yên III 5), cũng không phải là bài cuối cùng trong Trung Sơn sách. Cũng vì các bài trong Chiến Quốc sách được chia ra thành nhiều “sách”, cho nên ta thấy các bài liên quan đến việc Tần đánh Nghi Dương nằm trong Đông Chu sách (bài 2), và trong Tần sách (bài II 6, bài II 7, bài II 8, bài II 9, bài II 10). Người chỉ huy trận đánh đó là Cam Mậu, mà muốn tìm hiểu về nhân vật này, ngoài các bài vừa nêu, chúng ta cần đọc thêm 3 bài trong Tần sách: bài II 11, bài II 12, bài II 13, và cả trong Sở sách nữa như bài I 15… Các bài viết Tô Tần, được xem là nhân vật chính trong Chiến Quốc sách, còn nhiều hơn nữa và nằm rải rác trong nhiều “sách” hơn nữa: Tần sách, Tề sách, Sở sách, Triệu sách, Nguỵ sách, Yên sách, Tống sách. Mà ngay trong một thiên, ví dụ như thiên Tần II, chúng ta thấy có hai bài viết về nhân vật Cam Mậu vừa kể trên cũng không theo đúng thứ tự thời gian: bài Tần II 12 (Tô Đại giúp Cam Mậu) chép việc xảy ra vào đời Tần Chiêu Tương Vương, và bài Tần II 13 (Vua Tần đuổi Công Tôn Diễn) chép việc xảy ra vào đời Tần Vũ Vương, mà Tần Chiêu Tương Vương (307 tr.T.L. -250 tr.T.L.) là người kế vị Tần Vũ Vương (311 tr.T.L. - 307 tr.T.L.), cho nên theo chúng tôi thì bài Tần II 12 phải đặt sau bài Tần II 13 mới phải.

Trong phần dịch, hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê bảo là chỉ “lựa khoảng nửa số bài trong Chiến Quốc sách”, và: “Tất nhiên chúng tôi dịch hết những bài có giá trị về nghệ thuật”, chúng tôi lại dịch thêm những bài để dẫn chứng cho phần I (phần giới thiệu), và một số bài khác có tính cách vui vui nữa”. Trong những bài đó ắt hẳn có vài chục bài, như lời hai cụ, đáng coi là những viên ngọc quý nhất của cổ văn Trung Quốc, đến Sử ký và Nam Hoa kinh cũng không hơn được (trang 64). Hai cụ không nêu tên những “viên ngọc quý đó”, nhưng về phương diện văn học, hai cụ bảo hai bài Tư Mã Thác bàn lẽ đánh Tần (Tần I 7) và Nhạc Nghị đáp Yên Chiêu Vương (Yên II 10) được mọi học giả Trung Hoa khen là hay; các bài Truyện Tô Tần (Tần I 2), Thái tử Đan và Kinh Kha (Yên III 5), Đường Thư không nhục sứ mệnh (Nguỵ IV 25), Phùng Uyên làm thực khách nhà Mạnh Thường Quân (Tề IV 1), Nhan Xúc thuyết Tề Tuyên Vương (Tề IV 5), Dư Nhượng (Triệu IV), Nhiếp Chính (Hàn II 19)… đạt tới mức cao về nghệ thuật kể truyện và miêu tả tính tình nhân vật, cảm động nhất là truyện Thái tử Đan và Kinh Kha (Yên III 5); các bài Trương Mao khuyên vua [Nguỵ] đừng đánh Hàn (Nguỵ IV 3), Thuốc bất tử (Sở IV Cool, Tử Tượng khuyên Tống đừng giúp Tề (Sở I 1), Trai, sò găng nhau, chỉ lợi ông chài (Yên II 13), Vẽ rắn thêm chân (Tề II 4), Cáo mượn oai cọp (Sở I 3), Trang Tân dùng ngụ ngôn khuyên Sở Tương Vương (Sở I 12), Xúc Chiệp thuyết thái hậu nước Triệu (Triệu IV 18), Khỏi bị cách chức (Đông Chu 9), Người đất Ôn khéo đối đáp mà khỏi bị giam (Đông Chu 10), Du Đằng biện hộ cho vua Chu (Tây Chu 3), Cam La thuyết Trương Đường và vua Triệu (Tần V 6)… có giá trị cao về thuật thuyết phục.

Trong những bài hay đó, có ba bài ngụ ngôn mà hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê cho là bất hủ: Yên II 13, Tề II 4 và Sở I 3. Hai bài Yên II 13 (Trai, sò găng nhau, chỉ lợi ông chài) và Sở I 3 (Cáo mượn oai cọp), trước kia cũng đã được hai cụ Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân chọn và cho vào tập Cổ học tinh hoa tức bài Con cò và con trai và bài Hồ mượn oai cọp[10]. Còn bài Triệu 18 mà hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê cho là cho là toàn bích thì cụ Nguyễn Hiến Lê cho vào Phụ lục cuốn Đắc nhân tâm cùng với bài Trung Sơn 8 và bài Nguỵ IV 21. Sau khi dẫn gần trọn bài Xúc Chiệp thuyết thái hậu nước Triệu (Triệu 18), cụ Nguyễn Hiến Lê kết luận:

“Tâm lý của con người phương Đông cũng như phương Tây, thời xưa cũng như thời nay. Thuật thuyết phục của Xúc Chiệp ăn khớp với học thuyết của Dale Carnegie: sinh trước Carnegie trên hai ngàn năm mà chỉ trong một câu chuyện với Thái hậu, ông bất giác tìm ra được sáu qui tắc của Carnegie trong phần IV (qui tắc 1, 2, 3, 4, 7, 9) cộng với ba qui tắc nữa của Carnegie trong chương I phần II (tự đặt mình vào địa vị người, chú trọng tới cái lợi của người), trong chương độc nhất phần V (xin người ban cho mình một ân huệ để cho người được vui lòng) và trong chương II phần I (khen người một cách tự nhiên, tế nhị). Chúng ta có thể hiểu biết nhiều hơn cổ nhân, nhưng cái khôn của cổ nhân vẫn còn đáng cho ta học. Đó là một nguồn vui khi ta đọc sách của cổ nhân”.

Đọc Chiến Quốc sách, đôi khi chúng ta còn bắt gặp một số điển tích, một số thành ngữ. Ví dụ điển tích “tựa cửa”, tức hai chữ ỷ môn 倚門 trong câu: Nhữ triêu xuất nhi vãn lai, tắc ngô ỷ môn nhi vọng (sáng con ra đi mà chiều về thì mẹ tựa cửa ngóng con) lấy trong bài Tề VI 1, điển tích này được Nguyễn Du dùng trong Truyện Kiều: Xót người tựa cửa hôm mai, Đặng Trần Côn dùng trong Chinh phụ ngâm khúc: Lão thân hề ỷ môn (Đoàn Thị Điểm dịch là: Lòng lão thân buồn khi tựa cửa). Còn nhân vật Nhiếp Chính trong bài Hàn II 19, thì có liên quan đến điển tích “khúc Quảng Lăng” trong câu Kiều: Kê Khang này khúc Quảng Lăng[11]. Các ngụ ngôn Trai, sò găng nhau, chỉ lợi ông chài (Yên II 13), Vẽ rắn thêm chân (Tề II 4), Cáo mượn oai cọp (Sở I 3)… cũng được xem là những điển tích. Còn sau đây là một vài thành ngữ có xuất xứ từ Chiến Quốc sách[12]: Bất dực vô phi 不翼而飛 (hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch là: Chưa đủ cánh thì chưa thể bay cao được – Tần II 2), Huy hãn thành vũ 揮汗成雨 (Mồ hôi vẩy thành mưa - Tề I 16), Hoạch xà thiêm túc 画蛇添足 (Vẽ rắn thêm chân[13] - Tề II 4), An bộ đương xa 安步當車 (Thủng thẳng đi bộ thì cũng thích như ngồi xe - Tề III 5), Vong dương bổ lao 亡羊补牢 (Mất dê[14] rồi mới lo rào chuồng - Sở IV 4), Cao chẩm vô ưu 高枕無忧 (Gối cao ngủ kỹ - Nguỵ I 10)…
*

Trong Đời viết văn của tôi, cụ Nguyễn Hiến Lê viết: “Văn Chiến Quốc sách rất cổ, rất khó hiểu mà tôi lại không kiếm ra được một bản chú giải nào vừa ý, nên phải so sánh ba bốn bản, dùng cả bản bạch thoại, lại phải tra hai bộ từ điển Trung Hoa, có khi mất cả một ngày mới dịch được một trang. Trong khi dịch bộ đó tôi đau bao tử liên miên, phải vừa xoa bụng vừa viết, đau quá thì nằm nghỉ một chút rồi ngồi lên viết tiếp. Năm đó nhà tôi qua Pháp, tôi phải dạy thay mấy tháng, nên tôi làm việc quá sức. Bộ đó tôi phải dựa vào ba chặng, cuối mỗi chặng nghỉ nửa tháng”[15]. “Năm đó” là năm 1965, cụ bà Trịnh Thị Tuệ qua Pháp để dự đám cưới của con trai của hai cụ là Nguyễn Nhật Đức[16]. Trong cuốn Chiến Quốc sách này, ta thấy ngày cụ Nguyễn Hiến Lê viết bài Lời dẫn (trong phần II: Trích dịch) là ngày 15.11.1966. Đến 1968, cuốn Chiến Quốc sách được nhà xuất bản Lá Bối in lần đầu, và được tái bản vào năm 1973[17].

Ebook này, tôi gõ theo bản của nhà xuất bản Từ điển Bách khoa in năm 2006 mà tôi mua được vào ngày 06.07.2010. Sau khi gõ được vài bài trong Tần sách, tôi tình cờ tìm thấy bản của nhà xuất bản Lá Bối in năm 1973 (bản scan do TimSach.com cung cấp). Sau khi đối chiếu vài ba trang, thấy bản Từ điển Bách khoa 2006 có nhiều chỗ sai sót so với bản Lá Bối 1973, nên tôi nhờ bạn Tuanz dùng bản Lá Bối 1973 để sửa lại và sửa cả những lỗi do tôi gõ sai; mà tôi thì gõ sai nhiều lắm! Rồi sau khi gõ được vài bài trong Tề sách, ngày 11.09.2010, tôi lại mua được từ một cửa hiệu bán sách cũ một bản của nhà xuất bản Trẻ in năm 1989, bản này in trên giấy xấu, lại cũ, đọc rất mệt mắt, nhiều chỗ không đọc được, nhưng có cái lợi là chữ Hán được in đầy đủ như bản Lá Bối 1973. Tôi không biết bản Trẻ 1989 in lại từ bản nào vì bản Lá Bối 1973 thì có in bản đồ thời Chiến Quốc còn bản Trẻ 1989 thì không, và vì trong bản Trẻ 1989 có một số chữ Hán không giống với chữ Hán tương ứng trong bản Lá Bối 1973 (về chữ Hán thì bản Tự điển Bách Khoa 2006 lược bỏ gần hết)[18]. Còn bản Tự điển Bách Khoa 2006 thì, theo tôi đoán, in lại từ bản Trẻ 1989 vì trong bài Hàn III 5 có một chú thích mà cả hai bản đó đều in là “Xem (1) trang 228”, nhưng mấy chữ đó chỉ đúng trong bản Trẻ 1989 mà thôi. Tuy có được ba bản, nhưng tôi vẫn dùng bản Từ điển Bách Khoa 2006 để gõ tiếp, gặp chỗ nào ngờ sai thì dò hai bản kia, nếu sai thì châm chước mà sửa lại; có khi cả ba bản đều sai thì phải tìm thêm các tài liệu khác, thường gặp nhất là nhan đề thứ hai, tức mấy chữ Hán Việt đầu bài, tôi phải theo các bản chữ Hán tìm thấy trên mạng mà sửa lại. Bạn Tuanz vẫn tiếp tục giúp tôi sửa lỗi đến cuối ebook cũng như góp ý về các chú thích mà tôi thêm vào (để khỏi rườm, nhiều chỗ chúng tôi sửa sai mà không chú thích). Xin chân thành cảm ơn bạn Tuanz và xin trân trong giới thiệu cùng các bạn.
Goldfish
Tháng 10 năm 2010

------------------
[1] Nguyễn Hiến Lê, Đời viết văn của tôi, Nxb Văn hoá Thông tin, 2006, trang 221, 222.

[2] Cao Tiệm Ly, người nước Yên, có tài chơi đàn trúc, bạn của Kinh Kha. Xem bài Điền Đan và Kinh Kha (Yên III 5).

[3] http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%...%91c_s%C3%A1ch.

[4] Vì trong thời Chiến Quốc có đến hai nước Chu: Đông Chu và Tây Chu nên có tài liệu bảo rằng Chiến Quốc sách chép việc 13 nước.

[5] Trong Đời viết văn của tôi, cụ Nguyễn Hiến Lê sắp bộ Chiến Quốc sách và cả bộ Sử ký của Tư Mã Thiên nữa vào loại Văn học.

[6] Số tiết đoạn (tức số bài) tuỳ theo người chia tách mà nhiều ít khác nhau. Theo bản Chiến Quốc sách của Cao Dụ thì gồm có 473 bài (xem trang 68).

[7] Trong Cổ học tinh hoa ((Nxb Văn học – 2006, trang 69), hai cụ Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân bảo Chiến Quốc sách là của Lưu Hướng.

[8] Ba mươi ba thiên: Wikipedia gọi là 33 chương.

[9] Cao Đài Từ Điển bảo: “Chiến Quốc Sách: Sách nầy do Lưu Hướng thu thập các sách đời trước, sắp đặt lại cho đúng theo thời gian liên tục”. (http://caodaism.org/CaoDaiTuDien/x/x5-023.htm).

[10] Trong Cổ học tinh hoa còn có các bài được chọn từ Chiến Quốc sách: Vợ lẽ phải đòn, Dư Nhượng báo thù...

[11] Xem bài Cổ Cầm trên trang http://svbk52.biz/forum/showthread.php?t=1888.

[12] Theo http://zhidao.baidu.com/question/16450381.

[13] Mấy chữ Hoạch xà thiêm túc 画蛇添足 (Vẽ rắn thêm chân) không có trong nguyên văn bài Tề II 4, nó là đại ý của bài Tề II 4, và hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dùng đại ý đó làm nhan đề. (Goldfish).

[14] Hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê dịch thoát là bò, mà cũng có thể sách in sai dê thành bò.

[15] Sđd, trang 152-153.

[16] Trong bài phỏng vấn Sống và viết với Nguyễn Hiến Lê của Nguyễn Ngu Í đăng trên tạp chí Bách Khoa năm 1965 (bài này được in lại trong tập Nguyễn Hiến Lê – Con người và tác phẩm, Nxb Trẻ 2003, trang 163) có câu: “Hỏi anh (tức Nguyễn Hiến Lê) hiện nay có chương trình gì không, thì anh đáp: Lo dịch nốt Chiến Quốc Sách và Sử ký của Tư Mã Thiên với anh Giản Chi”.

[17] Có lẽ bản Lá Bối là một bộ gồm hai quyển.

[18] Trong các chú thích của tôi, có chỗ tôi chép chữ Hán dạng phồn thể, có chỗ dạng giản thể là do tôi chép lại từ các bản đăng trên mạng. Mong các bạn lượng thứ cho sự thiếu nhất quán đó.

Bản đồ thời Xuân Thu
(http://www.tuyettran.de/typo3temp/pics/b756639e57.jpg)


PHẦN I
GIỚI THIỆU

Trong phần này chúng tôi sẽ:

- Đặt Chiến Quốc sách vào thời đại của nó về phương diện lịch sử và phương diện văn học;

- Tìm hiểu nguồn gốc của nó: tác giả, nhan đề, và các bản được hiệu đính;

- Trình bày ít lời phê bình của một số học giả từ đời Hán tới nay;

- Sau cùng phân tích giá trị của tác phẩm về phương diện văn học.


THỜI CHIẾN QUỐC

Đời Chu chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất đóng đô ở đất Phong, đất Cảo (miền Thiểm Tây bây giờ), nên gọi là Tây Chu (1134-770); đến đời Chu Bình Vương, bị rợ Hiểm Doãn và rợ Khuyển Nhung uy hiếp, nhà Chu phải dời đô qua Lạc Dương (Hà Nam) ở phương đông, từ đó bắt đầu thời kỳ thứ nhì gọi là Đông Chu (770-221).

Các sử gia chia thời Đông Chu này làm hai thời kỳ nữa: thời Xuân Thu (722-474) và thời Chiến Quốc (479-221).

Sự phân chia đó chỉ dựa trên một bộ sử biên niên của Khổng Tử, bộ Xuân Thu. Bộ này chép sử nước Lỗ từ năm thứ nhất đời Lỗ Ẩn Công (722) đến năm thứ mười bốn đời Lỗ Ai Công (481), gồm 242 năm; năm 749 là năm Khổng Tử mất. Chữ Xuân Thu mới đầu trỏ một năm (người ta lấy mùa xuân và mùa thu để tượng trưng một năm); rồi trỏ những bộ sử chép việc từng năm (vì vậy ngoài bộ Xuân Thu của Khổng Tử, còn nhiều bộ sử khác như của Công Dương, Cốc Lương, Tả Khâu Minh… cũng gọi là Xuân Thu).

Nhiều nhà đã thấy năm 722 và năm 481 (hoặc năm 479) không đánh dấu một biến chuyển nào lớn lao trong lịch sử, nên đã chia lại như sau: thời Xuân Thu: 770-403, từ đời Chu Bình Vương tới cuối đời Chu Liệt Vương; thời Chiến Quốc: 403-221, từ đời Chu An Vương đến khi nhà Tần diệt Tề và thống nhất Trung Quốc.

Lối phân chia này hợp lý hơn (lấp được chỗ trống từ 770 tới 722) nhưng cũng là ép vì suốt đời Đông Chu, lịch sử và xã hội Trung Hoa biến đổi liên tục, không bị gián đoạn, từ chế độ phong kiến tới chế độ chuyên chế, từ tình trạng phân tán tới tình trạng thống nhất; mà năm 403 cũng không có một biến cố nào quan trọng đủ để mở đầu một thời đại.

Từ khi dời đô qua phía đông, nhà Chu suy nhược lần: đất đai thì phải chia cắt để phong cho các vương hầu công khanh, nên mỗi ngày một thu hẹp lại, chỉ còn trông vào sự cống hiến của các chư hầu mà chư hầu thì như nước Lỗ, trong 242 năm chỉ triều cống có ba lần; không những vậy, vì cái danh nghĩa thiên tử đôi khi còn phải giúp lương thực cho chư hầu những năm họ mất mùa hoặc có chiến tranh.

Nhà Chu tuy suy, nhưng các nước chư hầu chưa dám bỏ, vì chưa nước nào đủ mạnh để dẹp tất cả các nước khác. Họ lộng quyền, tranh giành, đánh nhau không ngớt, lại mượn danh nghĩa tôn Chu để sát phạt nhau nữa.

Số chư hầu trước kia trên một ngàn, tới đầu đời Đông Chu chỉ còn lại trên một trăm, vì nhiều nước nhỏ đã bị các nước lớn thôn tính. Nhưng trong số trên một trăm nước đó, thời Xuân Thu chỉ có mười lăm nước là đáng kể: Tấn, Tần, Tề, Ngô, Việt, Sở, Lỗ, Vệ, Yên, Tào, Tống, Trần, Thái, Trịnh, Trâu. Trong số mười lăm nước đó lại chỉ có năm nước là hùng cường, kế tiếp nhau làm minh chủ, tức là ngũ bá: Tề (Hoàn Công), Tấn (Văn Công), Tống (Tương Công), Sở (Trang Công), Tần (Mục Công).

Qua thời Chiến Quốc, số chư hầu giảm xuống còn trên một chục: Tề, Tần, Sở, Nguỵ, Triệu, Hàn (ba nước này xưa là nước Tấn). Tống Lỗ, Tần, Sở, Đằng, Yên, Trung Sơn…;[1] nhưng chỉ có bảy nước lớn tranh hùng với nhau (thất hùng), tức: Tần, Tề, Sở, Hàn, Nguỵ, Triệu, Yên… Trong số thất hùng, mạnh nhất là Tần, Sở, Tề vì đất đai rộng (rộng nhất là Sở) mà tài nguyên lại nhiều.

Các nước đó tổ chức những liên minh để đánh lẫn nhau. Có hai kế hoạch liên minh lớn nhất là kế hoạch “hợp tung” của Tô Tần và kế hoạch “liên hoành” của Trương Nghi. Tung có nghĩa là đường dọc, mà hoành có nghĩa là đường ngang. Các nước từ Bắc tới Nam, tức từ Yên đến Sở liên hợp với nhau thành một cái trục dọc để chống lại Tần, cho nên gọi là hợp tung. Để chống lại thế đó, Trương Nghi thuyết phục một số nước ở phía đông Tần cắt đất cầu hoà với Tần thành một trục ngang để đánh với các nước kia, cho nên gọi là liên hoành. Tới cuối thời Chiến Quốc, rốt cuộc các mâu thuẫn lần lần tập trung lại thành mâu thuẫn giữa Tần và sáu nước: Hàn, Nguỵ, Triệu, Yên, Tề, Sở.

Càng gần tới mãn cục thì chiến tranh càng khốc liệt mà tình cảnh càng bi đát: có nước bắt lính tới một phần năm dân số, ông già bảy chục tuổi cũng phải tòng quân, có nước thu thuế của dân tới hai phần ba huê lợi mới đủ nuôi quân đội. Trong khi đó, các chính khách, các nhà du thuyết bôn tẩu không ngớt từ nước này qua nước khác, tấp nập trên đường, xe ngựa nối nhau, tán lọng chạm nhau, vàng bạc châu báu tuôn ra để mua chuộc nhau, ly tán nhau, phản gián nhau.

Thời đó là thời “đánh nhau để tranh đất, giết người đầy đồng; đánh nhau để tranh thành, giết người đầy thành”[2], thời “không có bực thánh vương nào ra đời, các vua chư hầu thì phóng túng, bọn xử sĩ bàn ngang, luận càn”, thời “không dùng uy quyền thì không đứng được, không dùng thế lực thì không thi hành được chính trị”.

Sở dĩ có cảnh loạn lạc đó, là vì xã hội Trung Hoa đương biến chuyển mạnh về phương diện chính trị, văn hóa, kinh tế.

Cái thế ở đầu đời Chu (trong nước có cả ngàn chư hầu) chỉ tạm vững khi nhà Chu còn mạnh. Khi nhà Chu bắt đầu suy, dời đô qua phía đông thì các nước chư hầu tất tranh giành nhau, vua Chu can thiệp, ngăn cản không được, do đó có nước thì mạnh lên, có nước thì suy đi. Một nước mà suy thì tất có một bọn quí tộc mất địa vị. Muốn phục hồi địa vị, họ phải dùng những người tài giỏi về chính trị, quân sự, kinh tế, trong mọi giới, cả trong giới bình dân. Nhờ vậy mà bọn giai cấp sĩ phu, lần lần tranh được quyền hành của bọn quí tộc.

Đầu đời Chu, chỉ hạng quí tộc mới được cầm quyền, mới được học. Khi học sa sút mà thành bình dân thì trong giới bình dân bắt đầu có người học rộng. Khổng Tử là hạng người đó; ông đã mở phong trào tư nhân dạy học, bất kỳ giới nào xin vô học ông cũng nhận, và ông có công lớn trong sự khai hoá quần chúng. Đời sau, Mặc Tử, một triết gia trong giai cấp bình dân, tiếp tục công việc đó mà sự giảng học phát triển rất mạnh. Nhờ vậy, trong giai cấp bình dân, có nhiều người tài giỏi như Tô Tần, Trương Nghi, Cam Mậu, Phạm Tuy, Ngô Khởi, Bạch Khởi… Chính bọn này đã đóng vai trò quan trọng trong cái thế chiến quốc.

Lại thêm kinh tế mở mang cũng là một nguyên nhân thúc đẩy sự biến chuyển về chính trị nữa.

Dân số tăng lên (tổng số nhân khẩu thất quốc đời Đông Chu đã tới hai chục triệu), chế độ công điền, “thực ấp” hồi trước không còn hợp thời và nông dân oán trách bọn chủ nhân là “không cày không cấy mà lúa chứa đầy vựa”. Thương Ưởng một phần vì hiểu rõ sự thế tự nhiên của thời đại, một phần vì muốn khuếch trương kinh tế cho Tần được mạnh, cho nhân dân tự do khai khẩn (nông bản chủ nghĩa: coi Thương Quân thư, thiên Nông chiến và thiên Khẩu lệnh), do đó có một số bình dân thành phú gia, mà một khi địa vị đã cao thì quyền lợi cũng phải thay đổi, gây thêm một mâu thuẫn nữa trong xã hội.

Phương pháp canh tác cũng tiến bộ: thời Xuân Thu người ta đã biết dùng bò kéo cày, thời Chiến Quốc người ta đã chế tạo dụng cụ bằng sắt[3], nhờ vậy mà cày sâu hơn, nhanh hơn; người ta lại biết bỏ phân, làm hai mùa, đào kênh dẫn nước, tháo nước. Sự khẩn hoang (đặt biệt ở Tần) phát triển mạnh, và để khuếch trương công việc thuỷ lợi, bọn chủ điền muốn thống nhất đất đai, nhất là thống nhất những nước nhỏ cùng nằm trên một dòng sông[4].

Chính sách thực sản của Quản Trọng ở nước Tề (khai mỏ đúc tiền, nấu nước làm muối bể, phát triển công nghệ, lập kho lẫm…) có kết quả rất tốt, ảnh hưởng tới nhiều nước khác và làm cho nền kinh tế chung tiến thêm một bước nữa.

Thương mại cũng có thêm hiện tượng mới: những nơi như Hàm Dương ở Tần, Lâm Tri ở Tề, Hàm Đang ở Triệu, Đại Lương ở Nguỵ đều là những thành phố phát đạt về thương mại, dân chúng các nơi di cư lại thành một hạng thị dân. Bọn phú thương rất có thế lực, mua quan bán tước và bắt đầu tham gia chính trị, muốn phá bỏ biên giới giữ các nước chư hầu để cho giao thông và thương mại khỏi bị trở ngại. Sử còn chép những thương gia danh tiếng như Y Đốn (người nước Lỗ, thời Xuân Thu), Bạch Khuê (người nước Ngụ, thời Chiến Quốc), Phạm Lãi, Đoan Mộc Tứ (Tử Cống)… Họ chẳng những buôn hàng hoá mà có khi còn buôn vua nữa, như Lã Bất Vi.

Sau cùng còn tâm lý chung này nữa: làm dân một nước nhỏ thì phải chịu nhiều gánh nặng, nhiều điều điêu đứng khốn khổ trong thời loạn, cho nên ai cũng mong được làm dân một nước lớn, được thấy Trung Quốc thống nhất.
*

Trước cảnh loạn lạc ấy, làm sao vãn hồi được trật tự? Điều làm cho các triết gia Trung Hoa đời Chu thắc mắc. Đại loại có hai chủ trương:

Một chủ trương muốn giữ lại chế độ cũ, chế độ phong kiến, tăng uy quyền cho thiên tử, bắt các chư hầu phải phục tòng.

Một chủ trương muốn đập đổ chế độ cũ vì biết rằng nó không thể tồn tại được lâu nữa, mà lập một chế độ mới.

Theo chủ trương thứ nhất có Nho gia và Mặc gia. Mới đầu Khổng Tử muốn cứu vãn nhà Chu. Rồi sau, Mặc Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử thấy nhà Chu suy quá, bất lực quá, không thế cứu được, mong có một vị minh quân thay nhà Chu để thống nhất Trung Quốc mà thi hành chế độ cũ sau khi sửa đổi ít nhiều.

Rõ nhất là chủ trương của Mạnh Tử. Một lần Lương Tương Vương hỏi ông: “Khi nào thiên hạ yên định được?”. Ông đáp: “Khi nào thống nhất thiên hạ thì yên định được… và không ai thích giết người thì thống nhất được… Hiện nay trong thiên hạ chẳng có bậc chăn dân nào mà chẳng ham giết người. Nếu có một vị vua có lòng nhân chẳng ham giết người hại chúng thì mọi người trong thiên hạ sẽ quay đầu ngổng cổ trong về vị ấy” (Lương Huệ Vương). Nghĩa là ông chẳng tin nhà Chu nữa, muốn gặp bất kỳ một nhân quân nào biết theo đạo của ông để ông phò tá mà thống nhất thiên hạ.

Theo chủ trương thứ nhì có Đạo gia và Pháp gia. Đạo gia muốn dùng chính sách phóng nhiệm, giảm thiểu chính quyền, cứ theo tự nhiên như thời sơ khai; họ tin rằng khi không còn giai cấp thì sẽ hết loạn, chẳng thống nhất mà cũng như thống nhất. Như vậy phái này đả đảo một cái cựu (chế độ phong kiến) để về một cái cựu hơn (chế độ bộ lạc).

Pháp gia trái lại, không muốn trở về cái cựu mà muốn tiến tới một chế độ mới: họ muốn dùng chính sách độc tài, dùng vũ lực lật đổ chế độ phong kiến mà lập chế độ quân chủ chuyên chế. Họ cho đạo “vô vi” của Lão, Trang là hoang đường, họ muốn cực “hữu vi”; họ lại cho “vương đạo” của Khổng Mạnh chỉ làm cho quốc gia thêm loạn[5], nên họ chủ trương “bá đạo”.

Chỉ xét sự biến chuyển về ý nghĩa của hai tiếng vương, bá, ta cũng thấy được đại cương của sự biến chuyển về tư tưởng chính trị trong thời Đông Chu.

Suốt đời Xuân Thu, tiếng vương trỏ vua Chu, tiếng bá trỏ vị đứng đầu chư hầu, nghĩa là chỉ có sự phân biệt địa vị chứ tuyệt nhiên không có ý nghĩa gì về chính sách trị dân, về tư cách ông vua.

Qua thời Chiến Quốc, Mạnh Tử là người đầu tiên dùng hai tiếng đó làm danh từ chính trị: vương là chính sách dùng nhân nghĩa, bá là chính sách dùng sức mạnh mà trị dân. Trong thiên Công Tôn Sửu ông viết: “Người dùng sức mạnh mà mượn tiếng làm điều nhân là bá; người làm bá phải có nước lớn. Người lấy đức làm điều nhân là vương, người làm vương không đợi có nước lớn”.

Đời sau, Tuân Tử cũng theo nghĩa của Mạnh Tử, chỉ có khác một điều là Mạnh Tử trọng vương mà ghét bá, cho vương và bá là hai chính sách khác nhau, còn Tuân Tử thì không ghét hẳn bá, mặt dầu vẫn trọng vương.

Tới Hàn Phi, môn đệ của Tuân Tử, thì nghĩa của vương, bá đổi hẳn: ông vua nào giỏi dùng pháp, thuật mà có cái thế mạnh thì là vương, ông vua nào cũng dùng pháp, thuật mà thế không mạnh thì là bá; chính sách vương hay bá chỉ là một.

Hết thảy các nước đời Chiến Quốc đều theo chủ trương của Pháp gia.
*

Như trên, chúng tôi đã nói, trong số thất hùng, chỉ có Tần và Sở mạnh nhất, rồi tới Tề.

Tần nhờ địa thế hiểm trở (cửa Hàm Cốc khi mà đóng lại thì không đội binh nào qua được) nhờ đất đai rộng (Tần đã chiếm thêm được miền Ba Thục), nhờ dùng “biến pháp” của phái Pháp gia (Thương Ưởng, Lý Tư), nhờ tài cầm quân của Bạch Khởi, mà lần lần chiếm ưu thế về chính trị, kinh tế, quân sự, thôn tính các nước Hàn, Triệu, Nguỵ, rồi uy hiếp Sở. Sở đáng lý phải thay đổi chính sách trị nước, liên hiệp với Tề mà chống Tần, phải ủng hộ chính sách hợp tung mà phản đối chính sách liên hoành; nhưng từ vua tới quan, đều mờ ám, không nghĩ tới dân, tới nước, chỉ cầu an nhất thời nếu không phải là mưu tư lợi – Khuất Nguyên rất đau đớn về tình trạng đó – thành thử bị Tần diệt. Tướng Tần là Bạch Khởi, sau khi chiếm Sở, phân tích nguyên nhân thất bại của Sở như sau: “Vua (Sở) thì mê muội, cậy nước lớn, không để ý đến chính trị suy đồi; quần thần thì tranh quyền đoạt lợi, xu nịnh vua, hãm hại người trung, không sửa thành quách, không lo phòng thủ”.

Sở bị diệt rồi thì tới phiên Tề, và lúc đó ở Sơn Đông mọi người đều kinh khủng, lo cho thân phận của mình. Người ta nghĩ tới lời của Lỗ Trọng Liên (coi bài Triệu III 12), thấy cái nguy cơ sắp phải chịu cảnh lưỡi gươm Tần kề cổ, hốt hoảng hô hào một lần chót sự đoàn kết để chống Tần (coi bài Yên II 11), và tiếng kêu của thái tử nước Yên vang lên ai oán vô cùng (coi bài Yên III 5). Nhưng đã quá trễ. Vua Yên phải nhẫn tâm giết thái tử là Đan, dâng thủ cấp cho Tần Thuỷ Hoàng mà Tần Thuỷ Hoàng cũng không tha, san phẳng kinh đô Yên để kết thúc thời Chiến Quốc, mà hoàn thành công việc thống nhất Trung Quốc. Thế là “lục vương tất, tứ hải nhất”[6].


-----------
[1] Đoạn này chắc sách in sai. Trong Sử Trung Quốc, cụ Nguyễn Hiến Lê viết về thời Thất hùng như sau: Các sử gia cho thời Chiến Quốc bắt đầu từ năm 376 TrCN, năm mà nước Tấn bị ba đại phu chia nhau thành ba nước Ngụy, Triệu, Hàn. Sự thực thì biến cố đó không quan trọng gì mà xã hội Trung Hoa vẫn biến chuyển đều đều từ thời Đông Chu đến đầu đời Tần. Sự phát minh ra thuật nấu sắt vào khoảng 500 TrCN có ý nghĩa hơn nhiều như tôi đã trình bày ở trên. Kể cả ba nước Ngụy, Triệu, Hàn (sử gọi là Tam Tấn) mới thành lập đó thì đời Chiến Quốc có trên mười chư hầu, nhưng không kể những nước nhỏ như Tống, Lỗ, Trâu, Đằng, Trung Sơn... mà một số thành những nước phụ dung của các nước lớn, thì chỉ còn bảy nước đáng kể, sử gọi là Thất hùng: Yên, Tề, Hàn, Ngụy, Triệu, Sở và Tần”. (Goldfish).

[2] Tướng Tần là Bạch Khởi, một đêm giết tới 400.000 quân Triệu đã đầu hàng.

[3] Năm 513, Tần đã dùng sắt để đúc những đỉnh ghi hình luật.

[4] Đời Chu Tương Vương (thế kỷ thứ 7 trước Tây lịch), Tề Hoàn Công một lần triệu tập chư hầu ở Quí Khâu, thay mặt vua Chu mà tuyên cáo năm điều cấm kỵ của nhà Chu, mà hai điều quan trọng nhất là:
- Không được lấp dòng nước chảy.
- Không được cấm đong thóc.
Coi truyện “Tây Chu tháo nước cho Đông Chu” (phần trích dịch – Đông Chu 4) ta thấy vấn đề nước để trồng lúa quan trọng ra sao.

[5] Coi bài Tần 1, 2 đoạn Tô Tần thuyết Tần Huệ Vương và bài Trung Sơn 7.

[6] Đỗ Mục – A Phòng cung phú. Nghĩa là: sáu vua bị diệt, bốn bể thống nhất.
________________________________________

Bản đồ thời Chiến Quốc
(https://2img.net/h/i303.photobucket.com/albums/n...ochienquoc.jpg)

NGUỒN GỐC CHIẾN QUỐC SÁCH

Thời đại đó là thời đại quan trọng nhất trong lịch sử Trung Hoa, nên nhiều sử gia ghi lại; nhưng những bộ sử căn bản làm nguồn tài liệu cho đời sau thì rất ít.

- Vào đời Xuân Thu, ngoài bộ Xuân Thu của Khổng Tử, có những bộ:

Tả truyện, còn gọi là Tả thị Xuân Thu, một bộ sử biên niên chép tình hình ngoại giao, quân sự, chính trị của các nước từ 722 (đầu đời Lỗ Ấn Công) đến năm 478 trước Tây lịch (đời Lỗ Ai Công).

Quốc ngữ chép lịch sử tám nước: Chu, Lỗ, Tề, Tần, Trịnh, Sở, Ngô, Việt từ năm 990 (đời Tây Chu Mục Vương) đến năm 453 trước Tây lịch (Đời Đông Chu Định Vương).

- Về đời Chiến Quốc chỉ có mỗi bộ Chiến Quốc sách – thực ra chưa đáng gọi là sử - chép việc của mười một nước: Chu, Tần, Tề, Sở, Triệu, Nguỵ, Hàn, Yên, Tống, Vệ, Trung Sơn từ năm 453 (đời Đông Chu Định Vương) tới năm 221 trước Tây lịch (tức năm 16 đời Tần Thuỷ Hoàng, năm mà Tần diệt xong lục quốc và thống nhất Trung Hoa).

Một học giả gần đây của Trung Hoa, La Căn Trạch, căn cứ vào câu này trong Sử ký của Tư Mã Thiên: “Khoái Thông[1] giỏi về trường đoản thuyết, có tám mươi mốt bài luận thuật về quyền biến thời Chiến Quốc” mà khẳng định rằng Khoái Thông là tác giả Chiến Quốc sách. Nhưng thuyết đó chưa được nhiều người chấp nhận và hiện nay các sách viết về văn học sử Trung Quốc đều theo thuyết cổ: Chiến Quốc sách do nhiều người viết và Lưu Hướng thu thập, chỉnh lý, trễ lắm là năm 8 trước Tây lịch.

Lưu Hướng (78-Cool, tự Tử Chính, người đất Bái, là tôn thất nhà Hán, khoảng hai mươi mốt tuổi làm chức Gián Đại phu, dưới triều Tuyên Đế. Tính tình giản dị, không có uy nghi, ít giao du, chỉ thích sách vở, đúng là một học giả. Ông có tài văn chương (dâng mấy chục bài phú, tụng, được Tuyên Đế rất khen), giỏi về ngũ kinh, lại thích cả thiên văn, phương thuật, có lần dâng cách luyện kim, suýt bị tội gạt vua. Thời Nguyên Đế, ông ghét bọn ngoại thích chuyên quyền, tính can vua, nhưng bị chúng hãm hại, bị truất làm dân thường trong mười năm. Thời Thành Đế, ông lại được bổ dụng, mới đổi tên cũ là Cánh Sinh ra tên mới là Hướng, làm tới chức Quang lộc đại phu, lãnh việc hiệu đính ngũ kinh bí thư. Nhưng bọn ngoại thích họ Vương lại chuyên quyền, ông dâng thư can vua, vua hiểu lòng ông, muốn dùng ông làm chức Cửu khanh, mà bị họ Vương ngăn cản. Ông mất được mười ba năm thì Vương Mãng cướp ngôi ngà Hán.

Các sách (Từ Hải, Từ Nguyên, Trung Quốc văn học gia liệt truyện – Quang Hoa thư điếm) chỉ chép rằng ông lưu lại những tác phẩm: Hồng phạm ngũ hành truyện luận, Liệt nữ truyện, Liệt tiên truyện, Tân tự, Thuyết uyển, và ba mươi ba bài phú mà bài Cửu thán nổi danh nhất; không nhắc đến việc ông thu thập, chỉnh lý Chiến Quốc sách, có lẽ cho rằng công đó không đáng ghi chăng?

Nhưng ngày nay, còn lưu lại bài Tựa Chiến Quốc sách của ông, trong đó đại ý nói rằng khi thu thập các tài liệu, ông tìm được nhiều quyển sắp đặt lộn xộn, lại thấy tám thiên chép riêng về các nước, nhưng không đủ, ông bèn theo từng nước và theo thứ tự thời gian sắp đặt lại thành ba mươi ba thiên, hiệu đính lại nhiều chữ sai lầm. Các bản ông dùng có nhiều tên khác nhau: Quốc sách, Quốc sự, Đoản trường, Sự ngữ, Trường thư hoặc Tu thư; ông nghĩ rằng sách chép những mưu mô của bọn du sĩ thới Chiến Quốc, nên đặt tên là Chiến Quốc sách[2].

Theo bài tựa đó thì Chiến Quốc sách không phải của một người viết. Đọc qua một lượt, ai cũng nhận ra ngay rằng tác phẩm không thuần nhất, tất phải là công trình của nhiều tác giả.

Vì cùng một việc mà mỗi chỗ chép một khác.

Chẳng hạn truyện Tần tấn công Nghi Dương (đất của Hàn). Bài Tần II 7, chép rằng Phùng Chương khuyên vua Tần mua lòng Sở, đem Hán Trung hứa tặng Sở, để Sở Hàn đừng liên kết với nhau; còn bài Tần II 10, chép rằng Sở phản Tần mà liên kết với Hàn, vua Tần sợ, Cam Mậu bảo vua Tần không có gì đáng lo. Hai bài đó cách nhau có một trang, cũng chép việc xảy ra trước khi Tần chiếm được Nghi Dương, mà đã chép việc khác nhau như vậy. Còn một bài thứ ba nữa, bài Đông Chu 2, thì không chép gì về việc Sở liên kết với Hàn cả, mà Cảnh Thuý, tướng Sở, đi nước đôi để được cả thành của Tần lẫn bảo vật của Hàn. Những tài liệu đó không hẳn là mâu thuẫn nhau, nhưng nếu do một người viết tất đã gom lại để có sự nhất quán.

Lại thêm tên một vài người cũng không được nhất trí, chẳng hạn bài Đông Chu 21, chép là Xương Tha; bài Tây Chu 14, chép là Cung Tha; Giang Ất có chỗ chép là Giang Nhất hoặc Giang Doãn; Chu Tối có chỗ chép là Chu Tụ.

Bút pháp cũng không đều, điểm này chúng tôi sẽ xét riêng trong đoạn “Giá trị Chiến Quốc sách về phương diện văn học” ở dưới.
*

Vậy Chiến Quốc sách do nhiều người viết, điều đó đã hiển nhiên. Nhưng những người đó ở thời nào? Hồi xưa người ta cho rằng Chiến Quốc sách là tài liệu của sử quan các nước thời Chiến Quốc. Ngày nay đa số các học giả nghi ngờ thuyết đó vì hai lẽ:

Năm 213 trước Tây lịch, Tần Thuỷ Hoàng ra lệnh đốt các sách thời Tiên Tần để thống nhất tư tưởng, diệt tinh thần địa phương; mặc dầu sử chép rằng mỗi cuốn còn lưu lại một bản ở Gác Thạch Cừ (thư viện triều đình), nhưng những tài liệu về sử, nhất là những tài liệu có hại cho Tần, không chắc gì Tần đã chịu giữ lại.

Vả lại, xét về nội dung Chiến Quốc sách thì phần lớn không phải là tài liệu đáng tin về sử, mà có lẽ chỉ là những luận thuyết, biện thuyết dựa vào lịch sử mà viết; điểm này chúng tôi sẽ xét thêm ở một đoạn sau.

Vì vậy, hiện nay người ta tạm cho rằng Chiến Quốc sách do các chính khách hoặc các nhà văn học viết trước đời Tần và do Lưu Hướng thu thập, xếp đặt lại[3].

Nhưng chính bản của Lưu Hướng thì chúng tôi không thấy ai nhắc tới nữa, mà chỉ thấy nhắc tới những bản do người đời sau hiệu đính.

Trong bài Tựa cuốn Bạch thoại dịch giải Chiến Quốc sách độc bản của Diệp Ngọc Lân (Quảng Ích thư cục – 1947) có chép: “Những nhà hiệu đính Chiến Quốc sách thì Tăng và Diêu là đúng hơn cả; những nhà chú thích Chiến Quốc sách thì Bão và Ngô là minh bạch hơn cả”.

Tăng là Tăng Củng (1019-1073), một văn sĩ đời Tống, đồng thời với Vương An Thạch, Tô Thức, và cùng với hai người này, nổi tiếng về cổ văn, đứng vào hàng “bát đại gia” của Trung Quốc.

Diêu là Diêu Bá Thanh là một người đời Tống, đồng thời với Nhạc Phi.

Bão là Bão Bưu (chưa rõ đời nào).

Ngô là Ngô Sư Đạo, người đời Nguyên, thế kỷ 14.

Nhưng chính trong bài Tựa, Tăng Củng có nói Cao Dụ đã chú thích trước ông. Cao Dụ là người Đông Hán, ngoài bộ Chiến Quốc sách còn chú thích Hiếu kinh, Lã thị Xuân Thu, Hoài Nam Tử.

Ngoài ra còn rất nhiều người hiệu đính và chú thích nữa, theo bài Tựa bản Quảng Ích thư cục in gần đây thì bản Chiến Quốc sách chú của Vu Hương Thảo là công phu nhất, không bản nào hơn.

Những bản hiện nay người ta thường dùng là:

Chiến Quốc sách hiệu chú trong Tứ bộ tùng san – Thương vụ ấn thư quán – 1920-1922.

Trùng Khắc Diêm Xuyên Diêu thị bản Chiến Quốc sách – Sĩ Lễ Cư tùng thư.

Bạch thoại dịch giải Chiến Quốc sách của Diệp Ngọc Lân, in lại ở Hương Cảng sau năm 1960, không rõ năm nào. Bản này ít nhiều lỗi.

Chiến Quốc sách bổ chú của Vương Tăng Kỳ và Chu Nguyên Thiện – Thương vụ ấn thư quán – 1922.

Chiến Quốc sách tường chú của Quách Hi Phần – Vương Mậu xuất bản năm 1931.

Chiến Quốc sách tuyển giảng – Lưu Đức Huyên[4] xuất bản 1958. Nhiều chú giải thiên kiến.

Các học giả Nhật Bản cũng nghiên cứu Chiến Quốc sách như: Hoành Điền Duy Hiếu (Yokota Iko) có cuốn Chiến Quốc sách chính giải in lần đầu năm 1829.

Hộ Kỳ Đạm Viên (Tosaki Tan’en) có Chiến Quốc sách thảo thông in năm 1776.

Quan Quân Trường (Saki Kuncho) có Chiến Quốc sách Cao chú bổ chính in năm 1786.

Trung Tỉnh Lý Hiên (Nakai Riken) có Chiến Quốc sách chính giải[5].


-----------------
[1] Một người đầu đời Hán.

[2] Trong tập Cổ học tinh Hoa (Nxb Văn học – 2006, trang 69), Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân bảo: “Chiến Quốc sách: bộ sách này còn được gọi là Trường Đoản thư của Lưu Hướng đời Hán làm ghi chép những việc về đời Chiến Quốc”. Trong sách, chữ thư (Trường đoản thư) bị in sai thành như. (Goldfish).

[3] Chúng tôi nhận thấy có một số truyện trong Chiến Quốc sách gần y hệt (chỉ sai vài chữ) một số truyện trong hai thiên Thuyết lâm thượng và Thuyết lâm hạ của bộ Hàn Phi Tử.
Như các truyện:
- Trí Bá sách địa ư Nguỵ Hoàn từ (Nguỵ sách) [tức bài Nguỵ 1]
- Ôn nhân chi Chu (Đông Chu sách) [Đông Chu 10]
- Hữu hiến bất tử chi dược (Sở sách) [Sở IV 8]
- Nhạc Dương vi Nguỵ tướng (Nguỵ sách) [Nguỵ I 2] đều chép trong Thuyết lâm thượng.
và truyện:
- Tĩnh Quách Quân tương thành Tiết (Tề sách) [Tề I 3] chép trong Thuyết lâm hạ.
Vì vậy chúng tôi ngờ rằng người biên tập Chiến Quốc sách đã chép cả một số bài của Hàn Phi, nói cách khác, Hàn Phi cũng là một trong những tác giả của Chiến Quốc sách.
[Trong chú thích này, các chữ trong dấu [ ] do tôi thêm vào. (Goldfish)].

[4] Chỗ này Từ Hải và Khang Hi tự điển đều không có. Chúng tôi không biết đọc ra sao.

[5] Tài liệu đoạn này rút trong cuốn Intrigues của J.I. Crump, Jr (The University of Michigan Press -1964).
GIÁ TRỊ VỀ TÀI LIỆU LỊCH SỬ

Các sách văn học sử của Trung Hoa đều sắp Chiến Quốc sách vào loại tản văn lịch sử đời Tiên Tần, nhưng nhiều học giả cho rằng nên sắp nó vào các loại luận thuyết, đúng hơn vào loại biện thuyết, vì giá trị về tài liệu lịch sử của bộ đó rất kém.

Dưới đây chúng tôi xin tóm tắt ý kiến những học giả đó do Crump thu thập trong cuốn Intrigues.

Từ thế kỷ mười hai, đời Tống, Triều Công Vũ, trong cuốn Quận Trai độc thư chí đã cho rằng Chiến Quốc sách không chứa những thực lục (nghĩa là không biên chép các sự thực xảy ra trong triều đình, trong nước) nên không thể coi bộ đó là sử, mà chỉ nên coi là tác phẩm của bọn người theo phái tung hoành.

Phái tung hoành tức là bọn mưu sĩ đời Chiến Quốc như Tô Tần, Trương Nghi… Nhân vật quan trọng nhất trong Chiến Quốc sách là Tô Tần. Mà ngay nhân vật đó, một số học giả cũng cho là vị tất đã có thật, có lẽ chỉ là một nhân vật tiểu thuyết.

Đầu thế kỷ mười chín, Mã Quốc Hàn (1794-1857), đã thu thập tất cả các đoạn, bài trong Chiến Quốc sách và Sử ký (của Tư Mã Thiên) viết về Tô Tần, xếp đặt theo thứ tự để viết lại một cuốn đã thất truyền nhan đề là Tô Tử mà trả tiểu sử Tô Tần về khu vực văn chương, nếu không phải là khu vực tiểu thuyết.

Lưu Ngọc Thăng, cũng ở thế kỷ trước, còn trách Tư Mã Thiên là đã tạo nên tính tình và tư cách của Tô Tần.

Tề Tư Hoà phân tích các lời biện thuyết của Tô Tần, Trương Nghi và thấy nhiều chỗ sai niên đại, rồi cho rằng những lời đó không thể do Tô, Trương thốt ra, viết ra được, mà tất do những tung hoành gia đời sau chép.

Gần đây (1955), Dương Khoan bảo có nhân vật Tô Tần thật, nhưng những biện thuyết của Tô thì đều là của bọn tung hoành gia đời sau.

Có điều này đáng để ý là truyện Tô Tần tự biện hộ (Yên I 5), chép lại gần đúng trong truyện Tô Đại thuyết vua Yên (Yên I 3)[1]. Dưới đây chúng tôi xin trích trong mỗi truyện một đoạn để độc giả so sánh:

Truyện Yên I 5 chép:

“Hàng xóm của tôi có một người đi làm quan ở xa, người vợ cả ở nhà tư thông với kẻ khác. Khi người chồng sắp về, tình nhân của người vợ tỏ vẻ lo lắng, người vợ bảo: “Anh đừng lo, em đã chế một thứ rượu độc để sẵn cho hắn rồi”. Hai ngày sau người chồng về, người vợ cả sai người vợ bé bưng chén rượu dâng chồng. Người vợ bé biết là rượu có thuốc độc, dâng chồng thì là giết chồng mà nếu cho chồng hay thì người vợ cả sẽ bị đuổi, bèn làm bộ té, rượu đổ hết. Người chồng cả giận, lấy roi quất người vợ bé”.

Truyện Yên I 3 chép:

“Xưa (…) có người chồng đi làm quan ở xa ba năm không về nhà, người vợ cả có tình nhân. Người tình nhân này bảo: “Chồng của em mà về thì làm sao bây giờ?”. Đáp: “Anh đừng lo, em đã chế thứ rượu độc để sẵn cho hắn rồi”. Quả nhiên người chồng về, người vợ cả bèn sai vợ bé đem rượu độc dâng chồng. Người vợ bé biết là rượu độc, đương đi ngừng lại suy nghĩ: “Nếu đưa cho chồng ta uống thì là giết chồng; nếu cho chồng hay sự thực thì chị cả bị đuổi, sao bằng làm bộ vấp cho rượu đổ hết đi”. Rồi làm bộ té, đổ rượu. Người vợ cả bảo chồng: “Anh ở xa mới về cho nên chế thứ rượu ngon để dâng anh mà dì ấy té đánh đổ mất rồi”. Người chồng không biết đầu đuôi, trói người vợ bé mà quất”.

Vì có những chỗ trùng nhau như vậy, cho nên có người nghi rằng cả ba anh em họ Tô – Tần, Lệ, Đại – đều không có thật.

Nhưng đại chúng từ Tây Hán về trước cứ cho Tô Tần là có thực vì họ muốn tin là có thực. Họ muốn tin rằng có một nhân vật liên kết Lục quốc để chống nhà Tần mà họ ghét là độc tài, tàn nhẫn, không văn minh, lại có dã tâm xâm chiếm Trung Nguyên. Nhất là từ khi Tư Mã Thiên đem Tô Tần vô Sử ký, đề cao tư cách Tô Tần bằng giọng văn cảm khái, hùng hồn thì người đời sau chịu ảnh hưởng của ông, càng cho Tô Tần là có thật, Chiến Quốc sách là tín sử.

Ngoài ra, còn nhiều đoạn chép về những nhân vật khác cũng không đúng nữa. Theo Ngô Sư Đạo thì truyện Trâu Kị khuyên vua Tề nghe lời can (Tề I 12) là sai: không phải là Trâu Kị mà có lẽ là Điền Ba, người nước Tề. Trong Chiến Quốc sách dật văn khảo của Chư Tổ Cảnh có chép một truyện giống truyện đó rút trong bộ Tân tự mà nhân vật đẹp trai là Điền Ba. Lã thị Xuân Thu cũng chép một truyện đời Tề Mẫn Vương, ý nghĩa như vậy mà nhân vật là Liệt Tinh Tử Cao.

Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

CHIẾN QUỐC SÁCH Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH   CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Dec 01, 2010 4:25 pm


Theo Phượng Niên thì truyện Tần III 11 cũng sai vì khi Tần vây thành Hình, Trương Nghi đã chết rồi.

Những truyện chép về Lỗ Trọng Liên, một nhân vật lý tưởng trong Chiến Quốc sách cũng không đáng tin. Bài Mạnh Thường Quân không biết trọng kẻ sĩ (Tề IV 3) chứa một ý thường lặp đi lặp lại: phải thực tôn trọng kẻ sĩ thì kẻ sĩ mới hy sinh cho mình. Tác giả bài đó cho Lỗ Trọng Liên trách Mạnh Thường Quân là chưa thực trọng kẻ sĩ thì rõ là có giọng khắc nghiệt quá, e không đúng vì trong lịch sử Trung Quốc, Mạnh Thường Quân là nhân vật đáng khen nhất về đức chiêu hiền đãi sĩ.

Tiền Mục là người tố cáo mạnh nhất tính cách không xác thực về sử liệu của Chiến Quốc sách. Ông rán kiếm trong Sử ký một đoạn, đoạn Nhạc Nghị trả lời vua Yên[2], lại dẫn lời của Trương Văn Hổ (1808-1885) để chứng minh rằng thời Chiến Quốc, danh từ hợp tung không nhất định có nghĩa liên kết để chống Tần, mà chỉ có nghĩa là liên kết thôi, liên kết để chống Tề cũng gọi là hợp tung.

Chung Phượng Niên trong Quốc Sách khám nghiên (Bắc Kinh – 1936) cũng chủ trương rằng tự ý liên hợp vì cái lợi chung thì gọi là tung, ép buộc người ta theo mình là hoành. Tung do chữ tòng mà ra, có nghĩa là dọc, là thuận, theo; hoành có nghĩa là ngang, trái, nghịch với phép thường.

Khi các học giả Trung Hoa dẫn sách cổ để tranh luận với nhau về ý nghĩa các danh từ thì chúng ta chỉ thêm phân vân và cuộc tranh luận kéo dài hằng năm, không bên nào thuyết phục được bên nào.
*

Các học giả phương Tây cũng góp ý kiến vào vấn đề.

Maspéro trong bài Le roman de Sou Ts’in, Etudes Asiatiques 2 (1925), và trong Le roman historique dans la littérature chinoise de l’antiquité (1929), Mélanges posthumes 3 (1950), chứng minh rằng một phần lớn Chiến Quốc sách là tưởng tượng, tiểu thuyết; rằng nhân vật Tô Tần được hoan nghênh, nên tác giả tạo thêm hai nhân vật tưởng tượng Tô Lệ, Tô Đại cũng giỏi biện thuyết như Tô Tần; rằng cứ đối chiếu các niên đại về cái mà người ta gọi là chính sách hợp tung của Hàn, Nguỵ, Triệu, Tề, Yên để chống Tần với niên đại những việc xảy ra (theo Chiến Quốc sách) trong khi có chính sách hợp tung đó, thì cái trục hợp tung phải tan rã một năm trước khi nó thành lập! (Intrigues – 29).

Crump nhận rằng Chiến Quốc sách quả có chép những việc thực xảy ra như việc Lương Huệ Vương chiếm Hàm Đan, Tần đánh Nghi Dương, Yên đánh Tề, Tần đánh Hàm Đan, nhưng người chép truyện chỉ dựa một chút vào lịch sử rồi tưởng tượng thêm.

Chẳng hạn truyện Lương Huệ Vương chiếm Hàm Đan (coi bài Tề I 6), ông bảo nếu là thực lục thì không có hình thức như vậy. Có lý nào vua Tề là Điền Hầu muốn cứu Triệu mà lại đem quân đóng ở ngoài thành Hàm Đan trong khi Hàm Đan (kinh đô Triệu) bị Lương (tức Nguỵ) bao vây. Lại thêm thái độ của Đoàn Can Luân cũng lạ lùng: để vua Tề ra lệnh cho quân đóng ở ngoài thành Hàm Đan rồi sau mới bảo như vậy không có lợi, phải đem quân đánh Tương Lăng cho Lương mệt mỏi. Chẳng qua người viết muốn vạch rõ sự ngu muội của vua Tề mà bịa ra như vậy. Vả lại theo Crump, trong sử không chép tên Đoàn Can Luân, nhưng có chép hai người khác ở Đoàn Can – có lẽ là một châu thành của Lương – có liên lạc với triều đình Lương và một trong hai người đó có liên lạc với triều đình Tề.

Vậy tác giả truyện đó có dựa trên một sự kiện lịch sử và tạo thêm nhân vật Đoàn Can Luân để có vẻ đúng sự thực phần nào, dùng tên Đoàn Can đó để tỏ rằng mình biết chuyện chứ không phải là nói mò.

Truyện Đánh Nghi Dương (ba bài này Crump đánh số 66-10, 66-11, 66-12, chúng tôi đều bỏ) chép rất lộn xộn, khó hiểu; mà truyện Cam Mậu tấn công Nghi Dương (Tần II 6), nhân vật Hướng Thọ rõ là thừa.

Về việc Yên đánh Tề, ông cũng nghĩ như Ngô Sư Đạo rằng bài Lỗ Trọng Liên thuyết tướng Yên (Tề VI 2) và cả bài Lỗ Trọng Liên không chịu tôn vua Tần làm đế(Triệu III 12) nhất định không phải là sử liệu, chỉ là những bài văn luận thuyết hoặc biện thuyết. Trong Sử ký, Tư Mã Thiên chép trọn hai chuyện đó. Ngoài ra không nói gì thêm về Lỗ Trọng Liên. Nhân vật đó hiện ra như để đại diện cho Nho gia ở cuối thời Chiến Quốc, không có vẻ là một nhân vật lịch sử, một nhân vật thật.

Rồi Crump kết luận rằng Chiến Quốc sách không phải là một bộ sử mà chỉ là một bộ luận thuyết.

Tóm lại, các học giả đều đồng ý với Triều Công Vũ rằng Chiến Quốc sách không phải là thực lục, những truyện trong đó có dựa vào ít tài liệu lịch sử, nhưng không nên coi bộ đó là một bộ sử. Người ta chỉ còn phân vân ở điểm này, những nhân vật Tô Tần, Trương Nghi, có thực hay không. Một nhóm – số ít – cho là không có thực, như vậy Chiến Quốc sách gần như có vẻ tiểu thuyết và những bộ sử chép về thời đó phải viết lại vì không có Tô Tần, Trương Nghi thì không có cả chính sách hợp tung và liên hoành; một nhóm khác – số đông – cho rằng tài liệu trong Chiến Quốc sách tuy không đáng tin hẳn, nhưng Tô Tần, Trương Nghi có thực, chính sách hợp tung và liên hoành có thực. Hai nhà đó là thuỷ tổ của phái tung hoành gia, tức bọn ngoại giao mưu sĩ; phái này sau khi Tần bị diệt, vẫn còn, tức như Khoái Thông, tác giả 81 bài luận về quyền biến mà Tư Mã Thiên đã chép trong Sử ký. Tuy nhiên, những lời biện thuyết của Tô và Trương, phần nhiều do người đời sau thêm bớt, tưởng tượng.

Vậy chúng ta đừng nên coi Chiến Quốc sách là một tác phẩm của Sử-phái đời Tiên Tần[3] mà nên coi nó là tác phẩm của Luận-phái đời Tiên Tần hoặc đời Tây Hán; mà đọc Chiến Quốc sách chúng ta đừng nên tìm tài liệu lịch sử trong đó, chỉ nên tìm hiểu xã hội Trung Hoa, tư tưởng và chính sách của bọn chính khách, mưu sĩ thời Chiến Quốc, nhất là thưởng thức giá trị về nghệ thuật tự sự, luận thuyết, tức giá trị về văn học của bộ đó thôi.

Trước khi xét những giá trị đó, chúng tôi muốn nêu qua điểm thắc mắc này mà chúng tôi chưa thấy học giả nào bàn tới.

Tư Mã Thiên sanh năm 145 trước Tây lịch (trước Lưu Hướng), mất năm nào chưa rõ; bộ Sử ký của ông, đến đời Hán Tuyên Đế (73-49) được một người cháu ngoại tuyên bố.

Lưu Hướng thu thập Chiến Quốc sách hồi ông giữ chức Quang lộc đại phu, dưới triều Thành Đế; nghĩa là trong khoảng 32-8 trước Tây lịch. Như vậy Lưu Hướng có biết bộ Sử ký không? Chắc là không vì trong bài tựa Chiến Quốc sách không thấy ông nhắc tới.

Mà Sử ký và Chiến Quốc sách chép nhiều truyện giống nhau, chẳng hạn những truyện:

Vẽ rắn thêm chân (Tề II 4).

Đàm Thập Tử khuyên Mạnh Thường Quân nên quên oán (Tề IV 4).

Truyện Tô Tần (Tần I 2).

Tô Tần tự biện hộ (Yên I 5); hai bài chỉ khác nhau có ít chữ.

Lỗ Trọng Liên thuyết tướng Yên (Tề VI 2).

Lỗ Trọng Liên không chịu tôn vua Tần làm đế (Triệu III 12)

Điền Đan[4] và Kinh Kha (Yên III 5).



Như vậy tất hai bộ phải cùng chung một nguồn; nguồn đó là nguồn nào?


------------------
[1] Cũng nên so sánh hai truyện Tề III 3 và Triệu I 8: Tô Đại và Tô Tần đều dẫn truyện tượng đất và tượng gỗ để được tiếp kiến.

[2] Đoạn đó như sau, do Crump trích dẫn trong Intrigues trang 91:
…Và Yên Chiêu Vương hỏi (Nhạc Nghị) về việc đánh Tề. Nhạc Nghị đáp:
“Tề là một nước đời trước đã làm bá, đất rộng, dân đông, không dễ gì một mình đánh Tề được. Nếu đại vương muốn đánh Tề thì nên hợp lực với Triệu, Sở, Nguỵ…”.
Các nước chư hầu đều bất bình về thái độ ngạo mạn của Tề Mẫn Vương , và họ hăng hái hợp tung với Yên để đánh Tề.

[3] Trong cuốn Cổ văn Trung Quốc, chúng tôi đã sắp như vậy, là lầm – Nguyễn Hiến Lê.

[4] Tôi ngờ rằng Yên Đan bị in sai thành Điền Đan. Thái tử nước Yên tên là Đan nên được gọi là Yên Đan, ông họ Ki (chữ Ki còn đọc là Cơ) chứ không phải họ Điền.
XÃ HỘI TRUNG HOA TRONG CHIẾN QUỐC SÁCH

Tài liệu lịch sử trong Chiến Quốc sách tuy không đáng tin nhưng cũng cho ta hiểu được tình trạng xã hội Trung Hoa thời Đông Chu vì dù tác giả của bộ đó có tưởng tượng các mưu mô, các lời biện thuyết của bọn biện sĩ thì ít nhất cũng phải dựa một phần nào vào sự thực để không trái ngược với cảnh huống xã hội.

Thời Chiến Quốc là một thời đại loạn, mà trong thời loạn nào cũng có những sự đảo lộn về địa vị một vài hạng người và về một số giá trị tinh thần.

Sự đảo lộn về địa vị trong xã hội thời Chiến Quốc

Đầu đời Xuân Thu, Trung Hoa có ba giai cấp: giai cấp quí tộc nắm hết quyền trị dân, chỉ họ mới được học và có phương tiện để học, nếu họ có tội thì không bị hình phạt như giai cấp dưới; giai cấp thường dân, hầu hết là nông dân mà tình cảnh cũng giống tình cảnh nông nô ở châu Âu làm đế[1]; - sau cùng giai cấp nô lệ gồm những thường dân bị hình phạt và tù binh, dân chúng các nước bại trận[2].

Tới đời Chiến Quốc đã có nhiều sự thay đổi trong hai giai cấp trên. Trong giai cấp quí tộc, có những kẻ mạnh lên và có những kẻ suy vi, lần lần tụt xuống hàng thứ dân, thành thử trong giai cấp thứ dân có được một hạng người có học (Khổng Tử sinh trưởng trong tầng lớp quí tộc suy tàn). Nhất là từ khi Khổng Tử, Mặc Tử, Mạnh Tử gây phong trào giáo dục bình dân thì trong giới bình dân, có một hạng sĩ mà địa vị mỗi ngày mỗi lớn như đoạn dưới tôi sẽ xét.

Qua thế kỷ thứ 4 trước T.L, theo chính sách trung ương tập quyền, Thương Ưởng đã đánh những đòn mạnh nhất vào giai cấp quí tộc, tước lần quyền của họ. Ông lập chính sách khẩn hoang, cho dân chúng quyền làm chủ những đất mới họ có công khai thác, do đó thêm một bọn phú nông xuất hiện, bọn này với bọn phú thương sẽ tranh quyền với bọn quí tộc. Ông lại cả gan bãi bỏ cái tục quí tộc không bị hình phạt như thứ dân: thái tử Tần phạm phép nước, ông bảo: Mọi người không kể sang hèn đều bình đẳng về pháp luật, nhưng thái tử sẽ kế ngôi vua, không thể bắt thái tử chịu tội, thì bắt hai viên thái phó dạy thái tử phải chịu tội thay. Rồi ông thích chữ lên má hai viên này, và cắt mũi họ.

Đọc Chiến Quốc sách, ta thấy tác giả ít nhắc đến địa vị của hạng phú thương, không nhắc tới địa vị bọn nô lệ, mà nhắc nhiều tới địa vị của bọn vua chúa và của kẻ sĩ.

Trong bọn vua chúa, có một sự đảo lộn về địa vị: vua Chu tuy vẫn còn cái danh là thiên tử, tuy vẫn xưng vương nhưng đã mất hết cả quyền hành và thường bị chư hầu lấn hiếp.

Lưu Hướng đặt nhà Chu lên đầu sách (sau tới Tần, Tề, Sở: ba chư hầu mạnh nhất, cuối cùng là những chư hầu yếu nhất: Tống, Vệ, Trung Sơn) nhưng số bài về Chu rất ít, chỉ bằng một phần ba của Tần.

Coi trên bản đồ ở đầu sách[3], ta thấy đất Chu rất hẹp; đã vậy lại chia làm hai: Đông Chu và Tây Chu, mà hai nước đó lại có khi hục hặc với nhau (coi bài Đông Chu dữ Tây Chu chiến – Đông Chu 3 –chúng tôi không dịch), làm sao mà không bị chư hầu coi rẻ được.

Cho nên ở đầu sách, chúng ta đã thấy ngay Tần muốn phế Chu Hiển Vương để lên ngôi thiên tử (bài Tần đòi chín cái đỉnh của Chu – Đông Chu 1), rồi Triệu lấy tế điền của Chu (Đông Chu 17). Đã nghèo mà Chu phải tiếp tế cho Hàn, tiếp tế rồi sợ Sở giận (Đông Chu 7); một lần khác vì chứa một kẻ muốn ám sát tể tướng Hàn, sợ Hàn giận, vua Chu phải xin lỗi: Nước nhỏ đâu dám chứa kẻ thích khách…” (Đông Chu 23).

Đọc bài Vua nước nghèo nên lựa bề tôi ra sao? (Đông Chu 18), thấy tình cảnh Chu thật đáng thương: vì nghèo, nhà Chu muốn “thờ” các chư hầu cũng không được, thậm chí muốn dùng những kẻ sĩ có danh vọng cũng không được, họ khinh mà không thèm nhận chức tước của Chu, đành phải dùng kẻ sĩ cùng khốn vậy. Và ta thấy bọn mưu sĩ tài giỏi như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Tuy, Cam Mậu… chỉ bôn ba qua Tần, Tề, Sở… chứ không bao giờ tìm tới Chu[4].

Đời Xuân Thu, chỉ vua Chu mới được gọi là vương, còn các chư hầu dù mạnh, dù làm minh chủ, cũng chỉ gọi là bá, là công: Tề Hoàn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Công…; qua đời Chiến Quốc, vua nước chư hầu nào cũng là vương cả: Tần Huệ Vương, Tề Tuyên Vương, Sở Hoài Vương, Yên Chiêu Vương… Có lẽ như vậy mới thực là danh chính ngôn thuận, vì vua Chu đã biết thân phận, phải xử nhũn với các chư hầu, gọi nước mình là một ấp nhỏ (tệ ấp), thì gọi họ là bá, nghe sao được.

Đời Xuân Thu, đôi khi vị bá còn mượn danh thiên tử nhà Chu tập hợp chư hầu để mưu tính một việc có lợi riêng cho mình hoặc có lợi chung cho các chư hầu (như Tề Hoàn Công chín lần tập hợp chư hầu hoặc để tôn Chu, hoặc để phạt Lỗ…); qua đời Chiến Quốc, họ không thèm mượn danh nghĩa thiên tử nữa, cơ hồ như không biết có vua Chu nữa, mà vua Chu cũng chỉ cầu họ để yên cho mình giữ chín cái đỉnh thêm được năm nào hay năm ấy. Thậm chí tới các nhà trí thức, các triết gia (như Hàn Phi), các bậc quân tử (như Lỗ Trọng Liên, Nhan Súc) cũng quên hẳn nhà Chu, không một ai lên tiếng nhắc nhở thiên hạ trọng nhà Chu cả.

Về phương diện xã hội, một sự đảo lộn địa vị cũng không kém quan trọng là sự thăng tiến của hạng sĩ, và Chiến Quốc sách là bộ duy nhất đặc biệt chú ý tới hạng đó.

Đời Xuân Thu, đã có một ít người tài giỏi trong giai cấp bình dân nhảy lên địa vị cao, như Bách Lý Hề, Quản Trọng, Ninh Thích… Nhưng thời Chiến Quốc mới thực là hoàng kim thời đại của kẻ sĩ. Thời thế mỗi lúc một cấp bách, các vua chư hầu muốn tồn tại được thì phải dùng những người tài giỏi về chính trị, ngoại giao, kinh tế, võ bị… bất kỳ trong giai cấp nào: ngay các quí tộc như Mạnh Thường Quân, muốn giữ địa vị của mình cũng cần có nhiều kẻ sĩ làm quân sư, hoặc làm hậu thuẫn để cho nhà vua phải kính nể mình; vì vậy người ta đua nhau chiêu hiền đãi sĩ và như Crump đã nói trong Intrigues: “tiếng kêu bất tuyệt trong thời Chiến Quốc là biết phải biết dùng người”.

Ở đây chúng ta cần định nghĩa rõ thế nào là kẻ sĩ.

Thời Chiến Quốc, chữ sĩ trỏ bốn hạng người:

1. Học sĩ như các nhà theo Nho, Mặc, Lão.

2. Sách sĩ – cũng gọi là biện sĩ – tức các nhà giỏi biện luận, du thuyết bọn cần quyền, thường theo Danh gia, Pháp gia, như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Tuy…

3. Phương sĩ hoặc thuật sĩ gồm những Thiên văn gia, Y gia, Nông gia (ngày nay ta gọi là kỹ thuật gia), và những nhà chuyên về bói toán, nghiên cứu về âm dương, cách tu tiên, luyện đan.

4. Bọn thực khách rất đông và rất tạp của các quí tộc như Mạnh Thường Quân, Bình Nguyên Quân. Bọn này gồm các hiệp sĩ, cả những kẻ thích khách, tội phạm, sống bám vào chủ, chờ lúc nào chủ nhờ cậy việc gì thì làm, nhưng được coi như khách trong nhà (nên gọi là thực khách, chứ không thuộc hàng tôi tớ.

Trong cả bộ Chiến Quốc sách gồm bốn năm trăm truyện dài hoặc ngắn, chỉ có năm sáu truyện chép về hạng sĩ thứ nhất, hạng học sĩ, như truyện Lỗ Trọng Liên (Tề IV 3, Tề VI 2, Triệu III 12), về Mặc Tử (Tống 2)…; vài ba truyện về phương sĩ như truyện Biển Thước mắng vua Tần (Tần II 5), nếu muốn kể thêm những nhà quân sự đại tài như Bạch Khởi (Trung Sơn 10), Triệu Xa (Triệu III 1) thì cũng chỉ được bảy, tám truyện; một số nhiều hơn (một, hai chục) chép truyện các hiệp sĩ như Dư Nhượng (Triệu I 4), Nhiếp Chính (Hàn II 19)…; còn bao nhiêu toàn là chép mưu mô của bọn sách sĩ, bọn dùng ba tấc lưỡi mà lần lần chiếm địa vị của giai cấp quí tộc trong các triều đình, gây thành một giai cấp quan lại ở Tần và Hán sau này.
*

Bọn sách sĩ do hầu hết sinh trong giai cấp bình dân, hồi nhỏ sống trong hang cùng ngỏ hẻm, nhưng thông minh, có chí, quyết lập nên sự nghiệp.

Tô Tần là nhân vật điển hình cho bọn họ. Tô Tần có thể do óc tưởng tượng của tác giả tạo ra, nhưng cái tâm sự cùng những nỗi long đong thuở hàn vi, cảnh vinh hiển khi đắc chí kể trong truyện thì tất đúng sự thật.

Thuyết vua Tần mà thất bại, Tô Tần lủi thủi về nhà, “đùi quấn xà cạp, chân đi dép cỏ, đội sách, đeo đẫy, hình dung tiều tuỵ, mặt mày xanh xạm, có vẻ xấu hổ”. Bị cả nhà hất hủi, phẫn chí, ngay đêm đó Tô Tần lấy sách ra học, khi buồn ngủ thì tự cầm dùi đâm vào vế, máu chảy tới bàn chân, bảo: “Có lẽ nào du thuyết bọn vua chúa mà không làm cho họ đem vàng ngọc, gấm vóc tặng mình, đem chức khanh tướng tôn quí phong tặng mình không?” (Tần I 2). Có sách chép bọn biện sĩ học những cuốn binh pháp của Lã Vọng hoặc của Quỉ Cốc; chúng tôi ngờ rằng dù có học những sách đó chăng nữa thì họ cũng coi thêm những học thuyết của bọn Danh gia, Pháp gia, và công tự học của họ mới là quan trọng; họ phải nghiên cứu tình thế các nước, suy nghĩ về nghệ thuật thuyết phục bọn cầm quyền, tìm ra những mưu mô khác người, như vậy mới mong thành công được.

Khi tự xét là đủ sức làm cho bọn vua chúa phải đem vàng bạc gấm vóc tặng mình. Chức tước sang trọng phong mình rồi, họ mới lựa một nước nào mạnh để “thờ”.

Quan niệm quốc gia ở Trung Hoa thời đó rất phức tạp. Tuy có mấy nước, nhưng nước nào trên danh nghĩa cũng là bề tôi của nhà Chu cả, dân nước nào cũng là dân Trung Hoa cả. Tất nhiên, giữa Trung Nguyên như Chu, Hàn, Nguỵ, và những nước xa Trung Nguyên Tần, Sở, cũng có một sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục… và người Chu, Tề có thể coi người Sở là dã man; nhưng cả khi Tề đánh nhau với Sở chẳng hạn thì người Tề cũng không căm người Sở như trong thế chiến vừa rồi người Pháp căm người Đức. Số người ái quốc như Khuất Nguyên (thâm oán Tần, kẻ thù của nước mình) thực là hiếm, còn đại đa số, nhất là bọn biện sĩ thì có quan niệm “tứ hải” hơn; không phục vụ được ở nước mình thì phục vụ cho nước khác (trường hợp Thương Ưởng bỏ Vệ mà giúp Tần, Hàn Phi bỏ Hàn mà giúp Tần để sau Tần diệt luôn cả Hàn); phục vụ nước khác mà không được tin dùng như ý muốn thì lại kiếm nước khác nữa để phục vụ. Mà chính Khổng Tử, Mạnh Tử chẳng vậy ư?

Vậy bọn biện sĩ đó phải tìm hiểu kỹ tình hình mỗi nước, và phải bôn tẩu khắp các nước. Con đường công danh ở cái thời bọn quí tộc vẫn còn nắm mọi đặc ân đó, tuy thênh thang nhưng đâu phải là dễ dàng.

Bọn vua chúa chiêu hiền đãi sĩ thật đấy, nhưng dù có một “mũi nhọn” như Mao Toại, thì cũng phải vào trong một cái đẫy rồi mới ló đầu nhọn ra được. Mà làm cách nào để vào được một cái đẫy được đây?

Phải có người giới thiệu. Người đó phải trọng tài của mình mà không ghen với mình, lại rất tin mình, vì nếu mình làm bậy họ có thể bị tôi lây; tóm lại là phải gần như Quản Di Ngô với Bão Thúc Nha, mà trường hợp này thời nào cũng rất hiếm. Cho nên hầu hết các biện sĩ phải dùng phương pháp đút lót, phải ăn dằm nằm dề ở một quán trọ một kinh đô nào đó cả tháng, có khi cả năm, vung tiền ra mua chuộc những kẻ hầu cận nhà vua để xin được tiếp kiến. Khó tới nỗi Tô Tần phải trách vua Sở:

“Thức ăn ở Sở đắc như ngọc, củi đắt như quế, kẻ thông báo của nhà vua khó được thấy mặt như quỉ, mà nhà vua khó được yết kiến như Thượng Đế”. (Sở III 2).

Vì vậy mà lần đầu, Tô Tần lại yết kiến vua Tần, phải chầu chực đến nỗi rách chiếc áo cừu và tiêu hết trăm nén vàng[5].

Được yết kiến chưa chắc được thâu dụng (Tô Tần dâng thư mười lần mà không có kết quả). Được thâu dụng chưa chắc được trọng dụng.

Vì ngay thời đó cũng đã mật ít ruồi nhiều. Có một Mạnh Thường Quân mà có mấy ngàn thực khách! Cho nên bọn sĩ có khi phải dùng thuật để được chủ chú ý tới mình, cả những thuật trâng tráo như thuật Phùng Nguyên gõ vào kiếm mà hát để xin được ăn thịt, xin được ngồi xe. (Tề IV 1).

Được bọn quí tộc để ý rồi mới có thể trình bày kế hoạch của mình ra, và muốn cho kế hoạch của mình được dùng thì phải đánh át ảnh hưởng của bọn “phụ huynh” nhà vua. Bọn quí tộc cầm quyền ở triều đình, họ là bọn “cha anh” của vua, ảnh hưởng lớn tới chính sách của vua. Họ phần nhiều là bảo thủ, ghét những chính sách mới mẻ, lại muốn bám lấy quyền lợi, nên nghi kỵ bọn biện sĩ. Cho nên, Phạm Tuy phải dùng thuật làm thinh, vua Tần Chiêu Vương hỏi gì cũng chỉ “da, dạ”, bắt vua phải năn nỉ mình rồi mới thưa:

“Nay thần là người lạ tới đây, đối với đại vương còn là sơ tình, mà những điều thần muốn bày tỏ đều là để củ chính sự tình của vua tôi, xen vào tình cốt nhục của người; thần nguyện tỏ tấm lòng trung thành ngu muội mà chưa biết rõ lòng đại vương, vì vậy đại vương hỏi ba lần mà thần không dám đáp. Không phải thần sợ mà không dám nói; thần biết rằng hôm nay nói thì ngày mai sẽ bị giết, biết vậy nhưng thần không sợ chết (…); thần sợ là sau khi thần chết rồi, thiên hạ thấy thần tận trung mà thân bị giết, ai cũng câm miệng chùn chân, không dám tới giúp Tần nữa”.

Rồi Phạm Tuy thuyết một hồi cho vua Tần thấy cái nguy của bọn “cốt nhục” nhà vua tức bọn “phụ huynh”, bọn quí tộc cầm quyền, mà cương quyết truất phế thái hậu, đuổi Nhương Hầu, đày Cao Lăng, Kinh Dương (Tần III 9); lúc đó Phạm Tuy mới dám lãnh chức tướng quốc.

Trong Chiến Quốc sách ta thấy bọn biện sĩ sợ thế lực của bọn “phụ huynh” đó nhất. Tính mạng họ ở trong tay bọn này; ngày nào mà vua không dùng họ, nghe lời bọn phu huynh thì họ phải trốn đi nước khác nếu không thì chết, có khi trốn mà không thoát, rốt cuộc cũng bị phanh thây (trường hợp Thương Ưởng – Tần I 1). Cho nên họ luôn luôn nhắc vua phải trọng kẻ sĩ, tức trọng họ (coi truyện Vương Đẩu yết kiến Tề Tuyên Vương (Tề IV 6); truyện Nhan Súc thuyết Tề Tuyên Vương (Tề IV 5); truyện Yên Chiêu Vương chiêu hiền (Yên 11)…); nhắc vua chúa về cách dùng người theo tài năng, như bài Tiến hiền là việc khó nhất (Sở III 1); bài Coi quốc gia không bằng thước lụa (Triệu II 15); bài Lựa ngựa và lựa tướng quốc (Triệu IV 13); bài Vương Đẩu trách Tề Tuyên Vương coi quốc gia không bằng thước sa mỏng (Tề IV 6)[6]; đặc biệt nhất là bài Biển Thước mắng vua Tần (Tần II 5).

Crump cho rằng bài Biển Thước mắng vua Tần không đáng tin vì Biển Thước là một y sư đời Hiên Viên, chết trước đời Chiến Quốc đã mấy ngàn năm, làm sao nói chuyện với Tần Vũ Vương được, nhưng lại có người cho rằng đời Tần Vũ Vương có một y sư tên là Việt Nhân, rất có tài nên người đương thời gọi là Biển Thước. Ta không biết hư thực ra sao nhưng tâm lý trong truyện rất đúng. Vũ Vương đau, Biển Thước xin trị, kẻ tả hữu can vua đừng nghe lời Biển Thước, Biển Thước giận, mắng vua Tần:

“Đại vương vấn kế bực trí giả mà lại nghe lời kẻ ngu để hỏng việc. Điều đó đủ cho tôi thấy chính trị của nước Tần; chỉ vì một hành động của đại vương mà mất nước”.

Rõ ràng là lời cảnh cáo vua chúa phải dùng người tài năng chứ đừng dùng bọn quí tộc ngu dốt.

Bọn vua chúa thời nào cũng đa nghi: bọn biện sĩ mồm mép quá, làm sao mà tin cho được? Huống hồ đa số chỉ vì danh vì lợi, chứ chẳng có lý tưởng gì cả, nên có dùng họ cũng vẫn phải thận trọng. Vì vậy bọn biện sĩ lại phải thuyết phục nhà vua giữ chữ tín với bề tôi (truyện Cam Mậu sợ Tần Vũ Vương nghe lời gièm pha - Tần II 6); và ta thấy truyện Tăng Sâm giết người được nhắc đi nhắc lại hoài để răn vua đừng nghe lời gièm pha (Nghe riết rồi thì tin - Nguỵ II 17; Diêu Cố đáp vua Tần - Tần V Cool.

Đã phải đối phó với bọn quí tộc, các biện sĩ còn phải đối phó chính bọn họ với nhau nữa, vì chính bọn họ với nhau cũng thường gièm pha nhau, lừa gạt nhau, kèn cựa nhau, xô đẩy nhau, như Cam Mậu và Công Tôn Diễn (bài Vua Tần đuổi Công Tôn Diễn – Tần II 13), Công Tôn Hãn và Điền Kị (bài Công Tôn Hãn mưu hại Điền Kị - Tề I Cool… Phạm Tuy may mắn lắm mới gặp được một địch thủ tuy bẩy mình mà còn cho mình biết trước; Thái độ của Thái Trạch (cho Phạm Tuy hay rằng nên lui đi, nhường chỗ cho mình, kẻo hoạ tới thân) tuy chẳng đẹp gì nhưng là hiếm thấy trong giới biện sĩ thời đó (bài Thái Trạch thuyết Phạm Tuy – Tần III 17); vì tư cách đa số các biện sĩ đời Chiến Quốc – cũng như mọi thời loạn khác – rất bỉ ổi đến nỗi tác giả bài “Các kẻ sĩ trong thiên hạ tranh nhau” (Tần III 13), đã coi họ như một bầy chó tranh ăn:

“Tể tướng Tần là Ưng Hầu bảo vua Tần: “Đại vương đừng lo, thần xin giải tán họ (tức bọn sĩ theo chính sách hợp tung mà chống Tần). Kẻ sĩ trong thiên hạ không có gì oán Tần, họ họp nhau mà đánh Tần là mong được phú quí đấy thôi. Đại vương thấy bầy chó của đại vương không? Nằm thì cùng nằm, dậy thì cùng dậy, đi thì cùng đi, ngừng thì cùng ngừng, không cắn nhau. Nhưng ném cho chúng một khúc xương thì chúng vùng dậy mà nhe răng ra cắn nhau. Tại sao vậy? Tại tranh ăn”.”

-----------------
[1] Câu này chắc sách in thiếu. (Goldfish).

[2] Có lẽ nên kể thêm hạng quan nhân, giúp việc quí tộc (nhạc công, lễ quan và võ quan) sau này, khi thất thế, hợp với bọn thứ dân có học, thành giai cấp sĩ và hiệp sĩ.

[3] Bản in của Nxb Từ điển Bách Khoa không có bản đồ hay bất kỳ hình ảnh nào cà. (Goldfish).

[4] Ngay Khổng Tử và Mạnh Tử thời trước, bôn ba khắp các nước mà cũng không bao giờ tới Chu.

[5] Nguyên văn: giật là 24 lượng. Vậy 2400 lượng!

[6] Lời của Vương Đẩu trong bài Vương Đẩu yết kiến Tề Tuyên Vương (Tề IV 6): “Nhà vua lo việc nước và yêu dân không bằng yêu một thước sa mỏng”.
Vì sống trong một không khí xảo trá, phản phúc như vậy, nên người ta càng thấy tình tri kỷ là quí và người ta đề cao những hiệp sĩ như Dư Nhượng (Triệu I 4), Nhiếp Chính (Hàn II 19), Tề Mạo Biện (bài Tề Mạo Biện cứu tri kỷ - Tề I 5).

Dự Nhượng, Nhiếp Chính chỉ đáng là hiệp sĩ, bọn Lỗ Trọng Liên, Nhạc Nghị, Nhan Súc, Vương Đẩu[1] mới đáng là quân tử. Và Chiến Quốc sách được hậu Nho cho là lành mạnh, có tính cách răn đời, một phần cũng nhờ chép những chuyện của những kẻ sĩ quân tử đó.

Bọn biện sĩ khi lên như diều: một bước nhảy lên ghế tướng quốc như Tô Tần, Trương Nghi, Phạm Tuy… nhưng vì những lẽ trên – họ có nhiều kẻ thù trong bọn quí tộc và cả trong bọn họ, họ bị vua chúa nghi ngờ, họ không có lý tưởng, chỉ mưu danh và lợi – nên ít kẻ giữ được địa vị cho tới khi chết. Thương Ưởng bị phanh thây ở Tần, ngay đến Tô Tần cũng bị xé thây ở Tề, và Phạm Tuy đáng gọi là thức thời, biết rút lui đúng lúc mà được toàn mệnh.

Về phương diện đó, một số biện sĩ thất bại, nhưng về phương diện khác họ đã thành công: họ đã tự gây được một uy thế hiển hách, bắt giai cấp quí tộc phải nhận rõ giá trị của họ, phải chia sẻ quyền bính với họ, tuân lời họ.

Tô Tần, Trương Nghi du thuyết nước nào thì vua nước đó cũng ngoan ngoãn, khúm núm đáp:

“Quả nhân vụng tính, nay ông đem lời vua Triệu ban bảo cho, quả nhân xin đem xả tắc để theo kế hoạch hợp tung” (Tề Tuyên Vương đáp Tô Tần – Tề I 6), hoặc:

“Tề là nước hẻo lánh thô lậu ở trên bờ Đông Hải, chưa được nghe cái lợi lâu dài cho xả tắc. Nay quí khách vui lòng lại chỉ bảo cho, xin đem xả tắc để thờ Tần” (Tề Mẫn Vương đáp Trương Nghi – Tề I 17).

Vua Sở, vua Triệu, vua Yên… đều có cái giọng đó cả, “quả nhân xin kính cẩn…”, “nước quả nhân ở nới hẻo lánh…” (Sở); “quả nhân tuổi nhỏ…”, “quả nhân xin cắt đất để tạ tội cũ…” (Triệu)… Y như một điệp khúc ở cuối mỗi bài chép truyện Tô, Trương đi du thuyết chư hầu.

Có thể rằng người viết đã đề cao bọn biện sĩ mà tưởng tượng ra những lời đó, nhưng quả thực là kiến thức bọn vua chúa thường kém xa bọn biện sĩ, mà có vài kẻ rất đổi xuẩn ngốc nữa. Kẻ thì tin có thuốc bất tử (Sở IV Cool, kẻ thì bị Trương Nghi gạt tới hai lần liên tiếp (mới đầu Trương Nghi chối phăng rằng chỉ hứa cắt đất cho Sở Hoài Vương sáu dặm chứ không phải sáu trăm dặm - Tần II 1; Hoài Vương giận, đòi vua Tần phải nộp Trương Nghi, Trương Nghi ngang nhiên qua Sở, Hoài Vương bắt giam rồi mà sau lại thả, thả rồi thì lại tiếc – Sở II 4); có kẻ trách bề tôi, bề tôi cãi lại, gần như mắng lại mà chịu im (Tần I 12); ngu nhất là vua Yên tên Khoái, ham cái danh thánh hiền, nhường ngôi cho một kẻ bất tài để nước phải mất, thân phải chết (Yên I 12)… Họ ngu như vậy thì trách chi chẳng thành cục đất sét trong tay bọn biện sĩ mà bảo sao nghe vậy.

Bọn biện sĩ không phải là môn đệ của Khổng giáo, chính sách của họ ngược hẳn với nguyên tắc nhân trị (đấng nhân chủ dùng đức nhân mà trị dân) của Khổng giáo, họ dùng quyền thuật mà trị dân, nhưng chính sách họ đã mở đường cho giai cấp quan lại từ Tần, Hán trở đi, giúp cho chủ trương “tuyển hiền dữ năng” của Khổng giáo sớm thực hiện ở Trung Quốc, làm cho xã hội Trung Quốc bớt sự bất bình đẳng, tiến sớm hơn xã hội Âu Tây hai ngàn năm: ở Pháp, mãi đến năm 1848, người ta mới dùng thi cử để tuyển nhân tài (trước đó các chức vụ trong chính quyền đều do quí tộc nắm trọn), ở Trung Hoa thì từ thời Chiến Quốc, bọn bình dân có tài đã được giao cho những địa vị then chốt trong chính quyền, tới đời Hán lại có lệ dân đề cử người hiền tài (như chức hiếu liêm) lên triều đình, rồi từ đời Tuỳ trở đi, triều đình đặt ra các kỳ thi để tuyển quan lại, làm cho các học giả, triết gia Âu Tây ở thế kỷ 18 phải thán phục, nhận rằng Trung Quốc tiến trước họ rất xa.

Chiến Quốc sách chỉ chép hoạt động của kẻ sĩ mà ít chú ý tới hạng bình dân không có học, hạng nông dân. Nhưng đọc bài Triệu Uy Hậu hỏi thăm về nước Tề (Tề IV 7) và truyện Quán Châu khuyên Tề Tuyên Vương (Tề VI 3), ta cũng thấy rằng một số nhà cầm quyền thời đó cũng biết trọng dân: Triệu Uy Hậu hỏi thăm sứ giả của Tề về tình cảnh dân chúng Tề, rồi mới hỏi thăm về vua Tề, tức theo chủ trương “dân vi quí, quân vi khinh” của Mạnh Tử; Tề Tuyên Vương nghe theo ý kiến của Quán Châu (có sách cho Quán Châu là một dân thường ở chân núi, có sách lại bảo là một kẻ xỏ hạt châu[2] ở dưới hiên chỗ vua ngồi – dù theo thuyết nào thì cũng là một người bình dân ít học) – mà khéo cư xử với Điền Đan, như vậy là nhận rằng trong hạng thường dân cũng có những người sáng suốt.

Nhưng bên cạnh hai truyện đó còn biết bao truyện coi dân như cỏ rác, vua chúa chỉ tranh giành cướp đất của nhau, chẳng kể gì tới sinh mạng của dân cả. Đó là một chứng cớ rằng có sự đảo lộn về giá trị tinh thần mà chúng tôi sẽ xét dưới đây.
*

Sự đảo lộn về giá trị tinh thần thời Chiến Quốc

Xét sự đảo lộn về giá trị tinh thần thời Chiến Quốc tức là xét hành động, chính sách của bọn người làm mưa làm gió trên chính trường thời đó: bọn biện sĩ. Nhưng bọn này có thực chủ trương một đường lối, chính sách nào nhất định không?

Không kể những triết gia theo thuyết “vô vi”, “tuyệt thánh khí trí”, hoặc khuyên nhà cầm quyền trở về chế độ tự nhiên thời nguyên thuỷ, đừng can thiệp gì vào việc dân cả, như Lảo Tử; hoặc tiêu cực hơn nữa như Trang Tử, không chịu dự vào việc đời, không muốn nhắc tới việc đời, cứ tiêu dao ở cõi lục hợp (trời, đất, bốn phương), coi sinh tử như nhau, thịnh suy như nhau; trừ hạng “siêu quần độc thiện” đó ra, còn thì cuối đời Xuân Thu và đầu đời Chiến Quốc, các triết gia, chính khách đều tôn trọng một bảng giá trị gồm nhân, nghĩa, lễ, tín, đều đặt vương đạo lên trên bá đạo.

Mạnh Tử bênh vực những giá trị đó một cách hăng hái nhất. Ông cũng là một biện sĩ, có lẽ là biện sĩ nhiệt tâm, hùng hồn nhất đầu đời Chiến Quốc, nhưng ông không cầu danh lợi, chỉ cầu thực hiện được đạo của Khổng Tử, nên khác hẳn những biện sĩ đời sau và không ai gọi ông là một biện sĩ cả.

Ông rất ghét nghe người ta nói đến tiếng lợi, cho nên lần đầu yết kiến Lương Huệ Vương, nghe Huệ Vương hỏi: “Ông có điều gì làm lợi cho nước tôi không?”, ông gạt ngay: “Nhà vua hà tất phải nói lợi. Chỉ có nhân nghĩa mà thôi”.

Ông rất quả quyết, không chịu sự thoả hiệp nào cả - nguyên tắc là nguyên tắc – như khi Đái Doanh Chi nước Tống, nghe ông thuyết phục, xin hãy tạm giảm nhẹ thuế cho dân rồi năm sau sẽ bỏ hẳn, ông mắng ngay vào mặt, đại ý bảo rằng: có kẻ ăn cắp gà hàng xóm, biết vậy là trái, xin ăn cắp bớt đi, mỗi tháng một con thôi, rồi năm sau sẽ chừa hẳn, thì nghe có được hay không.

Mặc Tử khác Mạnh Tử ở điểm rất hay giảng về lợi, nhưng cái lợi của ông là cái lợi chung cho xã hội, chứ không phải cái tư lợi, rốt cuộc chủ trương của ông không khác của Mạnh Tử là mấy: lấy nhân, nghĩa mà trị dân (đạo nhân của ông tức đạo kiêm ái).

Cả hai đều ghét chiến tranh, Mạnh Tử bảo:

“Đánh nhau để tranh đất, giết người đầy đồng; đánh nhau để tranh thành, giết người đầy thành, như thế gọi là đem đất ăn thịt người, đem xử tử còn chưa hết tội”.

Còn Mặc Tử thì nói:

“Giết một người thì bảo là bất nghĩa, phải chịu một tử tội. Cứ theo đó mà suy, giết mười người thì bất nghĩa gấp mười, giết trăm người thì bất nghĩa gấp trăm, tất phải chịu trăm tử tội”.

Ý nghĩa hai lời đó y như nhau.

Càng tới cuối đời Chiến Quốc những giá trị đó càng bị khinh rẻ. Bọn biện sĩ chỉ xét tới cái lợi, cái lợi trước mắt, cái lợi cá nhân, cái lợi của họ và của ông vua họ thờ. Ba phần tư bộ Chiến Quốc sách, hoặc hơn nữa, chép toàn những mưu mô của bọn biện sĩ để tìm lợi. Những truyện đó nhiều quá không sao dẫn ra hết được. Ở trên chúng tôi đã kể một truyện kẻ sĩ trong thiên hạ tranh nhau vì lợi (Tần III 13); Lữ Bất Vi buôn vua vì lợi; các vua chư hầu liên kết với nhau rồi phản nhau vì lợi, người ta đề cử tướng quốc cũng vì lợi (Sở I 15, Sở II 1), vua giết bề tôi để cầu lợi (trường hợp vua Nguỵ và Phạm Toàn – Triệu IV 6); ngay đến hai biện sĩ nổi danh, đa tài nhất tức Tô Tần và Trương Nghi cũng chỉ ham danh lợi: Tô Tần dùng cái Sở học chỉ để được tặng vàng ngọc, gấm vóc, chức tước, bổng lộc; còn Trương Nghi thì gạt vua Sở Hoài Vương hiếu sắc để kiếm được một số vàng (Sở III 4).

Họ muốn bọn vua chúa tin dùng họ mà chính họ lại khuyên vua chúa đừng giữ chữ tín trong việc ngoại giao: Trương Nghi hứa cắt đất cho vua Sở sáu trăm dặm đất, rồi sau nuốt lời, bảo vua Sở nghe lầm sáu dặm thành sáu trăm dặm (Tần II 1); Phùng Chương cũng dùng thuật xảo trá đó với vua Sở (Tần II 7); Sở Tương Vương cũng nghe lời mưu sĩ mà nuốt lời hứa với Tề một cách quỉ quyệt (Sở II 7). Và còn nhiều truyện thất tín nữa, như truyện Chu Hân can vua Nguỵ đừng vô Tần (Nguỵ III 4), truyện Tôn Thần can Nguỵ đừng cắt đất cho Tần (Nguỵ III 5)…

Nếu bọn biện sĩ có một chính sách thì chỉ là chính sách đầu cơ: không nhơn nghĩa gì ráo, nước nào mạnh thì theo, theo để hễ nước đó chiếm được một nước khác thì kể công mà xin chia đất của nước bị diệt; nếu rủi mà thờ một nước yếu thì ăn hối lộ của nước mạnh mà khuyên vua cắt đất thờ nước mạnh.

Tô Tần phẫn uất về bọn đó lắm, mấy lần lớn tiếng mắng ở Sở:

“Cậy cái uy lực của Tần ở ngoài mà ở trong hiếp đáp vua mình để đòi vua cắt đất cho Tần, đại nghịch bất trung đến vậy là cùng cực (Sở I 16).

Rồi ở Triệu:

“Họ cầu hoà với Tần thì có thể xây cất đài cao, sửa sang cung đẹp (…) rồi khi có cái hoạ vì Tần thì bỏ mặc vua” (Triệu II 1).

Ở Nguỵ:

“Làm bề tôi cắt đất của vua để kết giao với nước ngoài, lầy trộm được cái công một ngày mà không nghĩ đến sao này ra sao, phá hoại của công mà làm của riêng, ở ngoài thì dựa vào uy thế của cường Tần để áp bách vua ở trong”, “rồi tới khi thình lình nước gặp tai hoạ thì họ chẳng chịu tội vạ gì cả” (Nguỵ I 9).

Nhưng chính Tô Tần muốn dụ vua các nước đó theo kế hoạch hợp tung cũng hứa dâng họ những sản phẩm, bảo vật cùng gái đẹp của nước mà Tô đương phụng sự. Cho nên thời đó đường cái nườm nượp xe ngựa của các sứ thần mà xe nào cũng chở đầy nhóc vàng bạc gấm vóc… Càng đọc Chiến Quốc sách, chúng ta càng thấy truyện xưa mà y hệt truyện ngày nay!

Tần Huệ Vương hiểu rõ tâm lý vị lợi, vị kỷ đó của thời đại, cho nên bảo Hàn Tuyền Tử:

“Chư hầu không thể hợp nhất được. Kế đó (kế hợp tung của Tô Tần) chỉ như cột chân gà với nhau khi người ta đậu một chỗ”.

Vì làm sao có thể đoàn kết với nhau khi người ta không có một lý tưởng, và ai nấy đều tìm cái lợi riêng của mình, cái lợi nhất thời? Cho nên khi Tần tỏ ra mạnh nhất trong số chư hầu, có cơ dựng được nghiệp đế thì có kẻ đề nghị mau mau sớm thờ Tần để hưởng công đầu (Hàn III 5):

“Là nước đầu tiên giúp cường quốc, ta được cái lợi là nếu cường quốc lập được vương nghiệp thì ta tất sẽ làm bá”.

Nhưng khi Tần dựng nghiệp đế thì chẳng có nước nào được làm bá cả, vì chư hầu bị diệt hết, còn cần gì đến ngôi bá nữa.
*

Nhưng đứng về một phương diện khác, ta phải nhận rằng bọn biện sĩ có tư tưởng tiến bộ.

Họ không tin hoặc tin rất ít ở thần quyền mà chỉ trọng nhân sự. Hạnh phúc con người là do con người tạo nên chứ không do trời đất, quỉ thần gì cả.

Trong toàn bộ Chiến Quốc sách, chỉ chép mỗi một truyện về đồng dao, truyện Tại sao Điền Đan không thắng được rợ Địch (Tề VI 5) mà lại không có tính cách mê tín. Đọc truyện đó, ai cũng thấy ngay rằng bài hát của đứa trẻ (đồng dao) nước Tề đó do một người lớn – biết đâu chừng chẳng phải là Lỗ Trọng Liên – đặt ra cho nó để tới tai Điền Đan mà Điền Đan phải lo sợ, quyết tâm hi sinh đánh rợ Địch.

Cũng chỉ có mỗi một truyện tả sự cảnh cáo của Trời, và có tính cách dị đoan, truyện Tề Mẫn Vương vì tàn bạo mà bị giết (Tề VI 1), nhưng người chép truyện không cho sự cảnh cáo đó là ý chính của truyện, vì kẻ viện sự cảnh cáo của Trời mà giết Mẫn Vương, sau bị dân Tề đâm chết để trả thù cho Mẫn Vương.

Ngoài ra còn có vài truyện về ma quỉ, truyện Tô Đại can Mạnh Thường Quân (Tề III 3), truyện Tô Tần thuyết Lý Đoái (Triệu I Cool, nhưng hai nhân vật trong hai truyện đó, Tô Đại và Tô Tần, giống nhau ở chỗ cùng nhắc tới thần đất và thần cây để đạt một mục đích là được tiếp kiến mà trình bày ý kiến của mình. Vậy thì hai nhân vật đó kể chuyện ma quỉ mà chỉ dùng một thuật trong phép biện thuyết. Vả lại Tô Tần và Tô Đại là hai anh em, chắc chắn là người này đã bắt chước người kia, thành thử tuy hai truyện, mà chỉ nên coi là một.

Ngay đến khoa bói, các biện sĩ cũng không tin; hơn nữa còn lợi dụng nó để thuyết phục, hoặc để hại người.

Trong truyện Triệu lấy tế điền của Chu (Đông Chu I 17), Trịnh Triệu đút lót cho một viên thái bốc nước Triệu để dùng môn bói gạt cho vua Triệu sợ quỉ thần mà trả lại tế điền cho Chu. Còn trong truyện Công Tôn Hãn hại Điền Kỵ (Tề I Cool thì thầy bói là một tên điểm chỉ, báo người bắt kẻ coi bói, kẻ này do Công Tôn Hãn sai đi để ngầm hại Điền Kị.
*

Không tin thần quyền, mà chỉ tin ở nhân sự, nhưng các biện sĩ cũng nhận rằng nhân sự không thể luôn luôn có kết quả được, rằng có thịnh có suy, biết rút lui khi thịnh tới tột bực mà sắp suy, mới là người khôn.

Ở trên chúng tôi đã dẫn truyện Thái Trạch đem thuyết thịnh suy hữu thời ra thuyết phục Phạm Tuy nhường chức tể tướng lại cho mình.

Truyện Vẽ rắn thêm chân (Tề II 4) cũng rất thú: Trần Chẩn nhờ thuyết đó mà làm cho tướng Sở là Chiêu Dương lui binh, do đó cứu được Nguỵ. Hai truyện nữa cũng có ý nghĩa gần như truyện đó là truyện Tần tấn công Nghi Dương (Đông Chu 2) và truyện Tô Lệ bày kế cho vua Chu khuyên Bạch Khởi đừng đánh Hàn (Tây Chu 6). Trong Trung Sơn 10, Bạch Khởi cũng biết cái lý không thể thắng trận hoài được nên khuyên Tần Chiêu Vương đừng đánh Triệu. Nội một việc sáng suốt, hiểu thời thế đó cũng đủ cho Bạch Khởi là một danh tướng trong thời Chiến Quốc rồi.

Ngoài ra còn ba bốn truyện nữa mà bọn biện sĩ dùng thuyết thịnh suy hữu thời để thuyết phục kẻ đối thoại: truyện lý thú nhất có lẽ là truyện Đàm Thập Tứ khuyên Mạnh Thường Quân nên quên oán (Tề IV 4), vì ai cũng có lúc thịnh lúc suy, khi thịnh thì người ta bu lại, khi suy thì người ta lảng ra, đó là thường tình; người ta cũng chẳng yêu chẳng ghét gì mình đâu, chỉ theo lợi của người ta thôi, cũng như, chẳng ai yêu ghét gì chợ, chỉ vì nhu cầu mua bán mà chợ sáng thì đông, chiều thì vắng. Mạnh Thường Quân hiểu được lời khuyên đó, đem chẻ những bảng tre khắc tên năm trăm người mà ông oán. Thuyết thịnh suy có thời không có tính cách dị đoan. Do nhận xét thiên nhiên và xã hội mà nhân loại bất kỳ nơi nào, thời nào, cũng rút ra được luật đó. Đạo Lão và Kinh Dịch đều nhắc tới và nhắc tới thường.

Vậy ta có thể nói rằng các biện sĩ đời Chiến Quốc rất có tinh thần tự cường và không tin dị đoan, như nhiều thời đại sau, chẳng hạn đời Tần và Hán.



---------
[1] Thái độ tự trọng, đến mức khinh bọn vua chúa, của Nhan Súc (Tề IV 5) và của Vương Đẩu (Tề IV 6) sao mà giống nhau thế, từ ý nghĩa đến ngôn ngữ.

[2] Trong cuốn Đắc nhân tâm, cụ Nguyễn Hiến Lê giảng thêm: “Quán châu: xỏ hạt châu”.
GIÁ TRỊ CHIẾN QUỐC SÁCH VỀ PHƯƠNG DIỆN VĂN HỌC

Có tới chín phần mười truyện trong Chiến Quốc sách chép những mưu mô xảo trá của bọn biện sĩ, tức môn đệ của phái danh gia, và một số pháp gia cực đoan, bọn chủ trương bá đạo – không, không được là bá đạo nữa, chỉ là vong quốc chi đạo, theo quan niệm của Mặc Tử - hoàn toàn ngược với vương đạo của Khổng, Mạnh, vậy mà các nhà nho từ Hán trở đi, bắt đầu là Lưu Hướng, rồi tới Tăng Củng, Vương Giác… đều coi trọng bộ đó, sưu tập, chú giải, hiệu đính, đề tựa, là tại sao?

Nhiều nhà nho đã đưa ra lý do, đại loại như sau:

Chiến Quốc sách là một bộ sử, thì người viết tất phải chép đủ những điều hay điều dở chứ không thể lựa được (Bảo Bưu).

Hành động, chính sách của bọn biện sĩ không đẹp nhưng muốn cho đời sau lấy đó ra răn mình thì trước hết phải chép ra đã, đập bỏ tấm gương thì lấy đâu ra mà soi? (Tăng Củng – Lý Cách Phi – Ngô Sư Đạo).

Huống hồ Chiến Quốc sách còn cả truyện của những nhân vật đáng gọi là kiệt sĩ như Lỗ Trọng Liên, Nhan Súc, Vương Đẩu, Dư Nhượng.

Vả lại bọn biện sĩ dù sao cũng là có tài cao, mưu kỳ, chuyển nguy thành an, chuyện của họ vui, rất đáng đọc (Lưu Hướng); mà những thuật thuyết phục, biện luận của họ cũng rất điêu luyện, đáng làm kiểu mẫu (Vương Giác).

Xét những lời phê bình đó, ta thấy Lưu Hướng có tinh thần khoáng đạt hơn nhiều nhà nho đời sau, nhận rằng Chiến Quốc sách có giá trị về văn học. Chính giá trị về văn học đó được các nhà khảo cứu ngày nay chú ý hơn cả. Họ đều bỏ phương diện luân lý, phương diện răn đời mà chỉ xét phương diện nghệ thuật, và đều nhận Chiến Quốc sách là một tác phẩm bất hủ, đáng trọng ngang với Tả truyện.

Trịnh Chấn Đạc trong Sáp đồ bản Trung Quốc văn học sử (Văn học cổ tịch hành xã – Bắc Kinh 1959) biết:

“Thời đại Chiến Quốc sách là một thời đại mới, mà thời đại cũ đã hoàn toàn bị lật đổ, bị huỷ diệt rồi, (cho nên) ngôn luận (trong Chiến Quốc sách) độc sáng, trực tiếp gồm những mưu cơ cảnh ngữ và những hùng biện lý thú. Những hành động (trong truyện) đều là dũng cảm, không có cái thói thủ cựu… nhờ vậy mà Chiến Quốc sách có một nội dung đặc sáng, không khác gì những bộ truyền kỳ của châu Âu thời Trung Cổ”.

Trung Quốc văn học sử của Viện Đại học Bắc Kinh (1959) khen:

“Mỗi đoạn trong Chiến Quốc sách là một cố sự hoàn chỉnh. Tình tiết, kết cấu, nhân vật chạm trổ rất linh động, tuy chỉ là phiến đoạn nhưng hoàn chỉnh, có cái phong vị tiểu thuyết”

Chúng tôi chưa hiểu vì lẽ gì mà thanh niên Trung Hoa trong khoảng 1920-1930 bỗng ham đọc bộ đó[1].

Các học giả phương Tây như Margouliès, Crump đều nhận rằng Chiến Quốc sách có nhiều truyện nghệ thuật rất cao, mặc dù tác phẩm không đều, không nhất trí.

Nhưng theo Cổ văn uyên giám, thì người mê Chiến Quốc sách nhất là Tô Tuân (1009-1066), cha của Tô Đông Pha. Tương truyền Tuân đi đâu cũng mang theo bộ đó, đọc đi đọc lại tới thuộc lòng, nhờ vậy mà ông có một giọng văn nghị luận mạnh mẽ, cổ kính, tinh luyện khiến cho Tăng Củng và Vương An Thạch phải phục.

Các nhà nho đề tựa Chiến Quốc sách mà chúng tôi đã nêu tên ở trên chắc cũng phải nhận rằng giá trị bộ đó chính ở phương diện nghệ thuật, nhưng có lẽ vì chủ trương văn dĩ tải đạo, nên không nói ra, hoặc có nói chỉ nói phơn phớt như Lưu Hướng. Dù họ không nói ra thì các nhà trích tuyển Cổ văn Trung Hoa cũng ngầm nói thay họ rồi.

Từ Cổ văn tích nghĩa, của Lâm Văn Minh (Lâm Tây Trọng – thế kỷ 17), tới Cổ văn từ loại toản, thế kỷ 19, Cổ văn uyên giám, Cổ văn quan chỉ, Cổ văn bình chú[2]… bộ nào cũng tuyển trên dưới hai chục bài trong Chiến Quốc sách.

Ở Pháp, Margouliès trích dịch non hai chục bài trong Anthologie raisonnée de la littérature chinois (1048) và trong Le Kou Wen Chinois (1926).

Ở Mỹ, B. Watson, trích dịch ba bài trong Early Chinese Literature và J.I. Crump, Jr trong Intrigues cũng trích dịch trên năm chục bài[3].

Có điều đáng chú ý là hai bài:

Tư Mã Thác bàn lẽ đánh Thục (Tần I 7)

Nhạc Nghị đáp Yên Chiêu Vương (Yên II 10)

Được mọi học giả Trung Hoa khen là hay.
*

Thuật miêu tả và tự sự.

Do tính chất của nội dung (chép mưu mô của bọn biện sĩ), Chiến Quốc sách thiên về tự sự hơn là miêu tả. Tuy nhiên trong tự sự, tác giả cũng thường xen những đoạn miêu tả cho câu chuyện thêm linh động, mà sự phân biệt tự sự và miêu tả nhiều khi cũng khó định được.

Thuật miêu tả cao nhất là trong Truyện Tô Tần (Tần I 2) và truyện Thái tử Đan và Kinh Kha (Yên III 5).

Truyện Tô Tần bố cục rất chặt chẽ, có hai phần dài gần ngang nhau và đối xứng nhau.

Phần trên chép sự thất bại của Tô Tần khi đem kế liên hoành ra thuyết Tần Huệ Vương. Lý luận cũng đã chặt chẽ (vạch những ưu điểm của Tần cho Tần Tin ở sự thành công, rồi dẫn những truyện đời trước để thuyết vua Tần dùng võ lực), nhưng Huệ Vương không có chí lớn, gạt đi, rốt cuộc Tô Tần mười lần dâng thư mà thất bại cả mười, tới nỗi:

“Áo cừu đen đã rách, trăm nén vàng đã tiêu hết, thiếu tiền chi dụng, phải bỏ Tần mà về quê nhà, đùi quấn xà cạp, chân đi dép cỏ, đeo đẫy, hình dung tiều tuỵ, mặt mày xanh xạm, có vẻ xấu hổ. Về tới nhà, vợ thản nhiên không rời khung cửi, chị không nấu cơm cho ăn, cha mẹ không hỏi han tới”.

Phần dưới chép sự thành công rực rỡ của Tô Tần. Tủi thân, kích phẫn, Tô Tần học thêm mấy năm nữa, rồi đi du thuyết các chư hầu, lần này đem kế hợp tung ra thuyết, được vua Triệu tán thành liền, phong làm tương quốc, ngồi xe cưỡi ngựa theo hầu vua Triệu mà liên kết lục quốc. Khi du thuyết Sở, ngang qua nhà ở Lạc Dương, thì:

“Cha mẹ Tô Tần hay tin, cọ nhà quét sân, bày nhạc đặt tiệc ra ngoài bốn chục dặm để đón rước, vợ chỉ dám liếc trộm nghe trộm, còn chị thì bò như rắn, lạy bốn lạy, quỳ xuống tạ tội”.

Mỗi chi tiết phần dưới đều tương phản với một chi tiết trong phần trên. Tô Tần tuy mưu mô, ham phú quí công danh, nhưng tương đối đứng đắn, đàng hoàng, không xảo trá, phản phúc, nghênh ngang như Trương Nghi.

Trương Nghi nuốt lời, gạt Sở, hứa cắt đất sáu trăm dặm, rồi lại chối, nói chỉ hứa có sáu dặm; lúc nghèo túng thì dám xoay tiền cả của hoàng hậu và ái phi của vua Sở mà vua Sở đành ngậm miệng (Sở III 4); lúc đắc thế, thay mặt vua Tần đi thuyết lục quốc thì dùng cái giọng doạ nạt, cơ hồ như bảo nếu không nghe tôi thì bị diệt đấy, đừng có trách là không báo trước (Triệu II 3, Yên I 6…). Tâm lý đó rất hợp với một vị tướng quốc của một nước mạnh; và nếu Tô Tần, Trương Nghi là những nhân vật tưởng tượng thì tác giả thực là khéo cho họ những tính tình, tâm lý khác nhau đó, vừa hợp với vai trò của họ, lại vừa gây cho ta mối thiện cảm với phe hợp tung và mối ác cảm với phe liên hoành[4].

Nhân vật Lỗ Trọng Liên chỉ xuất hiện ba bốn lần, nhưng để lại cho ta một ấn tượng sâu và đẹp. Khi Lỗ Trọng Liên can đảm vạch sự tàn bạo của Tần, nói khích Tân Viên Diễn, tướng của Nguỵ, khiến Tân Viên Diễn phải bỏ ý thờ Tần đi – nhờ vậy Tần không dám đánh Triệu nữa. Bình Nguyên Quân muốn phong Lỗ Trọng Liên, Lỗ ba lần từ chối:

“Kẻ sĩ sở dĩ đáng quí ở trong thiên hạ là vì giải trừ được hoạn nạn, cởi bỏ được mối rối loạn mà không nhận một chút báo đáp nào cả. Nếu nhận sự báo đáp thì thành con buôn rồi. Lỗ Trọng Liên tôi không nở làm như vậy”.

Rồi ông từ biệt Bình Nguyên Quân, tới chết không còn ai thấy ông nữa” (Triệu III 12).

Ta có cảm tưởng được ngắm ngôi sao chổi hiện lên rực rỡ trên nền trời rồi biến mất[5].

Những truyện Đường Thư không nhục sứ mệnh (Nguỵ IV 25), Phùng Uyên làm thực khách nhà Mạnh Thường Quân (Tề IV 1), Nhan Súc thuyết Tề Tuyên Vương (Tề IV 5), Dư Nhượng (Triệu IV), Nhiếp Chính (Hàn II 19)… cũng đều đạt tới mức cao về nghệ thuật kể truyện và miêu tả tính tình nhân vật, đều được chép lại gần đúng từng chi tiết, không sửa đổi thêm bớt bao nhiêu, trong những tác phẩm đời sau, chẳng hạn trong bộ Đông Chu liệt quốc.

Cảm động nhất là truyện Điền Đan và Kinh Kha (Yên III 5) đã được người đời sau viết lại thành tiểu thuyết hoặc dựng lại thành kịch[6]. Trong toàn bộ, truyện này dài nhất. Tần lúc đó đã diệt được Hàn, Nguỵ, đương tiến vào Triệu và sắp tới Yên. Đọc đoạn đầu ta thấy rõ nỗi lo lắng bồn chồn của thái tử Yên là Điền Đan; mấy lần xin quan thái phó tìm cho một kế nào để cứu nước:

“Mưu kế của thái phó mất nhiều thì giờ lắm, lòng tôi lo lắng, rối loạn, sợ không đợi được một khoảnh khắc khác nữa (…). Gấp quá rồi, vận mệnh Đan tôi quyết định lúc này đây, xin thái phó tính lại cho”.

Khi đã tìm được hiệp sĩ là Kinh Kha và Kinh Kha nhận qua uy hiếp vua Tần, uy hiếp không được thì giết, Điền Đan đối đãi với Kinh Kha còn hơn bề tôi đối với chúa: đích thân ngày ngày tới vấn an, cung cấp mọi vật trân kỳ, xe ngựa cùng mỹ nữ, và nóng lòng mong Kinh Kha qua Tần.

Cảnh Phàn Ô Kỳ chịu hy sinh, tự vẫn để Kinh Kha chặt đầu mình đem dâng Tần Thuỷ Hoàng đã là cảm động, mà cảnh dũng sĩ qua sông Dịch mới thê thảm làm sao:

“Thái tử (Điền Đan) cùng với khách khứa (…) đều chít khăn tang, bận đồ tang để tiễn đưa (Kinh Kha). Tới bờ sông Dịch, tế thần Đường sá rồi, Cao Tiệm Ly gảy cây đàn trúc[7], Kinh Kha ca để hoạ nhạc, thanh âm thê thảm, ai nghe cũng nhỏ lệ, sụt sùi. Rồi lại tiến lên trước mà ca rằng:

Gió hiu hắt hề, sông Dịch lạnh tê,
Tráng sĩ một đi hề, không trở về[8].

Lại ca một điệu khảng khái bi tráng, ai nấy đều trợn mắt, tóc dựng đứng, đâm lên mão, rồi mới lên xe đi, không hề ngoái cổ lại”.

Kinh Kha như đã đoán trước là sẽ thất bại, sẽ chết mà vẫn khảng khái ra đi để tạ lòng tri kỷ là Điền Đan. Và cái chết của Kinh Kha mới hiên ngang làm sao:

“…Kha bị hết thảy tám nhát (kiếm) tự biết là việc không thành, dựa cột mà cười, ngồi xoạc chân ra mà mắng vua Tần”.

Kết cục câu chuyện gây một mối hận môn đời: vua Yên phải giết con là Điền Đan để mong Tần tha tội cho mình, mà Tần cũng không tha. “Về sau bạn của Kinh Kha là Cao Tiệm Ly, gảy cây đàn trúc vào yết kiến Tần hoàng đế, lấy cây đàn đập Tần hoàng đế để báo thù cho Yên, đập không trúng, bị giết”.

Tác giả chỉ khách quan chép lại như vậy, không phê bình gì cả, vì có khéo phê bình tới đâu thì cũng chỉ làm cái việc vẽ rắn thêm chân, mà đứt mất cái mối cảm xúc triền miên của người đọc.

Trong các truyện khác, tác giả cũng giữ bút pháp đó: kể truyện thôi chứ không phê bình, đây cũng là một ưu điểm nữa của Chiến Quốc sách; trừ mười truyện như truyện Xúc Chiệp thuyết thái hậu nước Triệu (Triệu IV), tác giả chép thêm cảm tưởng của người đương thời, truyện Khéo ton hót (Nguỵ IV 23), truyện Lỗ Trọng Liên thuyết tướng Yên (Tề VI 2) tác giả đưa thêm ý kiến của mình, điểm này có thể chứng tỏ rằng Chiến Quốc sách do nhiều người viết[9].

Một vài nhà phê bình gần đây trách rằng các hiệp sĩ trong Chiến Quốc sách như Dự Nhượng, Nhiếp Chính, Kinh Kha… nặng tình tri kỷ hơn là tình quốc gia, họ chết cho tri kỷ chứ không cho tổ quốc. Chúng tôi nghĩ rằng chính điểm đó làm cho Chiến Quốc sách có một cái hương vị thời xưa, khác hẳn những chuyện đời sau. Như chúng tôi đã nói, ở Trung Quốc thời Chiến Quốc, tinh thần quốc gia khác hẳn tinh thần quốc gia của chúng ta ngày nay, không nên đem quan niệm của ta mà xét quan niệm của người xưa. Mà cái tình tri kỷ của cổ nhân nay đã không còn nữa, thì ta nên quí người xưa ở chỗ khác ta hay ở chỗ giống ta?

Về phương diện thể văn, có tác giả như Arthur
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

CHIẾN QUỐC SÁCH Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH   CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Dec 01, 2010 4:27 pm

* Một cách dễ thuyết phục nhất là đặt câu hỏi để người đối thoại của mình tìm những câu đáp rồi lần lần tự nhiên phải chấp nhận kết luận mà mình muốn đưa ra. Ở Hy Lạp thời xưa, Socrate chuyên dùng cách đó mà nổi danh. Mạnh Tử cũng có lúc dùng nó, chẳng hạn trong đoạn ông bác thuyết của Hứa Hành (Hứa Hành chủ trương rằng mọi người từ vua tới dân đều cày ruộng lấy mà ăn thì xã hội sẽ hết loạn) trong chương Đằng Văn Công – thượng.

Trong Chiến Quốc sách, chúng tôi chỉ thấy hai ba bài áp dụng thuật đó. Đáng coi là mẫu mực là bài Nguỵ IV 3[2]. Vua Nguỵ muốn đánh Hàn, Trương Mao hỏi:

“- Hàn sẽ ngồi đó đợi lúc bị diệt chăng? Hay sẽ cắt đất mà theo nước khác?

Vua Nguỵ đáp:

- Sẽ cắt đất mà theo nước khác.

- Hàn oán Nguỵ hay oán Tần?

- Oán Nguỵ.

- Hàn cho Tần là mạnh hay Nguỵ là mạnh?

- Cho Tần là mạnh.

- Hàn sẽ cắt đất mà theo nước mạnh mà mình không oán hay là cắt đất mà theo nước không mạnh mà mình oán?”.

Chỉ đặt bốn câu hỏi như trên mà Trương Mao làm cho vua Nguỵ bỏ cái ý đánh Hàn.

* Một cách nữa, cũng có công hiệu mạnh là lối song đề (dilemme), chỉ cho đối thoại thấy hai trường hợp, giải pháp, một có lợi một có hai, một có lý một vô lý để họ tự lựa lấy. Truyện Thuốc bất tử (Sở IV Cool viết thật tài tình. Thời Chiến Quốc và thời Tần, một môn phái đạo Lão bỏ phần triết lý mà thiên về phép luyện đan để được thành tiên; bọn vua chúa tin thuật đó lắm, như Sở Khoảnh Tương Vương và Tần Thuỷ Hoàng.

Một kẻ dâng thuốc cho Khoảnh Tương Vương. Một người lính thị vệ muốn can, biết rằng biện luận gì cũng không đánh đổ nổi lòng tin của vua, nghĩ ra một kế, giật lấy thuốc mà uống. Vua Sở nổi giận, sai người đem chém, như vậy mắc mưu rồi. Đã là thuốc bất tử, uống vào thì còn làm sao chết được nữa. Đã ra lệnh chém, tức thị là ngờ công hiệu của thuốc. Ngờ mà còn dùng, thái độ đó thật vô lý. Và vua Sở đã nhận ngay ra được rằng kẻ dâng thuốc chỉ là lừa gạt, mà tha cho người thị vệ.

Các biện sĩ thường dùng phép song đề đó để thuyết phục người đối thoại.

Tề, Sở đánh nhau, Tống muốn trung lập, nhưng bị Tề ép buộc, nên phải hứa giúp Tề. Tử Tượng, sứ giả của Sở, thuyết vua Tống: Tề áp bức Tống mà Tống theo Tề, đánh Sở. Một là Tề và Tống thắng thì Tề sẽ quen mùi, lần sau lại áp bức Tống nữa, như vậy có lợi gì cho Tống không? Hai là nếu Tề và Tống mà thua Sở thì Sở tất trả thù Tống, càng có hai cho Tống.

Vậy thì trong hai giải pháp: Tống giúp Tề với Tống trung lập, giải pháp nào hơn? (Sở I 1)[3].

Hai bài Trung Sơn 5 và 6 đều chép về nàng Âm Giản, ý nghĩa như nhau nhưng bài 6 dài hơn, nhiều tình tiết hơn, có nghệ thuật hơn.

Nàng Âm Giản, một sủng phi của vua Trung Sơn, ghét tướng quốc Tư Mã Hi, Điền Giản bày kế cho Tư Mã Hi:

Đẩy nàng Âm Giản đi, nếu không được thì giúp nàng khuyên vua Trung Sơn lập nàng làm chánh cung.

Tư Mã Hi tìm cách làm cho vua Triệu biết rằng nàng Âm Giản rất đẹp. Vua Tề ngỏ ý với vua Trung Sơn để xin nàng. Vua Trung Sơn rất khó nghĩ: cho thì nhục, không cho thì nguy vì Triệu mạnh hơn Trung Sơn.

Tư Mã Hi bèn khuyên vua Trung Sơn lập nàng Âm Giản làm chánh phi, vua Triệu không còn lý do gì để xin nàng Ân Giản nữa, và nàng mang ơn Tư Mã Hi từ đó.

Còn nhiều bài khác nữa như Tần III 11, Sở I 5… Ngay cả trong những bài Tô Tần, Trương Nghi thuyết các vua chư hầu theo hợp tung hay liên hoành, họ cũng đưa ra giải pháp – tung hay hoành – và theo giải pháp nào thì có lợi ra sao, không theo thì có hại ra sao… Như vậy là đối chiếu hai giải pháp, hai hoàn cảnh, người nghe dễ nhận thấy chính đề và phản đề, dễ bị thuyết phục.

Một số học giả cho rằng chính vì Chiến Quốc sách thường dùng thuật đó nên còn có tên là Trường đoản.

Ở trên chúng tôi đã nói trong bài Tựa của Chiến Quốc sách, Lưu Hướng bảo những tài liệu ông thu thập được mang nhiều tên, mà trong những tên đó có nhan đề là Trường đoản.

Sử ký cũng có đoạn chép rằng Khoái Thông giỏi về trường đoản thuyết và viết 81 bài luận về quyền biến, La Căn Trạch căn cứ vào đoạn đó mà bảo tác giả Chiến Quốc sách chính là Khoái Thông.

Hai chữ Trường đoản đó làm cho nhiều học giả thắc mắc và một số cho rằng trường đoản vốn có nghĩa là dài, ngắn, sau dùng trỏ cái tốt, cái xấu (sở trường, sở đoản của một người, một giải pháp…) và Chiến Quốc sách chép những biện thuyết tức những bài vạch cái tốt cái xấu của các mưu mô, giải pháp, nên có tên là Trường đoản. Có học giả lại bảo trường trỏ chính sách hợp tung vì nó tốt (chống kẻ tàn bạo là Tần), đoản trỏ chính sách liên hoành vì nó xấu (về phe kẻ tàn bạo). Từ những nghĩa đó, trường đoản chuyển qua nghĩa thuật biện thuyết (coi trong Intrigues, chương IX). Những lối giải thích đó đều gò ép ít nhiều. Có thể rằng “trường đoản” chỉ biểu thị ý nghĩa đối lập, tương phản, như khi bàn về Dịch, người ta vẫn dùng trường đoản (hay đại tiểu) để thay âm dương, cương nhu.

* Dùng ngụ ngôn. Mạnh Tử đã dùng cách này, như khi ông kể truyện người Tống nhớm mạ lên cho mau lớn và chuyện người nước Tề có hai vợ. Có tài nhất là Trang Tử. Sức tưởng tượng của ông phong phú lạ lùng và bộ Nam Hoa kinh đầu những truyện ngụ ngôn lý thú, như truyện Bào Đinh mổ bò, hoặc quái đản mà cực sâu sắc như hai chuyện hai “quốc gia” sinh vật cực nhỏ sống trên hai sừng con ốc sên, đánh nhau nửa tháng, thây chết hàng vạn…[4]

Chiến Quốc sách nghệ thuật không bằng Nam Hoa kinh, nhưng cũng chứa nhiều ngụ ngôn bất hủ như truyện Trai, sò găng nhau, chỉ lợi ông chài (Yên II 13), truyện Vẽ rắn thêm chân (Tề II 4), truyện Cáo mượn oai cọp (Sở I 3)…

Có hai truyện ngụ ngôn nữa ý nghĩa như truyện Trai, sò găng nhau, chỉ lợi ông chài tức truyện Chó đuổi thỏ, nông phu bắt được cả hai (Tề III 11) và truyện Trần Chẩn thuyết vua Tần: hai cọp tranh nhau một người (Tần II 2), đều là khuyên để hai nước đánh nhau, mình đứng ngoài mà thủ lợi.

Có khi tác giả không dùng ngụ ngôn mà dùng một tỉ dụ có tác dụng như ngụ ngôn. Truyện Nghe riết rồi tin (Nguỵ II 17), Bàng Thông bảo vua Nguỵ đại ý rằng: ở chợ không có hổ, lẽ đó hiển nhiên, nhưng nếu một người bảo, rồi hai người bảo, rồi ba người bảo thấy hổ ở chợ, thì tự nhiên lòng tin của người ta phải lung lay.

Muốn cho vua chúa tin dùng mình, các biện sĩ thường phải dẫn tâm lý chung đó ra để ngăn họ đừng nghe lời gièm pha. Lần đó Bàng Thông kể chuyện cọp ở chợ; lần khác Cam Mậu nhắc lại cố sự Tăng Sâm giết người: Tăng Sâm vốn là một người rất hiền hậu, học trò của Khổng Tử, mẹ Tăng Sâm rất tin con, vậy mà khi có một người, rồi hai, rồi ba người chạy tới bảo Tăng Sâm giết người, bà cụ đâm hoảng, trèo tường mà trốn (Tần II 6).

Ngụ ngôn người nước Sở ghẹo hai người đàn bà, một người thuận, một người mắng lại, rồi sau hỏi cưới người đàn bà đã mắng lại mình (Trần Chẩn lại đáp vua Tần – Tần I 12) cũng thường được dùng để thuyết phục nhà cầm quyền tin mình.

Nhiều khi lời biện thuyết có giọng ai oán. Tận trung mà van bị nghi ngờ, Trần Chẩn phải dẫn truyện Hiếu Kỷ hết lòng thờ cha mà bị cha đuổi đi (vì nghe lời vợ kế) rồi chết ở xa nhà, Ngũ Tử Tư hết lòng thờ vua Ngô mà bị vua Ngô đem bêu đầu (Tần I 11). Còn Diêu Cổ lập được công với vua Tần mà bị gièm pha, bị vua Tần nghi ngờ, cũng phải dẫn truyện Tăng Sâm và Ngũ Tử Tư để giải bày lòng mình (Tần V Cool.

Vậy thì cái đạo “thờ người” cũng khó thật. Trách chi chẳng có người thích con rùa lê đuôi trong bùn của Trang Chu.

Một truyện ngụ ngôn cảm động là chuyện Bá Nhạc và con ngựa kí (Sở IV 11) tả nổi khát khao gặp tri kỷ của những kẻ có tài mà không được ai biết tới.

“Khi con ngựa kí tới tuổi già, người ta bắt nó kéo xe muối lên núi Thái Hàng, móng nó duỗi ra, đầu gối nó khuỵu lại, đuôi nó, chân nó mồ hôi đầm đìa, rỏ giọt xuống đất, trộn với mồ hô trắng. Giữa dốc nó thụt lùi, (rán) đội càng xe lên nhưng không leo được nữa, Bá Nhạc gặp nó, xuống xe, vịn (ôm) đầu nó mà khóc, cởi áo mà phủ cho nó; nó cúi đầu xuống mà phì hơi ra, ngửng cổ lên mà hí, tiếng hí động tới trời, trong trẽo như tiếng kim thạch”.

Truyện đó nhắc ta nhớ tới chuyện mua đầu ngựa (Yên I 10). Cũng đem loài ngựa giỏi ra để làm tỉ dụ, mà hai truyện ý nghĩa ngược nhau; gặp người giỏi mà không dùng, với muốn có người giỏi mà phải đi tìm khắp nơi.

Cũng có khi các biện sĩ không dùng ngụ ngôn, không dùng cố sự hay tỉ dụ mà lấy ngay chuyện mình để can vua, như bài Trâu Kị khuyên vua Tề nghe lời can gián (Tề I 12).

Bài Trang Tân khuyên Sở Tương Vương (Sở I 12) chứa một ngụ ngôn có cái giọng của Trang Tử. Con chuồn chuồn, con se sẻ, con hộc vàng trong truyện đó làm ta liên tưởng tới truyện con ve, con bọ ngựa, con chim khách của Trang[5]. Một bên vì mãi vui mà quên thân, một bên vì lợi mà quên thân. Ý nghĩa đều sâu sắc mà kỷ thuật cũng giống nhau: đều dùng loài vật với người, đều theo phép tiệm tiến, từ những nhân vật nhỏ tiến tới những nhân vật lớn, sau cùng tới bản thân kẻ đối thoại.

Chúng tôi mới kể vài ngụ ngôn chính, còn nhiều nữa như Nguỵ IV 16, Yên I 5… Xét chung thì về mặt ngụ ngôn, Chiến Quốc sách tuy kém Nam Hoa kinh[6] nhưng hơn hẳn Mạnh Tử.

Có một truyện mà tôi hơi lấy làm lạ, vì nó lẻ loi và lạc lỏng trong Chiến Quốc sách, truyện Mặc Tử can vua Sở đừng đánh Tống (Tống 2). Mặc Tử sanh trước Mạnh Tử, chép cố sự của Mặc Tử thì sao không chép cố sự của Mạnh Tử, mà sao trong bao nhiêu lần biện thuyết của Mặc Tử lại chỉ chép có lần đó? Phải chăng vì tác giả thích tỉ dụ Mặc Tử dùng trong truyện đó chăng? Đại ý Mặc Tử bảo vua Sở:

Nước Sở đã giàu mạnh hơn Tống, mà lại còn muốn chiếm đất của Tống, thì cũng không khác chi một người không thích chiếc xe đẹp đẽ của mình mà thích trộm lấy chiếc xe tồi tàn của hàng xóm.

Vua Sở nhận thấy mình trái, thôi không đánh Tống nữa. Trong Chiến Quốc sách chỉ có vài ba truyện chống chiến tranh nhưng không chống một cách triệt để như bài trên mà chỉ chống trong một giai đoạn vì cái lợi của quốc gia (chẳng hạn bài Tề V 1).
*

* Muốn thuyết phục thì phải hiểu tâm lý người đối thoại, dựa theo họ mà dẫn dắt họ lần lần theo ý mình; qui tắc đó còn quan trọng hơn tất cả những thuật kể trên, và Hàn Phi trong bài Thuế nan đã đạt nó lên hàng đầu. Ông viết:

“Du thuyết khó, nhưng không khó ở chỗ trí thức của ta đủ thuyết phục được vua chúa hay không, cũng không khó ở chỗ khẩu tài của ta phát biểu được rõ ý ta hay không, cũng không khó ở chỗ ta có dám tung hoành phóng dật diễn hết ý của ta hay không, mà khó ở chỗ hiểu tâm lý đối phương để cho lời của ta hợp với tình lý của họ”.

Xúc Chiệp không phải là một biện sĩ, chỉ là một vị lão thần của Triệu, hiểu rõ tâm lý đàn bà mà thuyết phục được Triệu thái hậu cho con là Trường An Quân qua Tề làm con tin (Triệu IV 18). Cả triều đình Triệu cũng đã rán khuyên Triệu thái hậu mà đều thất bại chỉ vì không nghĩ đến tấm lòng cưng con của một bà già, chỉ đem cái lợi của quốc gia ra mà nói, làm cho thái hậu nổi doá lên, bảo: “Ai mà còn nói đến chuyện đưa Trường An Quân đi làm con tin thì già này tất nhổ vào mặt”.

Chính lúc thái hậu còn hầm hầm như vậy mà Xúc Chiệp vô yết kiến.

Ông chẳng nói gì đến chuyện Trường An quân cả, mà toàn nói những chuyện bâng quơ: hỏi thăm sức khoẻ của thái hậu, kể lể bệnh tật của mình, lại xin ân huệ cho đứa con của mình để thái hậu nguôi giận, quên hẳn chuyện bực mình đi, rồi mới nói khích rằng đàn bà không cưng con bằng đàn ông. Thái hậu cãi lại, ông không đáp, thình lình chuyển qua tình thái hậu yêu con gái là Yên hậu, để so sánh tình thái hậu yêu Trường An Quân, rốt cuộc làm cho thái hậu nhận rằng yêu con thì phải lo đến tương lai của con, và bằng lòng cho Trường An Quân qua Tề để có cơ hội “lập công với nước”.

Bài văn toàn bích, có mở, có kết, mạch lạc sáng sủa, không một chi tiết nào thừa, không một chi tiết nào thiếu, sự kiện biến chuyển một cách tự nhiên, tuy đột ngột mà vẫn là tuần tự, tài tình đến nổi chính ta là độc giả, người ngoài cuộc mà cũng bị tác giả lôi kéo tới mục đích của tác giả mà không ngờ.

Một bài khác (Yên II 7), chép một truyện tình tiết gần giống hệt truyện trên (cũng là một bà thái hậu – nước Yên – không chịu cho con qua làm con tin ở Tề) nhưng nghệ thuật kém xa.
*

Một thú nữa khi đọc Chiến Quốc sách là được nghe những ứng đối mẫn tiệp, chuyển nguy thành an như:

Khỏi bị cách chức (Đông Chu 9).

Người đất Ôn khéo đối đáp mà khỏi bị giam (Đông Chu 10).

Du Đằng biện hộ cho vua Chu (Tây Chu 3).

Cam La thuyết Trương Đường và vua Triệu (Tần V 6).

Có khi lại được mỉm cười vì sự ngốc nghếch của bọn cầm quyền như truyện Đông Chu 1, Tần I 12.

Vua Tề ham chín cái đỉnh của Chu mà bị Nhan Suất gạt, phàn nàn:

- Thế ra ông tới đây mấy lần cũng như không, ta chẳng được gì ư?

Mặt vua Tề lúc đó chắc phải ngẩn ra như một em bé mất kẹo.

Vậy mà Nhan Suất vẫn nghiêm trang thưa:

- Thần đâu dám gạt đại quốc, xin đại vương gấp quyết định chở đỉnh theo đường nào, tệ ấp sẽ dời đỉnh để đợi lệnh.

Vua Tần nghe lời gièm pha của Trương Nghi, hỏi Trần Chẩn muốn đi đâu, nếu không được dùng ở Tần nữa, định bụng rằng Trần Chẩn mà xin qua Sở thì mắng cho một trận, chưa biết chừng sẽ giết nữa (vì Tần với Sở nghịch nhau).

Trần Chẩn thản nhiên xin qua Sở, rồi thuyết một hồi, làm cho vua Tần cứng họng, đã không trách Trần Chẩn vào đâu được mà lại trọng đãi Chẩn hơn trước.

Thời Chiến Quốc quả là thời tung hoành của bọn tung hoành gia, chỉ vì bọn vua chúa thường ngu dại mà bọn biện sĩ thì quá thông minh, quỉ quyệt.



---------------
[1] Coi cuốn Cổ văn Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê.
[Cũng có thể xem thiên Thuế nan (Du thuyết khó) trong cuốn Hàn Phi Tử của Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê, Nxb Văn hoá – 1994. (Goldfish)]

[2] Coi thêm bài Nguỵ IV 10, bài Triệu VI 13.

[3] Thực ra trong bài đó, tác giả áp dụng phép song đề tới hai từng.

[4] Sau này, trong bộ Trang Tử - Nam Hoa kinh, cụ Nguyễn Hiến Lê cho rằng, truyện trước (bài Dưỡng sinh chủ 2), hai chữ “bào đinh” có nghĩa là “tên làm bếp” không phải tên người; và phần Tạp thiên trong đó có truyện sau (bài Tắc Dương 6) cũng như phần Ngoại thiên đều không phải do Trang Tử viết. (Goldfish).

[5] Tức bài Sơn mộc 8. (Goldfish).

[6] Kém cả Liệt Tử nữa. Bộ Liệt Tử do Nguyễn Hiến Lê soạn và Lá Bối in. [Nhan đề đầy đủ là Liệt Tử và Dương Tử.
Sau cùng chúng tôi xin giới thiệu một bài kỹ thuật rất đặc biệt, chúng tôi chưa từng thấy trong văn học Trung Quốc, bài Mưu mô Tô Tần (Tề III 1). Bài đó không phải là một bài biện thuyết, chỉ là một bài tự sự mà có pha chút phê bình. Tác giả chép lại mưu mô của Tô Tần: vua Sở Hoài Vương mất, trong khi thái tử tên là Hoành làm con tin ở Tề; Tô Tần khuyên Tiết Công (vua Tề) không cho thái tử Hoành về Sở để “khai thác” biến cố đó.

Rồi tác giả liệt kê ra tới mười hậu quả của việc giữ thái tử Sở lại, cả mười hậu quả đều do mưu mô Tô Tần gây ra, có hậu quả có lợi cho Tô Tần, có hậu quả có lợi cho Tề hại cho Sở, cho thái tử Sở, lại có hậu quả tưởng như hại cho Tô Tần nữa.

Đó là đoạn đầu bài dài, dài khoảng nửa trang. Qua đoạn sau, dài ba trang, tác giả dẫn chứng về mười hậu quả mới kể trên, chép lại những hành động kế tiếp của Tô Tần trong vụ ấy. Ta có cảm tưởng là được coi lại một ván cờ trong đó xảo thủ Tô Tần tính trước được mười nước đi.

Nhưng đây mới là chỗ đặc biệt của bài văn. Tác giả kê mười hậu quả (trong bản dịch chúng tôi đã làm thêm công việc đánh số từ 1 đến 10 để độc giả dễ nhận ra); mà khi dẫn để chứng minh, tác giả theo đúng thứ tự từ một đến 9, rồi ngừng lại, làm cho chúng ta phải tự hỏi: Tác giả đã sơ ý bỏ dở hay cố ý bỏ lửng.

Xét lối trình bày của cả bài, ta thấy tác giả đã sắp đặt, bố cục rất kỹ lưỡng, đã chứng minh một cách rành rọt gần như một bài toán Hình học (cứ mỗi đoạn ở phần sau, tác giả lại kết một câu: Vì vậy mà bảo rằng: “…nhắc lại đúng hậu quả đã kê ở phần trên)…”, y như những chữ C.Q.F.D.[1] mà hồi xưa người ta thường ghi sau mỗi bài toán Hình học); xét như vậy thì chúng tôi không tin rằng tác giả đã sơ ý bỏ dở, không chứng minh điểm thứ 10. Chắc tác giả đã cố ý bỏ lửng, để chúng ta tự chứng minh nốt, tự đoán ra những lời Tô Tần tự biện hộ với Tiết Công. Và thuật đó làm cho ta ngạc nhiên một cách thích thú.

Bài đó không phải là bài hay nhất trong bộ, nhưng quả là có một kỹ thuật mới mẻ, nhưng phải đọc kỹ mới nhận ra được dụng công của người viết.
*

Chiến Quốc sách có nhiều khuyết điểm: thiếu tính cách nhất trí, mà nghệ thuật cũng không đều.

* Thiếu tính cách nhất trí vì cùng một việc mà mỗi chỗ chép một khác, cùng một người mà mỗi chỗ gọi tên một khác (coi trang 25, 26), và ngoài cái việc chép lại hết những mưu mô của người thời đó (chính khách có, triết gia có, bình dân có, trẻ em cũng có nữa), ta không thấy tác phẩm có một chủ đề nào cả, không thấy tác giả có một chủ kiến nào cả. Tác phẩm do nhiều người viết – điều đó mọi học giả đều nhận rồi – nhưng người thu thập các bài văn cơ hồ cũng không nhằm một mục đích nào, chỉ gom góp cho đủ.

* Một phần vì lẽ đó mà nghệ thuật các bài cũng không đều.

Có những bài nghệ thuật rất cao mà trên chúng tôi đã giới thiệu, thì lại có những bài rất kém.

Chẳng hạn bài Phùng Chương gạt vua Sở (Tần II 7), chỉ chép một hành động gian trá chứ không xảo trá, không đáng gọi là thuật gạt người, chứ đừng nói thuật biện thuyết. Vua Tần sai Phùng Chương hứa cắt đất Hán Trung cho Sở để Sở về phe mình. Khi Sở nhắc lại lời hứa, thì nhà vua làm bộ đuổi Phùng Chương đi rồi trả lời vua Sở rằng mình có hứa gì đâu. Thật là con nít! Vua chúa gì mà như vậy.

Còn nhiều bài nửa mà chúng tôi bỏ đi không dịch.

Có nhiều bài thuật kể chuyện không phải là kém, nhưng thiếu tính cách nhất trí, đoạn trên và đoạn dưới không ăn khớp với nhau, cơ hồ như tác giả tham lam chi tiết, muốn chép lại cho nhiều, hoặc vội vàng, đáng lẽ tách bài ra làm hai thì gom lại làm một, như bài Tề Mẫn Vương tàn bạo mà bị giết (Tề VI 1). Mẫn Vương tàn bạo tới nỗi dân chúng, bách quan và cả tôn thất đều ghét. Náo Xỉ giết là phải rồi. Sao đoạn cuối, tác giả còn chép thêm việc Vương Tôn Giả trả thù Mẫn Vương làm chi. Ít nhất tác giả cũng phải giảng gì thêm (chẳng hạn Vương Tôn Giả được Mẫn Vương đặc biệt tín nhiệm, yêu quí thì ta mới có thể hiểu được hành động của Giả. Trong Intrigues, Crump dịch mà cắt bỏ đoạn cuối đi cho có lý.

Truyện Tô Tần thuyết Lý Đoái (Triệu I Cool cũng rời rạc, và cần phải đưa thêm nhiều chi tiết nữa để chứng thực lời này của Tô Tần: “Hôm qua lời bàn của tôi thô bạo mà chúa công của ông động lòng; hôm nay lời bàn của tôi tinh tế mà chúa công của ông không động lòng”.

Nhiều bài trùng nghĩa, rất giống nhau.

Chẳng hạn bài Tần III 9, Phạm Tuy thuyết vua Tần Chiêu Vương mà gièm pha Nhương Hầu là chuyên quyền, vua Tần nghe lời, đuổi Nhương Hầu đi. Rồi sau bài Tần III 10, nửa dưới gần như lập lại đúng những ý trong bài trên, cũng lại cho Phạm Tuy gièm pha Nhương Hầu nữa, cho nên Chung Phượng Niên ngờ rằng hai bài đó do hai người viết.

Ngụ ngôn tượng thần bằng đất và tượng thần bằng gỗ nhắc đi nhắc lại nhiều lần, truyện Hiếu tử Tăng Sâm và trung thần Tử Tư cũng vậy. Và như chúng tôi đã thưa, truyện Xúc Chiệp thuyết Triệu thái hậu và truyện Trần Thuý thuyết Yên thái hậu gần y hệt nhau; truyện Yên 15 (Tô Tần tự biện hộ) và truyện Yên 13 đều chép ngụ ngôn – hay cố sự - người vợ bé muốn cứu chồng mà bị chồng đánh nhưng truyện trên là lời Tô Tần, trong truyện dưới là lời Tô Đại.

Mặc dầu có những khuyết điểm đó, Chiến Quốc sách vẫn là một tác phẩm bất hủ. Tuy về phương diện chép truyện nhiều chỗ kém Sử ký của Tư Mã Thiên, về phương diện dùng ngụ ngôn, cố sự thường kém Nam Hoa kinh của Trang Tử, nhưng trong bốn năm trăm bài dài ngắn khác nhau đó, chúng ta có thể lựa được vài chục bài hoặc tự sự hoặc biện thuyết đáng coi là những viên ngọc quí nhất của cổ văn Trung Quốc, đến Sử ký và Nam Hoa kinh cũng không hơn được. Người đời sau thường nêu cuốn đó là mẫu mực về cổ văn cũng là phải.


*
* *

PHẦN II
TRÍCH DỊCH

LỜI DẪN


Như phần trên chúng tôi đã nói, có rất nhiều bản Chiến Quốc sách, nhưng chúng tôi chỉ kiếm được ba bản:

1. Bản Chiến Quốc sách do Cao Dụ chú, trong loại Quốc học cơ bản tùng thư của Thương vụ ấn thư quán in năm 1956 ở Thượng Hải. (Chúng tôi gọi tắt là Cao Dụ).

Bản này in kỹ, không có lỗi, có ghi cả những lời hiệu đính của Tăng Củng, Bão Bưu…, lại có chú thích in ngay trong bài, nhưng không được kỹ, nhân danh, địa danh không làm dấu, thành thử những người mới học đọc hơi khó khăn.

Cứ chép hết một bài rồi xuống hàng, không đánh số bài, cũng không đặt nhan đề cho bài.

2. Bản Chiến Quốc sách do Hứa Khiếu Thiên chú của nhà Tân lục thư cục, in năm 1962 ở Đài Bắc. (Chúng tôi gọi tắt là Hứa Khiếu Thiên).

Bản này in vội, mắc nhiều lỗi, chú giải tuy tương đối kỹ, nhưng có nhiều chỗ rườm hoặc sai, trái lại có nhiều chỗ đáng giảng thì lại không giảng. Sự trình bày không tiện, không hợp lý: những lời chú giải đặt ở cuối mỗi bài không đánh số, cho nên kiếm hơi mệt; lại thêm soạn giả phân biệt những điều chú giải ra làm hai loại: khảo và chú, chỉ thêm mất công người đọc, vì có chữ đáng cho vào chú thì lại cho vào khảo, và ngược lại.

Nhưng bản này có chỗ tiện hơn bản trên là nhân danh, địa danh có làm dấu (nhiều chỗ sai), và đánh số mỗi bài, nhưng không cho nhan đề.

Cách đánh số của Hứa đôi chỗ không hợp lý: Có bài nên tách ra thì soạn giả gom lại. Ví dụ bài Tần I 3, bản Cao Dụ tách ra làm hai là phải, Hứa Khiếu Thiên gom lại là sai. (Trong bản dịch của chúng tôi bỏ phần dưới: Tần I 4). Bài Tống 6 cũng vậy, tách ra làm hai như Cao Dụ thì hợp lý hơn.

Lại có bài như bài Vệ 14, Hứa tách ra làm hai bài Vệ 12 và Vệ 13, Cao Dụ gom lại làm một.

Nhưng chính bản Cao Dụ nhiều khi cũng vô lý: như bài Tần II 12 và 13 không nên gom lại, Hứa Khiếu Thiên tách ra là phải; bài Chu 5 và 6[2] cũng vậy[3].

Như vậy toàn bộ Chiến Quốc sách bản Cao Dụ, gồm:

Quyển 1. Đông Chu 23 bài. Q.2. Tây Chu 17 bài. Q.3. Tần I 12 bài. Q.4. Tần II 16 bài. Q.5. Tần III 17 bài. Q.6. Tần IV 9 bài. Q.7 Tần V 8 bài. Q.8. Tề I 17 bài. Q.9. Tề II 8 bài. Q.10. Tề III 12 bài. Q.11 Tề IV 10 bài. Q.12. Tề V 1 bài. Q.13. Tề VI 8 bài. Q.14. Sở I 19 bài. Q.15. Sở II 8 bài. Q.16. Sở III 10 bài. Q.17. Sở IV 13 bài. Q.18. Triệu 1 17 bài. Q.19. Triệu II 7 bài. Q.20. Triệu III 21 bài. Q.21. Triệu IV 19 bài. Q.22. Nguỵ I 26 bài. Q.23. Nguỵ II 18 bài. Q.24. Nguỵ III 10 bài. Q.25. Nguỵ IV 25 bài. Q.26. Hàn I 24 bài. Q.30. Yên II 14 bài. Q.31. Yên III 5 bài. Q.32. Tống, Vệ 14 bài. Q.33. Trung Sơn 10 bài. Cộng là 473 bài.

3. Bản Bạch thoại Chiến Quốc sách độc bản do Cao Dụ chú và Diệp Ngọc Lân dịch ra bạch thoại, gồm hai quyển, nhà Quảng Ích thư cục in năm 1947 ở Thượng Hải. (Chúng tôi gọi tắt là Diệp Ngọc Lân).

Bản này khác hẳn hai bản trên, không in hết những bài trong Chiến Quốc sách mà chỉ lựa độ một nửa, chú thích của Cao Dụ in ngay ở trong bài, cuối bài lại dịch ra bạch thoại, nhân danh và địa danh đều làm dấu, nên rất tiện cho người mới học. In khá kỹ, ít lỗi, nhưng khi dịch thì có đôi chỗ sai.

Không đánh số bài, nhưng mỗi bài dùng ngay mấy chữ đầu hoặc tóm tắt câu đầu mà làm nhan đề (chẳng hạn bài đầu bộ, câu đầu là: “Tần hưng sư lâm Chu nhi cầu cửu đỉnh”[4] thì lấy mấy chữ này: “Tần cầu Chu cửu đỉnh” làm nhan đề).

Đầu bộ có mục lục các bài (hai bản trên không có mục lục ấy, vì không có nhan đề mỗi bài), nên công việc tìm kiếm cũng dễ được phần nào.

Chúng tôi dùng cả ba bản kể trên và mỗi khi thấy có điểm gì đáng nghi ngờ trong hai bản Hứa Khiếu Thiên và Diệp Ngọc Lân thì dùng bản Cao Dụ mà quyết nghi.

Ngoài ra chúng tôi còn tham khảo thêm:

4. Cuốn Intrigues – Studies of Chan-Kuo Ts’e của J.I Crump, Jr, do The University of Michigan in năm 1964 (Chúng tôi gọi tắt là Crump).

Tác giả là một giáo sư dạy Hoa ngữ ở trường Đại học Michigan (Huê Kỳ) có công nghiên cứu về Chiến Quốc sách và đăng bài trên tạp chí Thông báo (T’oung Pao) số 48 năm 1960, mà các thư viện ở Sài Gòn đều không có, nên chúng tôi không đọc được.

Cuốn Intrigues biên khảo về phương diện sử liệu và văn học trong Chiến Quốc sách, chứ không phải là một bản dịch toàn bộ Chiến Quốc sách; vì vậy tác giả chỉ dịch khoảng năm chục bài để dẫn chứng thôi, mà những bài đó không nhất định là những bài hay nhất. Mặc dầu vậy cuốn đó đã giúp chúng tôi nhiều vì viết rất công phu và chứa nhiều nhận xét mới mẻ. Sự thực thì từ trước tới nay chúng tôi cũng chỉ mới thấy một tác phẩm đó là nghiên cứu về Chiến Quốc sách.

Những bài trích dịch, Crump đều đánh số, nhưng những số của ông khác hẳn những số trong bản Hứa Khiếu Thiên.

5. Cuốn Anthologie raisonnée de la littérature chinois của Margouliès do nhà Payot xuất bản năm 1948. (Chúng tôi gọi tắt là Margouliès). Cuốn này dịch 13 bài trong Chiến Quốc sách, nhưng dịch không sát và có chỗ sai, nên không giúp chúng tôi được bao nhiêu.

Margouliès còn cuốn Le Kou-Wen Chinois (Payot 1926) trong đó có dịch thêm sáu bài Chiến Quốc sách nữa, nhưng sách đã tuyệt bản, chúng tôi kiếm không ra; và cuốn Histoire de la littérature chinois (Prose) cũng do Payot xuất bản, năm 1949, trong đó ông giới thiệu qua loa Chiến Quốc sách thôi.
*

Công việc của chúng tôi trong phần II này nhằm chung một mục đích với công việc Diệp Ngọc Lân. Chúng tôi cũng lựa khoảng nửa số bài trong Chiến Quốc sách để giới thiệu với độc giả, nhưng những bài chúng tôi lựa không nhất thiết là những bài họ Diệp lựa. Tất nhiên chúng tôi dịch hết những bài có giá trị về nghệ thuật, chúng tôi lại dịch thêm những bài để dẫn chứng cho phần I (phần giới thiệu), và một số bài có tính cách vui vui nữa. Chủ ý của chúng tôi là giúp độc giả có thể vừa tiến khá sâu vào văn học Trung Quốc, vừa tìm trong tập này những kinh nghiệm của cổ nhân về tâm lý, hành động của bọn chính khách trong một thời hạn, như trong mấy năm gần đây một số ký giả đã làm trên các báo.

Số bài khá nhiều. Muốn cho độc giả dễ tìm kiếm, chúng tôi đều đã đánh số mỗi bài (chúng tôi đánh số lại, chứ không theo những số của Hứa Khiếu Thiên vì những lẽ đã trình bày ở trên); chúng tôi lại đặt hai nhan đề cho mỗi bài: một nhan đề tóm lại đại ý trong bài và một nhan đề dùng ngay mấy chữ đầu trong bài như Diệp Ngọc Lân đã làm. Như vậy độc giả nào nhớ mang máng một truyện có thể coi mục lục mà kiếm ra được trang nào, rồi có muốn đối chiếu với một bản chữ Hán, không ghi số bài thì cứ theo nhan đề chữ Hán mà dò tất sẽ thấy.

Chúng tôi đã cố dịch cho sát và chú thích cho gọn; gặp chỗ nào chưa tra ra được thì tồn nghi. Chúng tôi chỉ chú thích những nhân danh địa danh nào quan trọng hoặc thường gặp trong bộ, còn thì bỏ bớt đi cho khỏi rườm. Gặp một tên, một chữ đã chú thích ở một bài trên rồi, chúng tôi không chú thích lại nữa, nhưng ở cuối sách chúng tôi lập một bảng nhân danh, địa danh quan trọng trong sách và ghi số trang có chú thích[5] để độc giả dễ kiếm.

Trong bảng Mục lục, gặp bài nào Crump và Margouliès đã dịch rồi chúng tôi ghi lại để độc giả có thể tìm mà đối chiếu. Crump có đánh số mỗi bài mà Margouliès thì không, cho nên bài của Margouliès chúng tôi phải đánh số trang trong cuốn Anthologie raisonnée de la littérature chinoise[6].

Sau cùng trong phần Phụ lục chúng tôi theo bảng niên biểu ở cuối bộ Từ Hải mà ghi lại những việc quan trọng trong thời Chiến Quốc.

Chúng tôi biết rằng công việc của chúng tôi còn nhiều chỗ sơ sót, dám mong được độc giả chỉ bảo.
Sài Gòn, ngày 15-11-1966


------------
[1] C.Q.F.D: viết tắt của “Ce qu'il fallait démontrer” (Đó là điều phải chứng minh). (Goldfish).

[2] Không rõ Đông Chu 5 và 6 hay Tây Chu 5 và 6. Chắc sách in thiếu. (Goldfish).

[3] Chúng tôi lại tách thêm những bài này nữa: Tần IV 5 (thành 5 và 6) Hứa gom; Tề III 11 (thành 11 và 12) Cao Dụ gom; Hàn II 8 (thành 8 và 9) Hứa gom; Hàn III 11 (thanh 11, 12 và 13) Hứa gom; Trung Sơn 7 (thành 7 và Cool Cao Dụ gom. Riêng bài Hàn III 5 và 6 mà Diệp gom thì chúng tôi tách, nhưng theo một cách khác, không giống Cao Dụ và Hứa.

[4] Bản đăng trên trang http://www.tl5000.com/zzbj/zgc/001.htm lấy trọn câu đầu làm nhan đề: 秦兴师临周求九鼎 Tần hưng sư lâm Chu cầu cửu đỉnh (không có chữ nhi). (Goldfish).

[5] Trong sách, bảng Nhân danh và địa danh không ghi số trang có chú thích. (Godfish).

[6] Trong sách, bảng Mục lục không ghi lại hai điều đó.
CHƯƠNG I
CHU SÁCH

Đông Chu có hai nghĩa. Một nghĩa trỏ triều đại như: Đông Chu liệt quốc. Đời Chu chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất đóng ở đất Phong, đất Cảo (miền Thiểm Tây bây giờ), gọi là Tây Chu (1134-770); đến đời U Vương sợ rợ Tây Nhung, phải dời đô qua Lạc Dương (Hà Nam) để tránh, từ đó gọi là Đông Chu (770-221). Cũng có sách chép rằng U Vương bị Tây Nhung giết rồi, Bình Vương bị uy hiếp mới thiên đô.

Một nghĩa nữa, tức nghĩa dùng trong cuốn này, trỏ tên nước. Thời Xuân Thu, vua nước Chu là thiên tử, phong vua các nước Tần, Tề, Triệu, Nguỵ, Hàn, Yên, Tống, Vệ, Trung Sơn… làm chư hầu. Chư hầu mỗi ngày một mạnh, xâm chiếm đất đai của Chu, đến thời Chiến Quốc, Chu chỉ còn một khu nhỏ.

Khi Chu Khảo Vương (440-424)[1], mới lên ngôi, phong cho người em tên là Yết làm vua ở Hà Nam, gọi là Hà Nam Hoàn Công; Hoàn Công truyền ngôi cho Uy Công; Uy Công truyền ngôi cho Huệ Công, Uy Công lại phong cho một người con tên là Ban làm vua ở đất Củng, gọi là Đông Chu, còn đất mình giữ lại để cai trị thì gọi là Tây Chu. Từ đó trở đi, có hai nước Chu: Đông Chu và Tây Chu. Trong cuốn này, gọi là vua Chu thì có khi trỏ vua Đông Chu, có khi trỏ vua Tây Chu.
*
* *
ĐÔNG CHU

1. TẦN ĐÒI CHÍN CÁI ĐỈNH CỦA CHU
(Tần cầu Chu cửu đỉnh)

Tần đem quân đánh Chu để đòi chín cái đỉnh[2]. Vua Chu (Hiển Vương) lo lắng, bàn với một vị đại thần là Nhan Suất. Nhan Suất tâu:

- Đại vương đừng lo, thần xin qua phía đông cầu cứu với Tề.

Nhan Suất tới Tề, tâu với Tề (Tuyên Vương):

- Tần là kẻ vô đạo, muốn đem quân đánh Chu để đòi chín cái đỉnh. Vua Chu nước tôi bàn tính với nhau, thà tặng đại quốc chín cái đỉnh còn hơn là để cho Tần lấy mất. Đã được tiếng tốt là cứu một nước lâm nguy mà lại được bảo vật là chín cái đỉnh, xin đại vương suy tính cho.

Vua Tần mừng lắm, sai Trần Thần Tư[3] đem năm vạn quân cứu Chu; Tần phải rút quân về. Tề sửa soạn đòi chín cái đỉnh. Vua Chu lại lo. Nhan Suất tâu:

- Xin đại vương đừng lo, thần xin qua phía đông dàn xếp.

Nhan Suất tới Tề, tâu với vua Tề.

- Nhờ nghĩa cử của đại quốc mà vua tôi, cha con tôi bảo toàn được với nhau. Vậy nước tôi xin dâng chín cái đỉnh. Không rõ đại quốc sẽ do con đường nào mà chở nó về Tề?

Vua Tề đáp:

- Quả nhân tính mượn đường của nước Lương.

Nhan Suất thưa:

- Không nên. Đã từ lâu, vua tôi nước Lương muốn chín cái đỉnh để bày ở dưới Huy Đài, phía trên Thiểu Hải[4]; vậy mà vô Lương đâu còn ra được nữa.

Vua Tề bảo:

- Vậy thì quả nhân sẽ mượn đường của Sở.

Đáp:

- Không nên, đã từ lâu, vua tôi nước Sở muốn được chín cái đỉnh để bày ở trong Diệp Đình[5], nếu đỉnh mà qua Sở, tất không còn ra được nữa.

Vua Tề hỏi:

- Vậy thì rốt cuộc quả nhân phải dùng con đường nào mà đưa nó về Tề?

Nhan Suất đáp:

- Việc đó, tệ ấp[6] vốn lo giùm đại vương. Đỉnh không phải như vò dấm, hũ tương mà có thể ôm cắp, mang xách nó tới Tề được; nó cũng không phải như con chim, con quạ, con thỏ, con ngựa mà có thể vụt bay, vụt chạy tới Tề rồi ngừng. Xưa nhà Chu đánh nhà Ân mà được chín cái đỉnh[7], cứ mỗi cái đỉnh thì phải có chín vạn người kéo, chín nhân với chín, thành tám mươi mốt vạn người; phải đủ quân lính, khí giới, đồ dùng cho xứng với công việc đó. Nay ví phỏng đại vương có đủ số người thì theo con đường nào mà chở đỉnh ra cho được? Thần trộm lo giùm đại vương việc đó!

Vua Tề bảo:

- Thế ra ông tới đây mấy lần cũng như không, ta chẳng được gì ư?

Nhan Suất thưa:

- Thần đâu dám gạt đại quốc, xin đại vương gấp quyết định chở đỉnh theo con đường nào, tệ ấp sẽ đời đỉnh để đợi lệnh.

Vua Tề bèn bỏ việc đòi đỉnh.

2. TẦN TẤN CÔNG NGHI DƯƠNG
(Tần công Nghi Dương)

Tần tấn công Nghi Dương[8]. Vua Chu hỏi (bề tôi là) Triệu Luỹ:

- Ông cho việc đó sẽ ra sao?

Triệu Luỹ đáp:

- Nghi Dương tất mất.

- Thành Nghi Dương tám dặm, binh giỏi có tới mười vạn, lúa đủ ăn vài năm; quân của Công Trọng[9] có tới vài chục vạn, Cảnh Thuý[10] đem quân lính đông đúc của Sở, tới núi mà cứu Hàn, như vậy Tần tất không thắng đâu.

- Cam Mậu[11] làm lữ khách nước Tần, đánh Nghi Dương mà thắng thì công ngang với Chu Công Đán[12], nếu không thắng thì tất phải bỏ Tần mà đi[13]. Vua Tần không nghe lời khuyên của bề tôi và bậc cha anh[14] mà đánh Nghi Dương; Nghi Dương không chiếm được thì vua Tần sẽ lấy làm nhục. Vì vậy thần bảo rằng Nghi Dương tất mất.

Nhà vua hỏi:

- Ông mưu tính giùm quả nhân, nên làm sao bây giờ?

Đáp:

- Đại vương nên bảo Cảnh Thuý rằng: “Tước của ông vào hạng được cầm ngọc khuê[15], chức của ông vào hàng trụ quốc[16], đánh (Nghi Dương) mà thắng thì không được thêm chức tước nữa, mà thua thì bị tử tội. Không bằng ngóng ở phía sau quân Tần, (làm bộ) cứu viện Nghi Dương[17]. Ông mà tiến quân thì Tần sợ ông thừa lúc họ mệt mỏi mà đánh họ tất đem châu báu dâng ông; mà Công Trọng kính mộ ông đánh Tần để cứu mình, có bao nhiêu châu báu cũng sẽ dâng ông hết. Tần lấy được Nghi Dương, Cảnh Thuý quả nhiên tiến binh; Tần sợ vội dâng đất Chử Tảo, nước Hàn cũng dâng nhiều bảo vật. Thành thử Cảnh Thuý được thành của Tần, bảo vật của Hàn mà được Đông Chu mang ơn nữa[18].

4[19]. TÔ TỬ THUYẾT VUA TÂY CHU THÁO NƯỚC CHO ĐÔNG CHU TRỒNG LÚA NẾP
(Đông Chu dục vi đạo)

Đông Chu muốn trồng lúa nếp, Tây Chu không muốn tháo nước, Đông Chu đâm lo[20]. Tô Tử[21] tâu với vua Đông Chu:

- Thần xin đi thuyết cho Tây Chu tháo nước, đại vương nghĩ sao?

Rồi qua yết kiến vua Tây Chu, tâu:

- Đại vương tính lầm rồi. Đại vương không tháo nước là làm giàu cho Đông Chu đấy. Dân Đông Chu đều trồng lúa mì, ngoài ra không trồng gì khác; đại vương như muốn hại Đông Chu thì không gì bằng tháo nước cho lúa mì hư hết. Tháo nước rồi, Đông Chu tất trồng lại lúa nếp; họ trồng lúa nếp rồi lại ngăn nước lại, như vậy thì dân Đông Chu tất ngóng cả về Tây Chu mà chịu mệnh lệnh của đại vương.

Vua Tây Chu khen:

- Kế đó hay.

Rồi ra lệnh tháo nước.

Mà Tô Tử cũng nhận được tiền cả hai nước.

5. TÔ LỆ NÓI GIÙM CHO TƯỚNG QUỐC CHU
(Chiêu Hiến tại Dương Dịch)

Chiêu Hiến[22] đương ở Dương Địch. Vua Chu tính sai tướng quốc tới yết kiến Chiêu Hiến, tướng quốc không muốn đi. Tô Lệ[23] tâu giúp tướng quốc với Chu:

- Vua Sở và vua Nguỵ hội họp, thì đại vương sai Trần Phong qua Sở, sai Hướng Công qua Nguỵ. Sở và Hàn họp thì đại vương sai Hứa Công qua Sở, sai Hướng Công qua Hàn[24]. Nay Chiêu Hiến không phải là bực vua chúa, mà đại vương sai tướng quốc tới yết kiến. Nếu là vua Sở ở Dương Địch thì đại vương sẽ sai ai tới yết kiến?

Vua Chu khen:

- Phải.

Rồi thôi không sai tướng quốc đi nữa.

6. TẦN MƯỢN ĐƯỜNG CỦA CHU ĐỂ ĐÁNH HÀN
(Tần giả đạo ư Chu dĩ phạt Hàn)

Tần hỏi mượn đường của Chu để đánh Hàn; Chu sợ cho mượn thì Hàn oán mà không cho mượn thì Tần oán. Sử Yểm tâu với vua Chu[25]:

- Sao đại vương không sai người bảo Hàn Công Thúc (đại thần của Hàn) rằng: “Tần dám vượt ải mà đánh Hàn là tin ở Đông Chu. Sao ông không cắt đất cho Chu? Rồi sai một vị đại sứ qua Sở, như vậy Tần tất nghi; Tần không tin Chu nữa thì sẽ không đánh Hàn”. Rồi lại bảo vua Tần: “Hàn chịu khuất, cắt đất cho Chu là muốn cho Tần nghi Chu. Vì vậy quả nhân không dám nhận”.

Tần tất không có lẽ gì mà bảo Chu đừng nhận. Như vậy là được đất của Hàn mà vẫn tuân lệnh của Tần.

7. SỞ GIẬN CHU
(Sở công Ưng Thị)

Sở đánh Ưng Thị[26]. Chu đem lúa gạo tiếp tế Tần và Hàn. Vua Sở giận Chu, vua Chu lo lắng. Có kẻ vì Chu mà bảo Sở (Hoài Vương):

- Đại Vương hùng cường mà giận Chu, Chu sợ, tất liên hợp với những nước mà Chu đã tiếp tế lúa gạo, như vậy là làm cho địch thủ của đại vương mạnh thêm. Đại vương nên mau mau giải nỗi lo sợ của Chu. Chu trước kia mang tội, nay được tha, tất hết lòng thờ đại vương.


-----------
[1] Theo Wikipedia: Các vua Chu sau Khảo Vương (440-4260) là Uy Liệt Vương (425-402), An Vương (401-376), Liệt Vương (375-369), Hiển Vương (368-321), Thận Tịnh Vương (320-315), Noãn Vương (314-256), Đông Chu Quân hay Chu Huệ Công. (Các quý tộc họ Cơ cho rằng Huệ Công là người kế vị Noản Vương sau khi kinh đô Lạc Dương bị các quân Tần chiếm năm 256 TCN. Tuy nhiên danh vị nhà Chu không kéo dài thêm được bao lâu và Huệ Công cũng không dám xưng vương, vì thế số đông cho rằng Noản Vương là vua cuối cùng nhà Chu). (http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_Chu). (Goldfish).

[2] Chín đỉnh: Vua Vũ Vương (2205-2196) đời Hạ thu phục được chín châu rồi, gom góp số đồng trong nước mà đúc chín cái đỉnh rất lớn, bày trong hoàng cung để tượng trưng cho chín châu. Sau chín cái đỉnh đó thành bảo vật để truyền ngôi thiên tử. Tới đời Chu Hiển Vương, nhà Chu đã suy, Tần muốn lấy chín đỉnh, tức muốn tiếm ngôi thiên tử.

[3] Việc kể trong bài này xảy ra đời Chu Hiển Vương, năm 23 (346 trước Tây lịch). Trần Thần Tư: cũng có sách gọi là Điền Thần Tư, vì hai họ Điền và Trần đều là công hầu của Tề. Lại có chỗ gọi là Điền Kỳ Tư.
[Theo Wikipedia thì năm 364 trước T.L, Tần Hiến Công xưng bá; năm 344 trước T.L, con Tần Hiến Công là Tần Hiếu Công dùng biến pháp của Thương Ưởng… (http://vi.wikipedia.org/wiki/Chu_Hi%...%C6%B0%C6%A1ng). Như vậy vị vua Tần đòi chín cái đỉnh của Chu, có lẽ là Tần Hiến Công. (Goldfish)].

[4] Huy Đài: không biết ở đâu. Thiếu Hải: cũng gọi là Sa Hải, nay ở phía bắc huyện Khai Phong, tỉnh Hà Nam.

[5] Diệp Đình: không biết ở đâu.

[6] Tệ ấp: lời nói nhũn, không xưng là tệ quốc, mà xưng là tệ ấp, tức cho Chu chỉ nhỏ như một ấp của Tề.

[7] Được chín cái đỉnh: vua Trụ (tức nhà Thương) bao ngược, vua Chu Vũ Vương diệt trụ, lên ngôi thiên tử mà làm chủ chín cái đỉnh.

[8] Nghi Dương: tên đất ở nước Hàn, ngày nay ở phía đông huyện Nghi Dương tỉnh Hà Nam. Việc này xảy ra năm thứ 7 đời Chu Noãn Vương, tức năm 306 trước Tây lịch.
[Vua Tần năm đó là Tần Chiêu Tương Vương (307 tr.TL- 250 tr.T.L). (Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA...0%E1%BB%9Bc%29). (Goldfish)].

Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

CHIẾN QUỐC SÁCH Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH   CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Dec 01, 2010 4:28 pm


[9] Công Trọng: Tể tướng nước Hàn, có nhiều binh mã.

[10] Cảnh Thuý: tướng nước Sở. Lúc đó Sở Hàn liên minh với nhau. Tần đánh Hàn thì Sở sai Cảnh Thuý tới cứu Hàn.

[11] Cam Mậu: người đất Cảnh Thái, qua làm tướng quân ở Tần, cầm quân đánh Nghi Dương.

[12] Chu Công Đán: em Chu Võ Vương và chú vua Thành Vương. Tên ông là Đán, Thành Vương lên ngôi khi còn nhỏ tuổi, Chu Công nhiếp chánh. Em ông là Quản Thúc làm loạn, ông dẹp được, trước sau trung thành với Thành Vương, có công rất lớn với nhà Chu.

[13] Nguyên văn: tước tích. Có sách giảng là bị tước mất chức tước, tên hiệu; có sách là: không còn lưu dấu chân.

[14] Cha anh: trỏ những người trong tôn thất.

[15] Ngọc khuê: ngọc trên nhọn dưới vuông, thiên tử phong vua chư hầu thì ban cho ngọc đó.

[16] Trụ quốc: một chức đại thần ở Sở.

[17] Nguyên văn: “bất như bối Tần viện Nghi Dương”, nghĩa rất tối. Diệp Ngọc Lân và Hứa Khiếu Thiên đều không chú thích. Crump dịch là “quay lưng lại” (to turn his back on Ch’in). Nhưng sao lại “viện”, cứu viện Nghi Dương? Vì câu trên Triệu Luỹ mới tỏ ý khuyên Cảnh Thuý đừng dự vào trận Nghi Dương.
Theo Crump, trang 51, thì Ngô Sư Đạo, cho rằng phải sửa như vầy: “bất như bội Tần. Tần bạt Nghi Dung” (phải thêm một chữ Tần và đổi chữ viện ra chữ bạt) và câu đó có nghĩa là: Không bằng quay lưng lại Tần. Khi Tần hạ Nghi Dương rồi, thì ông sẽ tiến quân… Nghĩa vẫn chưa xuôi: Không cứu Nghi Dương để Tần chiếm Nghi Dương rồi, sẽ mạnh hơn, còn sợ gì Cảnh Thuý nữa?
Một nhà hiệu chú Nhật, Yên tỉnh Tiểu Thái Lang (Yasui Kotaro) lại bảo: phải hiểu là: “Quay lưng lại chiến trường (Nghi Dương), đừng đánh Tần; rồi khi Tần chiếm Nghi Dương rồi mới cứu Nghi Dương”. Giải nghĩa như vậy thì Crump không hiểu nổi mà chúng tôi cũng không hiểu nổi.
Chúng tôi tạm theo chú thích trong Quốc Sách tinh hoa (Thế giới thư cục) mà dịch như trên.

[18] Vì Đông Chu ở sát Hàn; Tần mà thắng Hàn thì Đông Chu cũng lâm Nguy.

[19] Những số thiếu là những bài chúng tôi bỏ. Sau cũng vậy.

[20] Đông Chu và Tây Chu đều ở trên bờ hai con sông Hà và Lạc, Tây Chu ở về phía thượng lưu, Đông Chu ở về phía hạ lưu. Ở thượng lưu mà đắp đặp ngăn nước thì ở hạ lưu không có nước để trồng lúa nếp, lúa nếp sẽ chết. Trái lại lúa mì không cần nước, nếu tháo nước ở trên, thì ở dưới lúa mình ngập nước mà chết.
[Tôi không hiểu tại sao trọn câu đầu của bài 4 lại cho in chữ nghiêng? Phải chăng hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê cho in nghiêng mấy chữ đầu câu: Đông Chu muốn trồng lúa nếp, tương ứng với mấy chữ đầu bài mà Diệp Ngọc Lân lấy làm Nhan đề: Đông Chu dục vi đạo; nhưng do lầm lẫn mà sách in chữ nghiêng trọn câu? Mà dầu nhà xuất bản in đúng theo ý hai cụ như trong bài Đông Chu 7 (Sở giận Chu) và bài Đông Chu 17 (Triệu lấy tế điền của Chu) ở dưới thì lại không nhất quán, vì hầu hết các bài khác đều không được in nghiêng đúng như vậy. (Goldfish)].

[21] Tô Tử: có lẽ là Tô Tần, một biện sĩ nổi danh thời Chiến Quốc chủ trương hợp tung. Coi Truyện Tô Tần (Tần I 2).

[22] Chiêu Hiến: là tể tước nước Sở, tức Chiêu Hề Tuất. Trong bộ Sử ký sách ẩn ký, còn gọi là Chiêu Ngư.

[23] Tô Lệ: là người đất Lạc Dương, là em Tô Tần, học được tài thuyết khách của anh.

[24] Trần Phong, Hướng Công, Hứa Công: đều là bề tôi của nhà Chu.

[25] Sử Yểm: cũng gọi là Sử Yếm, là bề tôi của vua Chu. Vua Chu đây là vua Vũ Vương của Tây Chu, không phải thiên tử của Đông Chu.


[26] Ưng Thị: tên một nơi ở trên đất Hàn, nay ở Hà Nam.
8. KHỎI BỊ CÁCH CHỨC
(Chu tướng Lữ Thương kiến khách ư Chu Quân)

Tướng quốc nước Chu là Lữ Thương dẫn khách đến yết kiến vua Chu (Văn Quân). Tướng quốc trước của Chu là Công Sư Tạ sợ người khách đó nói xấu mình, mới sai người tâu với vua Chu rằng: “Người khách đó là biện sĩ, nhưng không nên dùng vì hay huỷ bán kẻ khác”.

Chu Văn Quân cách chức Công Sư Tạ mà dùng Lữ Thương làm tướng quốc, người trong nước không vui, nhà vua sinh lo. Khách của Lữ Thương tâu với Chu Văn Quân:

- Trong nước thế nào cũng có lời khen lời chê. Bề tôi trung thì làm sao cho dân có chê thì chê mình, còn khen thì khen vua. Vua Tống bắt dân bỏ việc ruộng nương mà xây đài cho mình[1] bị chê là vì không có bề tôi trung che dấu lỗi cho vua; Tử Hãn xin từ chức tướng quốc mà nhận chức tư không, dân chê Tư Hãn mà khen vua[2]. Tề Hoàn Công dựng bảy dãy phố trong cung, mở bảy trăm nhà chứa điếm[3], bị quốc dân chê, Quản Trọng bèn dựng đài tam qui[4] để giấu lỗi của Hoàn Công chứ đâu có muốn dân ghét mình[5]. Sách Xuân Thu chép cả trăm truyện bề tôi giết vua mà trong các chuyện đó, các vị đại thần đều được tiếng khen, như vậy không phải là điều hay cho quốc gia. Cho nên “Đông người thì hoá mạnh, nhiều gò thì thành núi”.

Vua Chu bèn không cách chức nữa[6].

10. NGƯỜI ĐẤT ÔN KHÉO ĐỐI ĐÁP MÀ KHỎI BỊ GIAM
(Ôn nhân chi Chu)

Một người đất Ôn (thuộc nước Nguỵ), qua nước Chu, nước Chu đuổi đi, không cho ở. Người đó bảo: “Tôi là người ở đây mà!”. Hỏi: “Nếu chú ở đây thì chú phải biết tên đường này. Vậy đường này là đường gì?”. Người đó không biết, nên bị bắt giam. Vua Chu sai người hỏi:

- Chú không phải là người nước Chu mà sao lại tự xưng là người Chu?

Người đó đáp:

- Thần hồi nhỏ đọc Kinh Thi. Kinh Thi[7] có câu: “Khắp gầm trời, không đâu không phải đất của nhà vua; khắp mặt đất bến nước, không người nào không phải là bề tôi của vua”. Nay vua Chu làm vua thiên hạ thì tôi tức là bề tôi của thiên tử, chứ sao lại là người lạ được? Cho nên tôi bảo tôi là người Chu.

Vua Chu bèn ra lệnh thả người đó[8].

17. TRIỆU LẤY TẾ ĐIỀN CỦA CHU
(Triệu thủ Chu chi tế địa)

Triệu lấy tế điền[9] của Chu, vua Chu lo, bàn với Trịnh Triệu, Trịnh Triệu tâu:

- Xin đại vương đừng lo. Thần xin đem ba chục nén vàng thu hồi lại.

Chu giao cho số vàng. Trịnh Triệu dâng số vàng cho viên thái bốc[10] nước Triệu, nhờ thu xếp giùm việc tế điền. Đến khi vua Triệu đau, sai viên thái bốc bói quẻ. Viên thái bốc trách vua: “Lấy tế điền của Chu, nên bị quỉ thần ếm đấy”. Vua Triệu bèn trả tế điền cho Chu.

18. VUA NƯỚC NGHÈO NÊN LỰA BỀ TÔI RA SAO?
(Đỗ Hách dục trọng Cảnh Thuý ư Chu)

Đỗ Hách[11] muốn cho vua Chu trọng dụng Cảnh Thuý, tâu với vua Chu:

- Nước nhà vua thì nhỏ, đem hết cả vàng ngọc châu báu ra thờ[12] chư hầu cũng không được, điều đó không thể không đem ra xét kỹ. Thí dụ như giăng lưới, giăng ở chỗ không có chim thì suốt ngày cũng không bắt được chim; giăng ở chỗ nhiều chim thì lại làm cho chim sợ; cho nên phải giăng ở cái khoảng có chim và không có chim, rồi sau mới bắt được nhiều chim. Nay nhà vua thi ân cho bậc đại nhân[13] thì họ khinh nhà vua, không thèm nhận; thi ân cho bọn tiểu nhân[14] thì họ không giúp được gì mà lại phí tiền của; cho nên nhà vua phải thi ân cho hạng cùng sĩ[15] có mặt ở đây, không cần họ phải là bậc đại nhân, như vậy mới được như ý.

20. TƯỚNG QUỐC CHU KHÔNG MUỐN QUA TẦN
(Tam quốc ải Tần)

Ba nước (Hàn, Triệu, Nguỵ) chận nghẹt Tần. Chu sai tướng quốc qua Tần, tướng quốc sợ rằng Tần khinh mình, nán lại không đi. Có người bảo tướng quốc Chu.

- Tần khinh hay trọng ông, điều đó chưa biết chắc được. Tần muốn biết tình hình ba nước. Sau bằng ông qua yết kiến vua Tần, bảo: “Tôi xin vì đại vương mà xét qua tình hình ba nước phương Đông”[16]. Như vậy Tần tất trọng ông, (mà sẽ trọng nhà Chu) và ông (có công) làm cho Tần trọng Chu, mà Chu sẽ thu phục được Tần. Chu Tụ[17] liên lạc với Tề, khiến cho Chu được Tề trọng. Nay ông có liên lạc với Tần thì Tần mới trọng Chu mà Chu mới thường giữ được mối giao tình với các cường quốc.

21. XƯƠNG THA BỊ GIẾT
(Xương Tha vong Tây Chu)

Xương Tha[18] bỏ Tây Chu mà qua Đông Chu, đem tình hình kể hết với Đông Chu; Đông Chu rất mừng, Tây Chu rất giận. Phùng Đán[19] tâu với vua Tây Chu:

- Thần có cách giết hắn được.

Vua Tây Chu cho Phùng Đán ba chục cân vàng. Phùng Đán sai người đem vàng và một bức thư viết cho Xương Tha mà qua Đông Chu. Thư rằng: “Cho Xương Tha hay: việc mà thành được thì rán làm cho thành đi; không thể thành được thì gấp bỏ về đi. Nếu để lâu mà tiết lộ thì thân nguy đấy”. Rồi một mặt lại sai người báo với viên chức Đông Chu tiếp đón khách ngoại quốc: “Đêm nay có kẻ gian tính vô đấy”. Viên chức đó bắt được thư dâng lên vua Đông Chu, vua Đông Chu lập tức sai giết Xương Tha.

23. CHU SỢ HÀN GIẬN VỀ VỤ NGHIÊM THỊ
(Nghiêm Thị vi tặc)

Nghiêm Thị[20] muốn ám sát tướng quốc nước Hàn, sai Dương Thụ[21] giúp kẻ thích khách. Dương Thụ qua Chu, vua Chu lưu lại mười bốn ngày, rồi cho xe bốn ngựa đưa đi. Hàn sai người trách Chu, vua Chu lo. Có người khách[22] tâu với vua Chu:

- Nhà vua nên nói thẳng rằng: “Quả nhân biết rằng Nghiêm Thị muốn ám sát tướng quốc[23] nước Hàn mà sai Dương Thụ giúp kẻ thích khách, cho nên lưu Dương Thụ lại mười bốn ngày để đợi lệnh vua Hàn. Nước nhỏ đâu dám chứa thích khách, mà sứ giả của vua Hàn lại không tới, cho nên phải cho xe đưa hắn đi”.

---------------
[1] Năm thứ 7 đời Chu Tương Công, vua Tống san quan thái tể xây đài. Tử Hãn khuyên đợi hết mùa làm ruộng của dân rồi hãy khởi công, quan thái tể không nghe.

[2] Tử Hãn xin từ chức tướng quốc mà nhận chức tư không (một chức hình quan), tâu với vua Tống: “Chức tướng quốc là chức thưởng công, giao quyền cho người, xin đại vương tự đãm nhiện lấy; còn chức tư không là chức xử tội người, bị người oán, thần xin đãm nhận”. Dân chê Tử Hãn là nghiêm khắc mà khen vua là khoan hồng.

[3] Tề Hoàn Công cất bảy dãy phố buôn bán trong cung; Quản Trọng, tước quốc của Hoàn Công, hiệu Di Ngô, lập những nhà nuôi gái điếm để đánh thế, làm lợi cho ngân quỹ quốc gia. Lần đó là lần đầu tiên ở Trung Hoa có một tổ chức như vậy.

[4] Có thuyết tam qui là một người đàn bà có ba chồng: đàn bà xuất giá về nhà chồng gọi là qui. Chúng tôi theo thuyết: xây đài tam qui. Quản Trọng cho xây đài đó, ngụ ý rằng ba hạng người qui phục mình: dân qui phục, chư hầu qui phục, các rợ qui phục.

[5] Ý nói Quản Trọng dựng đài tam qui để cho dân ghét mình là xa xỉ, kêu căng, mà quên lỗi của Tề Hoàn Công đi.

[6] Nguyên văn chỉ chép: Chu Quân toại bất miễn. Diệp Ngọc Lân dịch là: Vua Chu bèn không cách chức Lữ Thương. Có thể hiểu rằng không cách chức Lữ Thương mà dùng cả Công Sư Tạ (vào một chức khác): như vậy hợp với nghĩa câu: “Đông người thì hoá mạnh” ở hàng trên.

[7] Trong thiên Bắc Sơn, tập Tiểu Nhã.

[8] Bài này có chép trong thiên Thuyết lâm thượng, bộ Hàn Phi Tử.

[9] Tế điền: ruộng mà huê lợi để cung cấp vào việc tế tự (nguyên văn là tế địa).

[10] Thái bốc: viên coi việc bói cho vua.

[11] Đỗ Hách: một người ở triều đình Chu.

[12] Tiếng thờ này tỏ rằng vua Chu lúc đó không có uy quyền gì cả, kém xa các bá vương.

[13] Thi ân ở đây là thu dùng. Đại nhân: trỏ những người có danh vọng cao, chức tước lớn.

[14] Tiểu nhân: trỏ bọn nghèo hèn, không có tài năng, tiếng tăm.

[15] Cùng sĩ: kẻ có tài, đức mà chưa hiển đạt.

[16] Phương Đông: trỏ các nước Hàn, Triệu, Nguỵ đều ở phía đông của Tần.

[17] Tức Chu Tối. Hồi xưa chữ Tụ và chữ Tối dùng thay nhau. Chu Tối vốn là công tử nước Chu, có hồi làm quan ở Tề, làm đại thần ở Tần.

[18] Xương Tha: bề tôi của Tây Chu. Có chỗ chép là Cung Tha.

[19] Phùng Đán cũng có tên là Phùng Tuy, cũng là bề tôi của Tây Chu.

[20] Nghiêm Thị: tức Nghiêm Trọng Tử, tên Toại, nhờ Nhiếp Chính ám sát tể tướng nước Hàn tên là Hiệp Luỵ. [Trong truyện Hiệp sĩ Nhiệp Chính (Hàn II -19) lại kể chuyện Nhiếp Chính ám sát tướng quốc nước Hàn là Hàn Khôi. (Goldfish)].

[21] Dương Thụ: cũng có tên là Dương Kiên là người giúp Nhiếp Chính trong việc ám sát đó (coi truyện Hiệp sĩ Nhiếp Chính – Hàn II 19)

[22] Khách: người nước khác tới mà chưa nhận chức tước nào cả.

[23] Hai chữ tướng quốc do tôi thêm vào.
TÂY CHU

1. HÀN KHÁNH THUYẾT TIẾT CÔNG
(Tiết Công dĩ Tề vi Hàn, Nguỵ công Sở)[1]

Tiết Công lấy lẽ rằng Tề đã vì Hàn, Nguỵ mà đánh Sở, lại cùng Hàn, Nguỵ đánh Tần[2], nên xin Tây Chu giúp quân lính, lương thực. Hàn Khánh[3] vì vua Tây Chu nói với Tiết Công:

- Ông cho rằng Tề vì Hàn, Nguỵ đánh Sở, chín năm mà chiếm được những đất ở phía bắc Uyển, Diệp[4], làm cho Hàn, Nguỵ mạnh lên; nay lại đánh Tần cho Hàn, Nguỵ mạnh thêm nữa. Hàn, Nguỵ phía nam không lo Sở, phía tây không lo Tần, thì đất càng mở rộng mà càng được tôn trọng, Tề tất bị khinh thường. Gốc ngọn thay phiên nhau thịnh, đầy vơi có thời, tôi trộm vì ông mà lấy làm lo. Tôi nghĩ ông nên khuyên tệ ấp[5] kết hợp ngầm với Tần mà đừng đánh Tần, cũng đừng xin (Tây Chu) giúp quân lính lương thực. Ông chiếm Hàm Cốc[6] mà không đánh, rồi nhờ tệ ấp vì tình của ông mà nói với vua Tần (Chiêu Vương) rằng: “Tiết Công tất không đánh Tần cho Hàn, Nguỵ mạnh lên đâu. Sở dĩ tiến binh là để nhà vua (trỏ Tần) bảo Sở cắt đất phía đông[7] cho Tề đấy”. Vua Tần sẽ cho vua Sở về nước giảng hoà với Tề[8]. Thế là ông giúp cho tệ ấp nhờ đó mà trung với Tần; Tần nhờ Sở cắt đất ở phía đông rồi mà khỏi bị Tề đánh, nhất định là bằng lòng. Vua Sở được về nước, tất mang ơn Tề. Tề được đất ở phía đông mà càng mạnh, mà đất Tiết đời đời khỏi lo gì cả. Tần không bị suy nhiều mà ở phía tây Tam Tấn[9] thì thì Tam Tấn tất trọng Tề”.

Tiết Công đáp: “Phải”, rồi một mặt sai Hàn Khánh qua Tần, bảo ba nước (Tề, Hàn, Nguỵ) đừng đánh Tần, một mặt ra lệnh không mượn binh lính, lương thực của Tây Chu.

3. DU ĐẰNG BIỆN HỘ CHO VUA CHU
(Tần lịnh Xư Lý Tật nhập Chu)

Tần sai Xư Lý Tật[10] đem trăm cổ xe vô Chu, vua Chu đem trăm quân ra đón, vẻ rất kính trọng. Vua Sở (Hoài Vương) giận, trách Chu là trọng khách Tần. Du Đằng[11] bảo vua Sở:

- Xưa Trí Bá[12] muốn đánh Cừu Do[13], tặng vua Cừu Do một chiếc chuông lớn chở trong một chiếc xe rộng, mà theo xe mà đem binh vô Cừu Do, Cừu Do không phòng bị mà mất. Vua Hoàn Công[14] đánh úp Thái[15] mà tuyên bố rằng đánh Sở. Nay Tần là nước sài lang, có ý thôn tính Chu, sai Xư Lý Tật đem trăm cổ xe vô Chu, vua Chu sợ, coi cái gương Thái và Cừu Do mà phòng bị, cho nên dàn binh mạnh ở phía trước, nỏ cứng ở phía sau, nói là hộ vệ Tật mà thực là giam lỏng hắn. Vua Chu lẽ nào lại không yêu nước? Tôi sợ Chu không đề phòng như vậy, lỡ mà nước mất thì thêm lo cho đại vương.

Vua Sở đẹp lòng.

4. TÔ ĐẠI THUYẾT CÔNG TRỌNG
(Ung Thị chi dịch)

Đất Ung Thị lại bị Sở đánh, Hàn đòi Chu giúp binh lính và lương thực. Vua Chu lo, bàn với Tô Đại[16]. Tô Đại bảo:

- Có gì mà lo? Đại tôi xin vì đại vương khiến cho Hàn không đòi giúp binh lính và lương thực nữa, lại có thể làm cho đại vương được đất Cao Đô[17] (của Hàn).

Vua Chu mừng rỡ, bảo:

- Nếu được như vậy thì quả nhân xin đem việc nước theo lời ông.

Tôi Đại bèn qua yết kiến tướng quốc nước Hàn là Công Trọng, bảo:

- Ông không rõ mưu của Sở ư? Chiêu Ứng bảo vua Sở[18]: “Hàn bãi binh, kho lẫm rỗng, không có gì để giữ thành; ta để cho họ đói rồi chiếm, không quá một tháng là hạ được”. Nay vây Ung Thị đã năm tháng mà không hạ được, thế là Sở yếu rồi, mà vua Sở đã không tin kế của Chiêu Ứng nữa. Nay ông bắt Chu giúp quân lính, lương thực, khác gì tố cáo tình hình suy yếu của mình với Sở; Chiêu Ứng thấy vậy tất khuyên vua Sở tăng cường binh lực để đánh Ung Thị. Ung Thị tất mất.

Công Trọng bảo:

- Phải. Nhưng tôi đã sai sứ giả đi rồi.

Đại hỏi:

- Sao ông không đem đất Cao Đô mà cho Chu?

Công Trọng nổi giận, bảo:

- Tôi không bắt Chu giúp binh lính, lương thực, cũng đã là quá rồi! Tại sao phải cho Chu thêm đất Cao Đô?

Đại đáp:

- Cho đất Cao Đô thì Chu tất khuất phục mà liên kết với Hàn, Tần nghe tin đó tất giận lắm, đốt ấn tín[19] của Chu, không thông sứ với Chu nữa. Thế là ông đem cái đất Cao Đô nghèo xấu mà đổi trọn đất Chu[20]. Lợi như vậy mà sao không cho?

Công Trọng đáp:

- Hay.

Rồi không bắt Chu giúp binh lính, lương thực mà lại cho Chu thêm đất Cao Đô. Quân Sở không hạ được Ung Thị mà bỏ về.

6. TÔ LỆ BÀY KẾ CHO VUA CHU KHUYÊN BẠCH KHỞI ĐỪNG ĐÁNH HÀN
(Tô Lệ vị Châu Quân)

Tô Lệ bảo vua Chu:

- “Đánh bại Hàn, Nguỵ[21] giết Tê Vũ, đánh Triệu, chiếm Lạn, Ly Thạch, Kỳ[22] đều là Bạch Khởi cả; nhờ khéo dùng binh mà lại gặp vận trời. Nay hắn đánh Lương[23], Lương tất tan, Lương tan thì Chu nguy. Đại vương nên ngăn hắn lại.

Bảo Bạch Khởi[24]:

- Sở có Dưỡng Do Cơ giỏi bắn, đứng cách xa một trăm bước, bắn một chiếc lá liễu, trăm phát trăm trúng. Kẻ tả hữu khen: Giỏi!”. Có người đi qua bảo: “Giỏi đấy, ta có thể dạy cho người này phép bắn được!”. Dưỡng Do Cơ thách: “Ai cũng khen tôi bắn giỏi mà riêng ông lại bảo có thể dạy cho tôi được; cung đây sao ông không bắn thử coi?”.

“Khách đáp:

- Tôi không thể dạy ông cách duỗi tay trái co tay phải (cách giương cung). Nhưng ông bắn lá liễu đã trăm phát trăm trúng mà không nghĩ ngơi đi thì rồi chẳng bao lâu, khí lực suy, cung lật ngược, hoặc mũi tên cong, một phát cũng không trúng, công lao trước kia tiêu tan hết”.

“Nay ông (trỏ Bạch Khởi) đánh bại Hàn, Nguỵ, giết Tê Vũ mà phía bắc đánh Triệu, chiếm Lạn, Ly Thạch, Kỳ, đó là công của ông, công quá nhiều rồi, nay ông lại đem quân Tần vượt ải, đi ngang qua hai nước Chu, xéo Hàn mà đánh Lương. Đánh mà không thắng thì bao nhiêu công lao trước tiêu hết; ông nên cái bệnh mà đừng ra quân thì hơn”.

10. TẦN VỜI VUA CHU QUA ĐỂ ĐÁNH NGUỴ
(Tần chiêu[25] Chu Quân)

Tần vời Chu qua. Vua Chu ngại không dám đi. Có kẻ vì vua Chu bảo Nguỵ[26]:

- Tần vời vua Chu qua, là muốn bảo vua Chu đánh Nam Dương[27] của Nguỵ. Sao đại vương không đem quân đánh Hà Nam?[28] Vua Chu nghe tin đó, (tin Nguỵ đánh Hà Nam), sẽ có cớ để từ chối không qua Tần. Vua Chu không qua Tần, Tần tất không dám qua sông mà đánh Nam Dương.

11. CƠ MẪU KHÔI THUYẾT VUA NGỤY
(Tê Vũ bại ư[29] Y Khuyết)

Tướng Tần thắng Tê Vũ[30] ở Y Khuyết (rồi tấn công Chu), vua Chu qua Nguỵ cầu cứu, vua Nguỵ lấy lẽ tình hình Thượng Đảng[31] cấp bách mà từ chối. Vua Chu quay về, thấy vườn hoa nước Lương đẹp mà thích cảnh. Cơ Mẫu Khôi bảo vua Chu: “Vườn đất Ôn không kém những vườn này mà lại gần, thần xin vì đại vương mà chiếm lấy”.

Rồi trở lại yết kiến vua Nguỵ. Vua Nguỵ hỏi:

- Vua Chu oán quả nhân không?

Đáp:

- Không oán đại nhân thì oán ai? Tôi vì đại vương mà lo giùm. Vua Chu (vì là thiên tử) nên đứng ra lo liệu việc này, tính vì đại vương đem nước ra cản Tần, mà đại vương không chịu cản Tần cho Chu. Tôi nghĩ như vậy vua Chu tất đem nước mà thờ Tần, Tần sẽ đem hết binh ở ngoài biên giới cộng với nhân dân của Chu mà đánh Nam Dương và hai đất Thượng Đảng sẽ mất.

- Thế thì phải làm sao bây giờ?

Cơ Mẫu Khôi đáp:

- Xét cái thế của vua Chu, thì thờ Tần không có lợi, nhưng vua Chu lại ham tiểu lợi, nay đại vương hứa giúp vua Chu ba vạn lính để phòng thủ, lại tặng vườn đất Ôn thì vua Chu có cớ để tuyên bố với cha anh, trăm họ, mà lại được vườn đất Ôn để du lãm, tất không liên hợp với Tần. Tôi từng nghe nói vườn Ôn huê lợi mỗi năm tám chục nén vàng, vua Chu mà được vườn đó để thờ nhà vua thì mỗi năm sẽ đóng góp trăm hai chục nén, như vậy đất Thượng Đảng đã không mất mà nhà vua lại lợi bốn chục nén vàng.

Vua Nguỵ sai sứ là Mạnh Mão giao đất Ôn cho Chu và hứa giúp lính để phòng thủ Chu.

12. CUNG THA KHUYÊN CHU ĐỀ PHÒNG TẦN
(Cung Tha vị Chu Quân)

Cung Tha[32] bảo vua Chu:

- Nước Uyển cậy có Tần mà khinh Tấn, Tần mất mùa mà Uyển mất nước[33]; nước Trịnh cậy có Nguỵ mà khinh Hàn, Nguỵ đánh Thái mà Trịnh mất nước. Chu và Cử[34] bị Tề diệt, Trần và Thái[35] bị Sở diệt, đều cậy nước cứu viện mình mà khinh kẻ địch ở gần. Nay đại vương nên sai Chu Tối ngầm liên hợp với Triệu để đề phòng Tần, thì mới không mất nước.


----------------
[1] Sách in thiếu chữ Nguỵ (魏); còn nhan đề ở trên thì hai chữ Hàn Khánh (韩庆) in sai thành Hán Khách. (Goldfish).

[2] Tiết Công: tức là Điền Anh, cha Mạnh Thường Quân được phong ở đất Tiết (thuộc Tề) nên gọi như vậy.
Triều Chu Noãn Vương năm 17, Tề, Hàn, Nguỵ nhân Sở vì bội điều hợp tung nên đánh Sở. Cũng năm đó, Tiết Công từ Tần trốn về Tề, oán Tần, nên ước hội với Hàn, Nguỵ đánh Tần.

[3] Hàn Khánh: là bề tôi Tây Chu.

[4] Uyển, Diệp: là hai tên đất, nay ở Hà Nam.

[5] Lời nói nhũn, trỏ Tây Chu.

[6] Hàm Cốc: là một cửa ải hiểm trở ở biên giới phía đông nước Tần, nó như cửa ngỏ của Tần.

[7] Nguyên văn: đông quốc = nước phía đông, ở đây trỏ miền của Sở gần biển, giáp biên giới phía nam của Tề.

[8] Lúc đó Sở Hoài Vương bị cầm ở Tần.

[9] Tam Tấn: Đời Chu, nước Tấn có ba vị đại thần, một vị họ Hàn, một vị họ Nguỵ, một vị họ Triệu. Quyền hành của họ ngày càng lớn, sau họ chia Tấn là ba phần, mỗi nhà chiếm một, lập riêng một nước (Hàn, Nguỵ, Triệu) gọi là Tam Tấn. [Trong Sử Trung Quốc, cụ Nguyễn Hiến Lê cho biết nước Tấn bị chia ra làm ba nước Hàn, Nguỵ, Triệu và năm 376 tr. T.L. (Goldfish)].

[10] Xư Lý Tật: là em Tần Huệ Vương, tên là Tật, gần nhà có trồng cây xư (một loại cây to, gỗ xấu), nên gọi là Xư Lý Tử. Rất thông minh, mưu lược, nên người ta gọi ông là Tri Nang (túi khôn).

[11] Du Đằng: bề tôi Chu. Cũng có chỗ gọi là Du Thắng.

[12] Trí Bá: một vị quan nước Tần, họ Tuân, tên là Dao, khi mất được được tặng tên thuỵ là Tương Tử.

[13] Cừu Do: là tên đất, nay ở tỉnh Sơn Tây. Sách Hàn Phi Tử chép: “Trí Bá đem binh đánh Cừu Do, bị chặn giữa đường, mới sai đúc cái chuông lớn tặng vua Cừu Do, vua Cừu Do mừng, không chặn đường nữa, mời Trí Bá vô, vì vậy mà Cừu Do mất.

[14] Hoàn Công: tức Tề Hoàn Công, tên là Tiểu Bạch.

[15] Đánh Thái: Thái cũng đọc là Sái, tên nước. Nàng Thái Cơ, một phi tần của Tề Hoàn Công, nhiều lần vô lễ, Hoàn Công đuổi về nước Thái, nhưng chưa tuyệt hôn hẳn. Vua Thái đem Thái Cơ gả cho người khác, Hoàn Công giận, đem quân đánh.

[16] Tô Đại: theo Sử ký là em Tô Tần, có sách bảo là anh Tô Tần.

[17] Cao Đô: là tên đất ở Hàn, cũng gọi là Cảo Đô, nay ở tỉnh Hà Nam.

[18] Chiêu Ứng: là tướng võ nước Sở. Vua Sở đây là Sở Hoài Vương.

[19] Nguyên văn là tiết, tức phù tiết, cái ấn tín nhà vua giao cho người đi sứ để làm tin.

[20] Được trọn đất Chu vì Chu liên kết với Hàn, mà Hàn mạnh, Chu yếu thì Hàn bảo gì cũng nghe, nhất là Tần lại oán Chu, Chu càng cần Hàn che chở.

[21] Năm 22 đời Chu Noãn Vương, tướng Tần là Bạch Khởi thắng quân Hàn, Nguỵ ở Y Khuyết.

[22] Lạn, Ly Thạch, Kỳ: là tên ba ba nơi đều ở Triệu, nay thuộc tỉnh Tây Sơn. Việc xảy ra vào năm 33 đời Chu Noãn Vương. [Chắc tỉnh Sơn Tây bị in sai thành tỉnh Tây Sơn. (Goldfish).

[23] Lương: kinh đô của Hàn, nay là Hà Nam.

[24] Đây là ý của Tô Lệ mà lời của vua Chu. Crump dịch là: “Bệ hạ nên ngăn lại và bảo hắn như vầy”.

[25] Chiêu: các bản tôi tìm thấy trên mạng đều chép là triệu 召. Có thể bản hai cụ Gian Chi và Nguyễn Hiến Lê dùng chép là chiêu 招. (Goldfish).

[26] Sử ký của Tư Mã Thiên chép là Hàn.

[27] Nam Dương: đất của Nguỵ, nay thuộc tỉnh Hà Nam.

[28] Hà Nam: là đô thành Tây Chu, nay thuộc huyện Lạc Vương, tỉnh Hà Nam.

[29] Ư: sách in là ở, tôi sửa lại thành ư 於. Nhiều bản chép là vu 于. (Goldfish).

[30] Tê Vũ: là tướng Nguỵ, thua tướng Tần là Bạch Khởi.

[31] Thượng Đảng: tên đất ở Nguỵ, nay ở tỉnh Sơn Tây. Hàn cũng có một nơi tên là Thượng Đảng, nay cũng ở tỉnh Sơn Tây.

[32] Ở đây thì các sách đều chép là Cung Tha. (coi chú thích 3 trang 85). [Tức chú thích trong bài Xương Tha bị giết (Đông Chu 21). (Goldfish)].

[33] Uyển: là một nước nhỏ thời Xuân Thu quy thuộc Tần, không biết ở đâu. Gặp năm Tần mất mùa, loạn, không bảo vệ được Uyển, Tấn bèn chiến Uyển.

[34] Chu: ở đây không phải là Đông Chu, Tây Chu, mà là một nước có từ thời Xuân Thu, tới thời Chiến Quốc đổi tên là Trâu (nay thuộc tỉnh Sơn Đông), bị Sở diệt, chứ không phải bị Tề diệt như trong bài đã nói.
Cử: tên nước (nay thuộc tỉnh Sơn Đông), đời Chu Hiển Vương, năm 10 bị Sở diệt, sau mới quy về Tề.

[35] Trần: (nay thuộc tỉnh Hà Nam), đời Chu Kính Vương, năm 41, bị Sở diệt.
Thái: nay thuộc tỉnh Hà Nam, đời Chu Định Vương, năm 22, bị Sở diệt
CHƯƠNG II
TẦN SÁCH

Tổ tiên nhà Tần họ Doanh, tới đời Chu được phong tước Bá, từ Bá Ế truyền được mười đời, tới Phi Tử, Chu Hiếu Vương (909-894) phong cho Phi Tử một nước phụ thuộc ở đất Tần (nay thuộc Thiểm Tây, huyện Thanh Thủ).

Tới Tần Tương Công, vì có công với nhà Chu, được phong làm chư hầu, lúc đó mới lấy tên là nước Tần. Mới đầu lập kinh đô ở đất Khiên, sau dời đổi mấy lần, tới đời Tần Hiếu Công thì dựng đô ở Hàm Dương (nay gần huyện Hàm Dương).

Thời Chiến Quốc, Tần là một trong thất hùng, mỗi ngày một mạnh, sau cùng diệt các nước khác mà thống nhất Trung Quốc.
*
* *
TẦN I

1. TRUYỆN VỆ ƯỞNG
(Vệ Ưởng vong Nguỵ nhập Tần)

Vệ Ưởng bỏ Nguỵ mà qua Tần. Tần Hiếu Công dùng làm tướng quốc, phong cho ở đất Thương, nên gọi là Thương Quân[1]. Thương Quân cai trị Tần, phép lệnh rất công minh, vô tư: phạt thì không kiêng kẻ có uy quyền lớn, thưởng thì không vì tư tình. Hình pháp thi hành lên tới cả thái tử, thích chữ vào má và cắt mũi quan sư phó[2]. Một năm sau, trên đường có của rơi không ai dám lượm, dân không dám lấy bậy của người khác, quân lính rất mạnh, chư hầu đều sợ. Nhưng phép nghiêm quá mà ít thi ân, thành thử người ta chỉ miễn cưỡng mà phục.

Hiếu Công thi hành phép của Thương Ưởng được tám năm[3] tới khi đau nặng muốn truyền ngôi cho Thương Quân, Thương Quân không nhận[4].

Hiếu Công mất rồi, Huệ Vương lên thay, trị vì được một thời gian thì Thương Quân xin trở về Nguỵ. Có người bảo Huệ Vương:

- Đại thần mà quyền lớn quá thì nước nguy; kẻ tả hữu mà thân cận quá thì bản thân nguy. Nay ở Tần, đàn bà trẻ con đều nói: pháp lệnh của Thương Quân chứ không nói: pháp lệnh của đại vương, thế thì ngược lại chính Thương Quân mới là vua mà đại vương hoá thành bề tôi. Vả chăng, Thương Quân vốn là kẻ thù của đại vương xin đại vương xét kỹ[5].

Thương Quân trở về Tần[6], Huệ Vương cho xe ngựa xé thây[7], mà người nước Tần không ai thương xót.

2. TRUYỆN TÔ TẦN[8]
(Tô Tần thuỷ tương liên hoành)

Tô Tần[9] mới đầu đem kế liên hoành[10] thuyết Tần Huệ Vương[11] rằng:

- Nước của đại vương phía tây có những nguồn lợi của Ba, Thục[12], Hán Trung[13]; phía bắc có những sản vật như lạc đà đất Hồ, ngựa đất Đại[14]; phía nam Vu Sơn và Kiềm Trung[15] hiểm trở, phía đông có Hào Sơn và Hàm Cốc[16] kiên cố. Ruộng thì phì nhiêu, dân thì phong phú, chiến xa có vạn cổ, quân lính hăng hái có trăm vạn, cánh đồng màu mở rộng ngàn dặm, lương thảo súc tích nhiều, địa thế tiện lợi (cho việc công và thủ). Như vậy gọi là kho của trời, quả là một nước mạnh trong thiên hạ. Đại vương thì hiền minh, dân chúng thì đông đúc, chiến xa và ngựa thì tốt, sĩ tốt thuần thục về binh pháp, nhờ những điểm đó có thể kiêm tính được chư hầu, nuốt được thiên hạ, xưng đế mà thống trị. Xin đại vương lưu ý một chút cho thần bày tỏ mưu kế công hiệu.

Vua Tần đáp:

- Quả nhân nghe rằng lông, cánh chưa đủ thì chưa thể bay cao được; pháp lệnh[17] chưa thành thì chưa thể dùng hình phạt được; đạo đức chưa đầu đủ thì chưa thể sai dân được; chính giáo chưa thuận thì chưa thể làm phiền nhọc đại thần được. Nay đại nhân không ngại đường xa ngàn dặm, nghiêm chỉnh đến tận nơi chỉ giáo quả nhân, nhưng xin hẹn một ngày khác.

Tô Tần thưa:

- Thần vốn ngờ rằng đại vương không dùng kế của thần. Xưa vua Thần Nông đánh Bổ Toại[18], vua Hoàng Đế đánh miền Trác Lộc, cầm tù Xi Vưu[19], vua Nghiêu đánh Hoan Mâu[20], vua Thuấn đánh Tam Miêu[21], vua Võ đánh Cung Công[22], vua Thang đánh Hữu Hạ[23], vua Văn Vương đánh Sùng Hổ Hầu[24], vua Vũ đánh Trụ[25], vua Tề Hoàn dùng dùng chiến tranh mà làm bá chủ thiên hạ[26]. Do đó mà xét thì có ông vua nào mà không dùng chiến tranh. Hồi xưa dong rong ruổi chiến xa mà đánh nhau, dùng lời mà kết ước với nhau, mà thiên hạ thống nhất. Sau hợp tung liên hoành với nhau, mà việc binh đao không lúc nào nghỉ. Rồi bọn văn sĩ khéo léo tô điểm lời nói, chư hầu bị mê hoặc, vạn sự do đó phát ra, không thể dùng đạo lý mà sửa lại được. Pháp lệnh đã đầy đủ mà dân càng có thái độ hư nguỵ, thư tịch nhiều mà tạp loạn, trăm họ không đủ ăn, trên oán dưới, dưới oán trên, trăm họ không biết trông cậy vào đâu; càng giảng rõ và bày tỏ đạo lý thì chiến tranh không bao giờ ngừng. Văn từ càng phồn thịnh thì thiên hạ càng loạn. Mỏi miệng, điếc tai mà chẳng kết quả gì. Làm điều nhân nghĩa, giữ đức tín, mà thiên hạ không thân với nhau. Như vậy mới bỏ văn mà dùng võ, hậu đãi bọn chiến sĩ cảm tử, may áo giáp, mài binh khí, quyết thắng trên chính trường. Ở không mà mong được lợi, ngồi yên mà mong đất đai được mở rộng thì các bực ngũ đế, tam vương, ngũ bá[27], minh chủ hiền quân thời xưa đều muốn như vậy cả, nhưng cái thế không thể được, nên phải dùng đến chiến tranh. Cách xa nhau thì dùng xe mà tấn công, sát lại gần nhau thì dùng gậy kích mà đâm, có vậy mới lập được sự nghiệp lớn. Thế cho nên binh mã thắng ở ngoài thì nhân nghĩa mới mạnh ở trong, uy vọng vững ở trên, thì dân mới phục tòng ở dưới. Nay muốn thôn tính thiên hạ, xâm chiếm nước có vạn cổ xe, khuất phục địch quốc, thống trị hải nội, khiến con dân phải ngoan ngoãn[28], chư hầu phải thần phục thì tất phải dùng binh. Các bậc vua chúa nối nghiệp ngày nay bỏ cái đạo dùng binh đó mà đều loạn về chính giáo, mê hoặc về ngôn ngữ, chìm đắm vào biện luận[29]. Lấy đó mà xét[30] thì đại vương vốn không thể thực hành việc bá chủ được.

Tô Tần mười lần dâng thư thuyết vua Tần mà không có kết quả. Áo cừu đen đã rách, trăm cân vàng đã tiêu hết, thiếu tiền chi dụng, phải bỏ Tần về quê nhà, đùi quấn xà cạp, chân đi dép cỏ, đeo đẫy, hình dung tiều tuỵ, mặt mày xanh xạm, có vẻ xấu hổ.

Về tới nhà, vợ thản nhiên không rời khung cửi, chị không nấu cơm cho ăn, cha mẹ không hỏi han tới. Tô Tần bùi ngùi than rằng: “Vợ không coi ta là chồng, chị không coi ta là em, cha mẹ không coi ta là con, đều là lỗi của Tần này cả”[31].

Đêm đó lấy trong tráp cũ ra mấy chục bộ sách, tìm được bộ binh pháp Âm phù của Khương Thái Công[32], gục đầu trên án mà đọc, lựa chọn mà luyện cho thật nhuần, suy xét vào thời thế mà tìm cách ứng dụng. Đọc sách mệt mà buồn ngủ thì tự cầm vùi đâm vào vế, máu chảy tới bàn chân, bảo: “Có lẽ nào du thuyết bọn vua chúa mà không làm cho họ đem vàng ngọc gấm vóc tặng mình, đem chức khanh tướng tôn quí phong mình không?”.

Được một năm, công tinh luyện đã thành. Tô Tần tự nhủ: “Bây giờ thực là có thể du thuyết các vua chúa đương thời được”. Nghĩ vậy rồi qua miền Yên Ô, Tập Quyết[33], yết kiến Triệu Vương, thuyết Triệu Vương[34] trong một ngôi nhà lộng lẫy[35], vỗ tay mà đàm luận.

Triệu Vương rất mừng, phong Tô Tần chức Vũ An Quân, giao cho tướng ấn, cấp cho binh xa một trăm cỗ, gấm vóc ngàn tấm, ngọc bích trắng một trăm đôi, hoàng kim một vạn nén[36] mà theo hầu nhà vua để lập ước hợp tung[37], ly tán phe liên hoành và ức chế cường Tần. Vì vậy, Tô Tần làm Tể tướng ở Triệu mà cửa quan Hàm Cốc không thông với Tần nữa.

Đương thời đó, những nước lớn trong thiên hạ, những đám dân đông tới hàng vạn, những bậc vương hầu uy thế, những mưu thần có quyền hành đều muốn theo chính sách Tô Tần. Không phí một đấu lương, chưa làm mệt một tên lính, chưa dùng tới một tráng sĩ, chưa làm đứt một sợi cung, chưa làm gẫy một mũi tên, mà chư hầu thân ái nhau hơn anh em một nhà. Bậc hiền nhân được giao trách nhiệm[38] mà thiên hạ quy phục: một người được trọng dụng mà thiên hạ đều theo. Cho nên có câu rằng: “Mưu đồ vương bá, phải dùng chính trị chứ không dùng vũ dũng, phải dùng ở trong triều đình chứ không dùng ở ngoài cõi”.

Đương thời thịnh của Tô Tần[39], có vạn nén vàng để chi dùng, ngựa xe nối tiếp nhau rực rỡ trên đường mà các nước ở phía đông núi Hào[40] đều qui phục Triệu như thuận theo chiều gió khiến cho Triệu rất được tôn trọng.

Tô Tần vốn chỉ là kẽ sĩ ở trong hang cùng, cửa khoét trong tường, nhà bằng gỗ dâu mà then cửa cong queo[41] mà được ngồi xe, cưỡi ngựa, du lịch khắp thiên hạ, đến triều đình các chư hầu để thuyết phục, bịt miệng kẻ tả hữu của họ, không ai kháng cự nổi.

Khi Tô Tần đi du thuyết vua Sở, đường qua Lạc Dương, cha mẹ hay tin, cọ nhà quét sân, bày nhạc đặt tiệc ra ngoài ba chục dặm để đón rước, vợ chỉ dám liếc trộm, nghe trộm[42], còn chị thì bò như rắn, lạy bốn lạy, quỳ xuống tạ tội. Tô Tần hỏi:

- Này chị! Sao trước ngạo mạn thế mà nay cung kính thế!

Người chị đáp:

- Vì Quí tử[43] chức trọng mà tiền nhiều.

Tô Tần than:

- Ôi! Nghèo khốn thì bố mẹ không nhận làm con, giàu sang thì thân thích sợ sệt. Người sinh ở đời, thế lực, chức vị và tiền của có thể coi thường được đâu!



-----------
[1] Vệ Ưởng: là công tử nước Vệ, họ tôn, làm thủ hạ của tể tướng nước Nguỵ tên là Công Thúc Toa. Công Thúc Toa đau nặng, tiến cử Vệ Ưởng với Nguỵ Huệ Vương và dặn: “Nếu đại vương không dùng hắn thì giết hắn đi, đừng cho hắn ra khỏi nước Nguỵ”. Công Thúc Toa chết, vua Nguỵ không dùng mà cũng không giết Vệ Ưởng. Sau Tần Hiếu Công ra lệnh cầu hiền, Vệ Ưởng qua Tần được phong ở đất Thương (tỉnh Thiểm Tây ngày nay) nên cũng gọi là Thương Ưởng.

[2] Thái tử sau lên ngôi, tức Huệ Văn Vương; trong bài này gọi là Huệ Vương.
Thái tử phạm phép nước, Vệ Ưởng nghĩ rằng thái tử nối ngôi, không thể gia hình được, nên bắt sư phó (thầy dạy thái tử) chịu tôi thay vì không biết dạy thái tử.

[3] Có sách chép là mười tám năm.

[4] Có sách giảng dạy Thương Ưởng không nhận vì giữ đúng chủ trương của Pháp gia: bề tôi giữ phận bề tôi.

[5] Vì trước đã xử tội thầy học của Huệ Vương, làm nhục Huệ Vương.

[6] Thương Ưởng biết Tần khó dung mình, trốn tới một lữ điếm, chủ lữ điếm không dám chứa, bảo: “Theo lệnh của Thương Quân, khách tới xin trọ, phải có “bằng cứ” – tức cũng như thẻ căn cước ngày nay – thì mới được phép chứa. Ông không có “bằng cứ”, chứa ông thì tôi bị tội”. Thương Ưởng không có chỗ trú, phải trốn qua nước Nguỵ, người Nguỵ bắt giao lại cho Tần. Có sách chép rằng Thương Ưởng tự trở về Tần, dùng binh lực chống lại vua nhưng thất bại.

[7] Xé thây: là tội rất nặng, người ta cột đầu và tứ chi vào năm con ngựa, đánh cho ngựa chạy về năm phía, để xé thây làm năm đoạn. Chắc hồi đó cột phạm nhân vào xe ngựa, nên mới gọi là “xa liệt” (xe xé thây).

[8] Trong các sách Cổ văn quan chỉ, Cổ văn bình chú, dùng nhan đề: Tô Tần đem kế liên hoành thuyết vua Tần, nhưng xét ra nhan đề đó chỉ đúng với nửa trên của bài này thôi.

[9] Truyện này xảy ra ở cuối thời Chiến Quốc, vào khoảng tiền bán thế kỷ thứ IV trước Tây lịch. Các nước nhỏ đã bị các nước lớn thôn tính lần lần, rốt cuộc chỉ còn có thất hùng: Tề, Hàn, Nguỵ, Triệu, Tần, Sở, Yên. Tần thịnh hơn cả. Tô Tần người ở Lạc Dương, nước Triệu, hiểu rõ tình thế thiên hạ, dâng Tần kế liên hoành.

[10] Liên hoành: hoành có nghĩa là ngang, từ tây qua đông; liên là liền. Kế liên hoành là kế làm cho các nước suốt từ tây qua đông liên hiệp với nhau mà thờ Tần.

[11] Tần Huệ Vương: con Tần Hiếu Công, lên ngôi năm 338, tự xưng vương năm 325, giữ ngôi tới năm 293.

[12] Ba, Thục: là quận Ba, và quận Thục (nay ở Tứ Xuyên), sau gộp với nhau, gọi chung là đất Ba Thục.

[13] Hán Trung: nay ở Thiểm Tây và Hồ Bắc, vốn là đất của nước Sở.

[14] Hồ: tên gọi chung các rợ ở phương Bắc, nơi có loại lạc đà.
Đại: là một châu thời cổ, nay ở Sơn Tây và Hà Bắc, sản xuất nhiều ngựa.

[15] Vu Sơn: núi ở Tứ Xuyên, phía đông huyện Vu Sơn.
Kiềm Trung: vốn là đất của Sở, nay thuộc Hồ Bắc và Quí Châu. [Bản đăng trên trang http://www.eywedu.com/guwenjianshang/mydoc012.htm, giảng: Kiềm Trung: nay thuộc tỉnh Hồ Nam (Kiềm Trung: tại kim Hồ Nam tỉnh 黔中:在今湖南省). (Goldfish)].

[16] Hào Sơn: núi ở Hà Nam, địa thế hiểm trở.
Cửa Hàm Cốc: cũng ở Hà Nam, một nơi rất hiểm trở, hễ đóng cửa quan đó lại thì thời xưa không quân đội nào có thể vượt qua được.

[17] Nguyên văn: là văn chương, có sách chú thích là lễ nhạc.

[18] Thần Nông: theo truyền thuyết là một vị vua thời Thượng cổ, dạy dân cày cấy. Bổ Toại: là tên một nước thời cổ.

[19] Hoàng Đế cũng là một vị vua thời Thượng cổ. Trác Lộc: là tên núi, nay ở Hà Bắc. Xi Vưu: là một chư hầu thời Hoàng Đế, bạo ngược vô đạo, bị Hoàng Đế đem quân các chư hầu lại trừng trị, cầm tù rồi giết.

[20] Hoan Mâu: một người đời vua Nghiêu, nổi tiếng là ác, bị vua Nghiêu trị.

[21] Tam Miêu: cũng gọi là Hữu Miêu, tên nước thời xưa, bị vua Thấn đem quân diệt.

[22] Cung Công: cũng là một họ tàn bạo thời vua Thuấn, vua Thuấn sai vua Võ đánh.

[23] Hữu Hạ: tức vua Kiệt, một bạo chúa thời cổ.

[24] Sùng Hổ Hầu: là một quan khanh của vua Trụ, giúp vua Trụ làm điều tàn bạo, nên vua Văn Vương đem quân đánh.

[25] Trụ: một bạo chúa thời cổ.

[26] Tề Hoàn Công: một ông vua chư hầu thời Xuân Thu, nhờ Quản Trọng tổ chức lại chính trị, kinh tế, quân sự mà mạnh, Tề thành bá chủ các chư hầu.

[27] Ngũ đế: Năm đời vua thời thượng cổ: Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn.
Tam vương: Ba đời vua thời thượng cổ: Hạ Vũ, Thương Thang, Chu Văn Vương và Võ Vương.
Ngũ bá: Năm tước chư hầu mạnh thời Xuân Thu: Tề Hoàn Công, Tống Tương Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Công.

[28] Nguyên văn: tử nguyên nguyên, có nghĩa là thân ái trăm họ. Chúng tôi dịch như vậy cho hợp với ý trong đoạn.

[29] Ý nói bàn suông về nhân nghĩa, tranh nhau về lý thuyết đạo lý mà không chú trọng vào những cách thực tế làm cho binh mạnh nước giàu.

[30] Crump dịch là: cứ xét lời bàn của đại vương.

[31] Crump dịch là: Lỗi tại nước Tần cả. (Tô Tần trách vua Tần chứ không tự trách mình).

[32] Khương Thái Công: tức Lã Vọng, thuỷ tổ của Tề, có sách cho Âm phù là cuốn sách chép binh pháp của Lã Vọng, có sách lại cho sách chép binh pháp của Quỉ Cốc truyền lại.

[33] Yên Ô, Tập Quyết: là tên đất, không rõ ở đâu. [Bài đăng trên trang http://baike.baidu.com/view/591981.htm, chép là: Yên Ô Tập khuyết 燕乌集阙, và chú giải bốn chữ đó là: tên của một cung khuyết (cung khuyết danh 宫阙名). (Goldfish)].

[34] Triệu Vương: tức Triệu Túc Hầu 赵肃侯. (Theo bài vừa dẫn trên). (Goldfish).

[35] Nguyên văn: Hoa ốc, Crump cho nó là tên ngôi nhà. Có sách chú thích Hoa là núi Hoa Sơn, Hoa ốc có nghĩa là nhà cao như núi Hoa Sơn: ép.

[36] Nguyên văn: giật là 24 lượng.

[37] Tung: chính giữa là dọc, trái với hoành: là ngang. Tô Tần trước kia đem thuyết liên hoành thuyết Tần Huệ Vương, Tần Huệ Vương không nghe, nay dùng kế liên hợp các nước dọc từ phương Bắc đến phương Nam, từ Yên tới Sở để chống Tần ở phương Tây, vì vậy gọi là hợp tung. Theo sử thì mới đầu Tô Tần yết kiến Văn Hầu nước Yên, bàn kế hợp tung. Văn Hầu nghe, nhờ đi thuyết Triệu, Hàn, Nguỵ, Tề, Sở. Ông thành công, được mang tướng ấn sáu nước. Và Triệu làm tung trưởng (đứng đầu trong trục Nam – Bắc đó).
Kế đó làm cho Tần nguy vì sáu nước hợp nhất thì đất rộng gấp năm Tần, binh lực gấp mười Tần. Nhưng luôn luôn có những mâu thuẫn trong những vụ liên kết như vậy, và rốt cuộc chính sách của Tô Tần chỉ thi hành được ba năm rồi sự kết liên tan rã. Lúc đó Tần dùng chính sách liên hoành mà lần này do Trương Nghi đề nghị, rồi nhờ tài cầm quân của Bạch Khởi mà lần lần diệt được hết sáu nước kia.

[38] Trỏ Tô Tần.

[39] Crump dịch là: của nước Tần, nhưng thú thực không hiểu rõ nghĩa ra sao. Chúng tôi theo Diệp Ngọc Lân và Cổ văn quan chỉ. [Trong bài đã dẫn chép: Đương Tần chi long 当秦之隆, trong đó chữ Tần 秦 có thể hiểu là nước Tần hoặc là Tô Tần. (Goldfish)].

[40] Nguyên văn: “Ở phía đông núi”. Núi đó là núi Hào Sơn. Các nước đó là lục quốc. [Bản đăng trên trang http://www.eywedu.com/guwenjianshang/mydoc012.htm chép: Sơn đông chi quốc 山东之国...; và chú giải Sơn đông: chỉ núi Hoa Sơn ở phía đông (Sơn đông: chỉ Hoa Sơn dĩ đông 山东:指华山以东). (Goldfish)].

[41] Tả cảnh nhà cửa tồi tàn của Tô Tần.

[42] Nguyên văn: liếc mắt mà nhìn, nghiêng tai mà nghe, tỏ ý sợ sệt, không dám đối diện.

[43] Có sách bảo Quí tử là tên tự của Tô Tần. Có sách bảo “Quí tử” chỉ có nghĩa là “ông út”; người chị gọi Tô Tần như vậy.

Tôi mới tìm thấy bộ Chiến Quốc sách, Lá Bối xuất bản, năm 1973, bản scan do TimSach.Com cung cấp tại http://www.timsach.com.vn/viewSACHXUA16_24_Chien_Quoc_Sach.html#.


Mới dò qua vài trang đầu, tôi đã phát hiện và sửa được khá nhiều lỗi do tôi gõ sai và sửa được các lỗi in sai trong bản của nhà Từ điển Bách Khoa (tôi chỉ mới sửa trong bản .doc trên máy của tôi thôi).

Sau đây là bản đồ in trong bản Lá Bối:


Bản đồ Trung Hoa vào khoảng năm 330 trước T.L
3. TẦN HUỆ VƯƠNG MUỐN PHÁ KẾ HỢP TUNG CỦA TÔ TẦN
(Tần Huệ Vương vị Hàn Tuyền Tử)

Tần Huệ Vương bảo Hàn Tuyền Tử[1]:

- Tô Tần khinh quả nhân muốn dùng cái trí của hắn lừa gạt các vua Sơn Đông[2], dùng kế hợp tung để khinh Tần. Triệu vốn cậy đông nên bày mưu cấp vàng lụa cho Tô Tần để kết ước với các chư hầu. Chư hầu không thể hợp nhất được, kế đó chỉ như cột chân gà với nhau bắt chúng cùng phải đậu một chỗ, điều ấy đã rõ. Quả nhân phẫn uất, nén giận đã lâu, nay muốn Vũ An Hầu[3] đi giảng giải cho chư hầu.

Hàn Tuyền Tử khuyên:

- Không nên. Phá thành bạt ấp thì xin dùng Vũ An Tử; tuyên truyền cho quốc gia, đi sứ chư hầu thì xin dùng khách khanh là Trương Nghi[4].

Tần Huệ Vương đáp:

- Xin vâng lời chỉ giáo.

5. TRƯƠNG NGHI THUYẾT TẦN HUỆ VƯƠNG
(Trương Nghi thuế Tần Huệ Vương)

Trương Nghi bảo vua Tần (Huệ Vương):

- Thần nghe nói: không biết mà nói thì là bất trí, biết mà không nói thì là bất trung. Làm bề tôi mà bất trung thì đáng chết. Tuy nhiên, thần đem hết kiến văn ra bày tỏ, xin tuỳ lượng đại vương định tội. Thần nghe nói thiên hạ, từ Yên ở phương Bắc tới Nguỵ ở phương Nam liên hợp với Kinh (tức Sở), cố kết với Tề, thu phục thêm nước Hàn mà thành lập thế hợp tung, tính sẽ hướng về phía Tây Nam để làm khó cho Tần. Thần trộm cười kế đó. “Đời có ba lẽ bại vong mà thiên hạ đều mắc cả”. Lời đó đúng với bọn đó chăng?

Thần nghe nói: “Loạn mà đánh trị thì bại vong, tà mà đánh chính thì bại vong, nghịch mà đánh thuận thì bại vong”. Nay kho tiền bạc, binh khí của thiên hạ[5] không đầy, lẫm lúa rỗng không, đem hết cả dân chúng ra, dàn cả mấy triệu quân, phía trước là dao, phía sau là búa mà đều bỏ chạy, không biết chiến đấu tới chết. Không phải là dân chúng không biết chiến đấu tới chết, tại bề trên họ không biết trị đấy[6]. Hứa thưởng mà không thưởng, đe phạt mà không phạt, thưởng phạt không thi hành cho nên dân không chịu chiến đấu tới chết.

Nay Tần ban hiệu lệnh rồi thi hành thưởng phạt, có công hay không có công thì cứ theo đúng sự thực mà xét. Từ khi lọt lòng mẹ ra cho tới khi lớn không từng thấy giặc, mà khi có chiến tranh thì đứng dừng lại, phanh ngực ra, tay không mà sấn tới đạo nhọn, giẫm lên than hồng, quyết chết như vậy đó. Quyết chết và quyết sống khác nhau xa[7], mà dân dám quyết chết là vì thích ganh đua với nhau, một có thể thắng mười, mười có thể thắng trăm, trăm có thể thắng ngàn, ngàn có thể thắng vạn, vạn có thể thắng cả thiên hạ.

Nay địa hình của Tần, cắt chỗ dài bổ vào chỗ ngắn thì vuông vức được vài ngàn dặm, lính giỏi có cả trăm vạn. Hiệu lệnh, thưởng phạt của Tần, địa thế lợi hại của Tần, trong thiên hạ không nước nào bằng. Lấy những sở trường đó mà tranh đấu với thiên hạ thì thiên hạ không đủ cho Tần thôn tính. Vì vậy mà hiểu tại sao Tần hễ chiến là thắng, hễ đánh là chiếm được, hễ tấn công là phá được. Mở đất được mấy ngàn dặm, đó là công lớn; nhưng quân đội đã mệt mỏi, nhân dân khốn khổ, của cải suy giảm, ruộng đất bỏ hoang, kho lẫm trống rỗng, chư hầu bốn bên không phục, không làm bá vương được; nguyên do có gì lạ đâu, chỉ tại bọn mưu thần không tận trung đấy thôi.

Thần xin nhắc lại chuyện xưa. Xưa Tề ở phương nam phá nước Kinh[8], ở trung ương phá nước Tống, ở phương tây qui phục được Tần, ở phương bắc dẹp được Yên, ở trung ương sai khiến được vua Hàn, vua Nguỵ; đất rộng mà binh mạnh, hễ chiến là thắng, đánh đâu chiếm đấy mà ra lệnh cho thiên hạ. Con sông Tế trong, con sông Hà đục[9], hai con sông đó đủ làm chướng ngại; Trường thành luỹ lớn đủ làm quan tái, Tề là nước năm lần đánh thắng, chỉ có bmột lần thua mà Tề bị tiêu diệt[10]. Do đó mà xét chiến tranh là lẽ tồn vong của nước vạn thặng.
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

CHIẾN QUỐC SÁCH Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH   CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Dec 01, 2010 4:29 pm

Và thần lại nghe nói: “Đẽo gốc, đào rễ, đứng ở giữa cái hoạ thì hoạ sẽ mất”. Tần đánh nhau với Kinh, đại phá Kinh, đánh úp đất Dĩnh[11], chiếm Động Đình, Ngũ Chử[12], Giang Nam; vua Kinh[13] thua chạy, qua đông trốn ở Trần. Đương lúc đó, đuổi đánh quân Kinh sẽ làm lợi cho mình. Phía đông thắng Tề, Yên, giữa chiếm lấy Tam Tấn[14], như vậy chỉ một lần ra quân mà danh thành bá vương, chư hầu bốn bề triều phục. Nhưng bọn mưu thần không dùng kế đó, rút quân về, giảng hoà với Kinh, để cho Kinh thu lại được đất đai đã mất[15], gom lại được dân đã tan, lập được ngôi vua, dựng được tôn miếu, thống nhất thiên hạ mà hướng về phía Tây làm khó cho Tần ở phía Tây. Đó là lần thứ nhất thiếu chính sách dựng nghiệp bá.

Những kẻ đồng chí[16] trong thiên hạ đem quân lại phía dưới Hoa Dương[17], đại vương dùng mưu phá được; binh tới ngoài thành Lương[18], vây quanh Lương vài tuần[19] thì có thể diệt Lương được. Lương tan rồi thì Nguỵ có thể chiếm được, Nguỵ chiếm rồi thì Kinh, Triệu không còn chí chiến đấu nữa, Kinh, Triệu hết chí chiến đấu thì Triệu nguy. Triệu nguy thì Kinh hoá cô lập; rồi phía đông sẽ thắng được Tề, Yên, phía Trung ương sẽ xâm chiếm Tam Tấn. Như vậy chỉ một lần ra quân mà lập được cái danh bá vương, chư hầu bốn bề triều phục. Nhưng bọn mưu thần không dùng kế đó, rút quân về, giảng hoà với Nguỵ, để cho Nguỵ thu lại đất đã mất, gom lại được dân đã tan, lập được ngôi vua, dựng được tôn miếu. Đó là lần thứ nhì thiếu chính sách dựng nghiệp bá.

Trước kia Nhương Hầu[20] làm tể tướng nước Tần, dùng binh một nước mà muốn lập công cho hai nước[21], cho nên quân lính suốt đời phải phơi sương dãi nắng ở ngoài, dân chúng ốm yếu bệnh hoạn ở trong mà danh bá vương không thành. Đó là lần thứ ba thiếu chính sách dựng nghiệp bá.

Triệu là nước ở trung ương[22], chỗ mà dân cư hỗn tạp; dân nông nổi khó dùng, hiệu lệnh không nghiêm, thưởng phạt không giữ đúng, địa thế bất lợi, người trên không dùng hết sức dân. Nước đó vốn có cái địa thế vong quốc, mà lại không lo cho dân chúng, đem hết dân chúng, quân sĩ giàn ra phía dưới Trường Bình[23] để tranh đất Thượng Đảng của Hàn[24], đại vương dùng mưu phá được mà giết Vũ An Quân (là Triệu Quát). Đương lúc đó, nước Triệu vua tôi ghét nhau, kẻ sang người hèn[25] không tin nhau, vậy mà không chiếm Hàm Đan[26]. Nếu hạ Hàm Đan, làm chủ Hà Gian[27], rồi dẫn quân đi, phía tây đánh Tu Vũ[28], vượt Dương Trường[29], bắt Đại, Thượng Đảng phải đầu hàng. Đại có ba mươi sáu huyện, Thượng Đảng có mười bảy huyện; không dùng một chiếc mũ trụ, một chiếc áo giáp, không làm khổ một người dân, mà Tần chiếm được hết; không đánh Đại và Thượng Đảng mà hai đất đó về Tần. Đông Dương[30], Hà Ngoại[31] không đánh mà trở lại về Tề; từ Trung Sơn, Hồ Trì[32] trở lên phía Bắc, không đánh mà về Yên. Nhưng lúc đó chiếm Triệu thì Hàn tất mất, Hàn mất thì Kinh, Nguỵ không đứng một mình được; Kinh, Nguỵ không đứng một mình được thì chỉ ra quân một lần là làm cho Hàn sụp, Nguỵ suy; kẹp nước Kinh rồi qua phía đông để làm cho Tề, Yên yếu, khai thông vàm sông Bạch Mã[33] để làm ngập nước Nguỵ; một lần ra quân Tam Tấn mất, những nước hợp tung đều thua, đại vương chắp tay (ngồi không) mà đợi, thiên hạ qui phục mình, danh thành bá vương. Nhưng mưu thần không dùng kế đó mà rút quân về, giảng hoà với Triệu. Đại vương sáng suốt mà binh Tần lại mạnh, sự nghiệp bá vương đã không thành mà lại bị các vong quốc kia lừa, đều do sự vụng về của bọn mưu thần. Vả lại Triệu đáng mất mà không mất; Tần đáng làm bá mà không được làm bá , thì thiên hạ biết mưu thần của Tần ra sao rồi: đó là một. Lại đem hết quân lính đánh Hàm Đan mà không hạ được, liệng cả binh giáp, sợ sệt bỏ chạy, thiên hạ lại lượng cái sức Tần ra sao rồi: đó là hai. Kéo quân về, họp ở Lý Hạ[34], đại vương lại gom quân để chiến đấu, không đại thắng được, lại thua chạy nữa, thì thiên hạ lượng cái sức Tần ra sao rồi: đó là ba. Họ biết rõ mưu thần của ta trong triều, binh lực của ta ở ngoài cõi. Do đó mà xét, thần cho rằng kế hợp tung của thiên hạ há chẳng khó cho ta ư? Ở trong thì quân đội của ta mệt mỏi, dân chúng khốn đốn, của cải suy giảm, đồng ruộng bỏ hoang, kho lẫm trống rỗng; ở ngoài thì thiên hạ đồng lòng cố kết với nhau, xin đại vương lo lắng về việc đó.

Tục ngữ có câu: “Đau đáu lo lắng, cẩn thận từng ngày”. Nếu cẩn thận theo đạo thì chiếm được thiên hạ. Sao thần biết vậy? Xưa, vua Trụ làm thiên tử, thống suất cả triệu quân lính trong thiên hạ, bên trái uống nước sông ở Kỳ Cốc, bên phải uống nước sông Viên Thuỷ[35]. Nước sông Kỳ cạn mà nước Viên Thuỷ không chảy (vậy mà còn) lo đánh ông Vũ nhà Chu. Vũ Vương đem ba ngàn quân lính thô lậu đánh vua Trụ vào ngày Giáp Tí, đại phá quân trụ, cầm tù vua Trụ, chiếm đất, chiếm dân, thiên hạ không buồn rầu gì cả. Trì Bá thống suất ba nước[36], đánh Triệu Tương Tử ở Tấn Dương, khơi sông cho nước chảy vào Tấn Dương, ba năm, thành bị hạ. Tương Chủ dùng mu rùa cỏ thi coi quẻ đoán cát hung, xem nên hàng nước nào. Rồi sai Trương Mạnh Đàm[37] đi sứ, Trương Mạnh Đàm lén đi, phản bội lời ước với Trí Bá, nhờ thêm quân hai nước Hàn, Nguỵ tấn công nước của Trí Bá, cầm tù Trí Bá mà lập sự nghiệp cho Tương Tử.

Nay đất Tần, cắt chỗ dài bổ vào chỗ ngắn thì vuông vức được vài ngàn dặm, lính giỏi có tới cả trăm vạn. Hiệu lệnh, thưởng phạt của Tần, địa thế lợi hại của Tần, trong thiên hạ không nước nào bằng. Lấy đó mà tấn công thiên hạ thì có thể thôn tính được thiên hạ. Thần không sợ chết, xin yết kiến đại vương, bàn cái kế công phá chính sách hợp tung của thiên hạ, thắng Triệu, diệt Hàn, bắt Kinh, Nguỵ phải thần phục, bắt Tề, Yên phải thân với Tần, để thành danh bá vương, thần phục chư hầu bốn bên. Xin đại vương thử nghe thuyết của thần, một lần ra quân mà quân trong thiên hạ không bị phá, Triệu không thua, Hàn không mất, Kinh, Triệu không thần phục, Tề, Yên không kết thân với Tần, danh bá vương không thành, chư hầu bốn bên không triều phục, xin đại vương chém đầu thần đi để người trong nước biết rằng thần mưu tính mà không trung thành với vua.


-------------
[1] Hàn Tuyền Tử: là một ẩn sĩ học rất rộng của Tần.

[2] Sơn Đông: đây trỏ sáu nước: Yên, Triệu, Hàn, Nguỵ, Tề, Sở đều ở phía đông Hào Sơn của Tần.

[3] Vũ An Hầu: tức Bạch Khởi.

[4] Trương Nghi: là người nước Nguỵ, một thuyết khách có tài ngang với Tô Tần. Ông đem kế liên hoành giúp Tần Huệ Vương, được dùng làm khách khanh (nghĩa là một chức khanh phong cho người nước khác tới giúp Tần).

[5] Thiên hạ: ở đây trỏ lục quốc.

[6] Nguyên văn: bất năng sát (không biết giết). Diệp Ngọc Lân dịch là bất hành, không làm, không thi hành. Chúng tôi theo nghĩa câu sau mà dịch như vậy.

[7] Ý nói quyết chết là việc khó.

[8] Kinh: tức Sở.

[9] Sông Tế, sông Hà: là hai con sông ở Tây Bắc nước Tề. Sông Tế chảy qua Sơn Đông, rồi ra biển, quanh năm nước trong; sông Hà tức Hoàng Hà, quanh năm nước đục.

[10] Việc đó xảy ra đời Chu Noãn Vương, năm 31; Yên liên hiệp với Tần, Nguỵ, Hàn, Triệu đánh Tề, vua Tề thua chạy ra nước ngoài mà mất.

[11] Dĩnh: là kinh đô của Sở. [Nay thuộc tỉnh Hồ Bắc. Goldfish)]

[12] Động Đình: tức Động Đình Hồ, nay ở huyện Lạc Dương, tỉnh Hồ Nam.
Ngũ Chử: tức năm cái hồ, đều ở nước Sở.

[13] Vua Kinh: tức Sở Hạng Tương Vương. [Theo chú giải trong bài đăng trên trang http://news.juren.com/200711/24407.html, thì vua Kinh là Sở Khoảnh Tương Vương, tên Hoành (Kinh Vương: Sở Khoảnh Tương Vương, danh Hoành 荆王:楚顷襄王,名横). (Goldfish)]

[14] Tam Tấn 三晋: tức ba nước Hàn, Triệu, Nguỵ. (Sách in sai Tam Tấn thành Tam Hán). (Goldfish)

[15] Việc xảy ra đời Chu Noãn Vương, năm 39. Sở Tương Vương thu được đất phía Đông, rồi đoạt lại được đất ở phía Tây, đánh Tần, ba bốn năm sau giảng hoà với Tần.

[16] Trỏ những nước theo chính sách hợp tung.

[17] Hoa Dương: nay thuộc tỉnh Hà Nam.

[18] Thành Lương: tức kinh đô nước Nguỵ. (Goldfish).

[19] Mỗi tuần là mười ngày.

[20] Nhương Hầu: tên là Nguỵ Nhiễm, là em của mẹ Tần Chiêu Vương, được phong cho đất Nhương, nên gọi là Nhương Hầu. Đất Nhương trước của Hàn sau bị Tần chiếm, nay ở Hà Nam.

[21] Ý nói Nhương Hầu làm tể tướng nước Tần, mà vừa lo giúp Tần vừa ngầm lập riêng thành trì cho Nguỵ.

[22] Triệu ở phía nam nước Yên, phía tây nước Tề, phía bắc nước Nguỵ, phía đông nước Tần, vì ở trung ương, dân các nước thường lại cư trú, nên dân hoá hỗn tạp.

[23] Trường Bình: nay thuộc tỉnh Sơn Tây.

[24] Tướng Tần là Bạch Khởi đem quân đánh Hàn, chiếm đất Dã Vương, cắt đường tới Thượng Đảng, Thượng Đảng lâm nguy, đầu hàng Triệu. Tần đánh phá Thượng Đảng, dân chúng Thượng Đảng chạy qua Triệu, tướng Triệu là Liêm Pha đem quân tới Trường Bình để cứu Thượng Đảng. Sau Triệu lại sai tướng là Triệu Quát thay thế Liêm Pha, Tần sai Bạch Khởi thay thế Vương Hột, Bạch Khởi giết Triệu Quát.

[25] Sang trỏ các quan khanh, hèn trỏ các kẻ sĩ.

[26] Hàm Đan: là kinh đô nước Triệu, nay ở tỉnh Trực Lệ.

[27] Hà Gian: theo Hứa Khiếu Thiên là nơi biên giới chung của ba nước Yên, Triệu, Tề, nay ở tỉnh Trực Lệ. Ở hai bờ con sông Chương Hà, nên gọi là Hà Gian. Crump đoán là ở phía tây nước Nguỵ nhưng còn hồ nghi.

[28] Tu Vũ: cũng có tên là Ninh Ấp, nay ở Hà Nam.

[29] Dương Trường: có nghĩa là ruột dê, là một cửa ải hiểm trở của Triệu. Chỗ đường hẹp mà quanh co, dài ba dặm nên có tên ấy. Nay thuộc tỉnh Sơn Tây, phía nam huyện Hồ Quan.

[30] Đông Dương là đất của Triệu, nay ở Sơn Đông.

[31] Hà Ngoại: là miền phía ngoài Thanh Hà, thuộc nước Tề, và ở biên giới Triệu, nay thuộc tỉnh Trực Lệ.

[32] Trung Sơn, Hô Trì: Hô Trì là tên sông; Trung Sơn thuộc Triệu, phía bắc Hồ Trì, sau bị Yên cướp.

[33] Bạch Mã: nay ở tỉnh Hà Nam.

[34] Lý Hạ: là tên một thành trì nay ở Hà Nam.

[35] Kỳ Cốc: tên đất, nay thuộc tỉnh Hà Nam, ở đó có sông Kỳ chảy qua. Viên Thuỷ: là sông Viên. Hai nơi đó gần kinh đô vua Tuỳ.

[36] Ba nước: chỉ nước Hàn, nước Nguỵ và nước của Trí Bá.

[37] Trương Mạnh Đàm: dòng dõi công hầu nhà Tấn, làm bề tôi Triệu Tương Tử. [Thời Chiến Quốc, nhà Tấn suy, quyền lực nhà vua rơi và tay sáu họ, sau còn lại bốn họ: Trí (智), Nguỵ (魏), Triệu (趙), và Hàn (韓), trong đó họ Trí có thế lực mạnh nhất. Trí Bá (Trí Dao 智瑶) liên minh với họ Nguỵ và họ Hàn để đánh Triệu Tương Tử (Triệu Vô Tuất). Tuy nhiên, vì tính kiêu ngạo của Trí Dao nên họ Triệu đã bí mật thông đồng với họ Ngụy và họ Hàn lật ngược tình thế, tiêu diệt họ Trí. (theo http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_Qu%E1%BB%91c).
7. TƯ MÃ THÁC BÀN VỀ LẼ NÊN ĐÁNH THỤC
(Tư Mã Thác thỉnh phạt Thục)

Tư Mã Thác[1] tranh luận với Trương Nghi ở trước mặt Tần Huệ Vương. Tư Mã Thác muốn đánh Thục, Trương Nghi bảo đánh Thục không bằng đánh Hàn. Vua Tần bảo:

- Xin cho biết vì lẽ gì?

Trương Nghi đáp:

- Kết thân với Nguỵ, Sở, đem binh xuống Tam Xuyên[2] bít những cửa của Hoạn Viên, Câu Thị, chặn đường Đồn Lưu, lúc đó quân Nguỵ dẹp được Nam Dương, quân Sở chiếm được Nam Trịnh, binh Tần đánh Tân Thành, Nghi Dương thẳng tiến tới ngoài thành của hai nước Chu, thảo tội vua Chu, rồi chiếm luôn Nguỵ, Sở, Chu tự biết không có cách nào thoát khỏi được, tất phải dâng bảo vật là chín cái đỉnh cho Tần. Làm chủ chín cái đỉnh rồi, cứ theo bản đồ cùng hộ tịch, mượn danh thiên tử mà ra lệnh thiên hạ, thiên hạ ai không dám nghe, như vậy tất dựng được nghiệp vương. Còn như Thục là nước hẻo lánh ở phía tây, làm lãnh tụ các rợ Nhung, Địch, đem quân đánh thì binh lính mỏi mệt, dân chúng lao khổ mà không thành danh[3], dù chiếm được đất thì cũng không lợi. Thần nghe nói: “Tranh danh thì ở chốn triều đình, tranh lợi ở chốn thị tứ”. Nay đất Tam Xuyên và nhà Chu là chỗ triều đình, thị tứ của thiên hạ, mà đại vương không tranh chỗ đó, lại đi tranh đất mọi rợ, thế là bỏ cái nghiệp vương xa quá[4].

Tư Mã Thác bảo:

- Không phải vậy. Thần nghe nói: “Muốn cho nước giàu thì trước hết thì phải làm cho nước rộng; muốn cho binh mạnh thì trước hết phải làm cho dân giàu, muốn dựng nghiệp vương thì trước hết phải rộng thi hành nhân đức; ba cái đó mà đủ rồi thì tự nhiên được nghiệp vương trong thiên hạ”. Nay đất của đại vương còn hẹp, dân còn nghèo, cho nên thần xin tính cái việc dễ đã. Đất Thục kia là nước hẻo lánh ở phía tây, làm lãnh tụ các rợ Nhung, Địch, mà lại có cái loạn Kiệt, Trụ[5], nước Tần mình đem quân đánh thì có khác gì dùng chó sói đuổi đàn dê. Chiếm đất của Thục thì đủ làm rộng đất của Tần, chiếm được tài nguyên của Thục thì đủ làm giàu dân Tần. Chỉ cần chỉnh lý quân bị, không phải làm khó nhọc dân chúng mà Thục vội phải hàng phục ngay. Như vậy diệt được một nước mà thiên hạ không cho mình là bạo ngược, chiếm hết vật quí trong bốn bể[6] mà chư hầu không cho mình là tham lam, thế là ta chỉ nhất cử mà danh lợi đủ hai, lại được cái tiếng tốt là trừ kẻ bạo, dẹp cảnh loạn. Nay đánh Hàn mà uy hiếp thiên tử, uy hiếp thiên tử thì mang tiếng xấu mà vị tất đã có lợi; mà lại mang tiếng bất nghĩa, vì đánh nước Chu là việc thiên hạ không ưa, như vậy tất nguy! Thần xin bày tỏ lý do: Chu là tôn thất[7] của thiên hạ; Hàn là nước thân thiện với Chu, Chu tự biết rằng sẽ mất chín cái đỉnh, Hàn tự biết là sẽ mất đất Tam Xuyên, thì hai nước đó tất hiệp lực với nhau mà mưu tính việc chống đỡ, rồi liên hợp với Tề, Triệu mà xin Sở, Nguỵ giải cứu, đem chín cái đỉnh tặng Sở, cắt đất tặng Nguỵ, đại vương làm sao ngăn được; vì vậy mà thần cho là nguy, không bằng đánh Thục là ổn hơn.

Huệ Vương khen:

- Phải. Quả nhân nghe lời ông.

Rồi đem binh đánh Thục, mười tháng chiếm được, bình định xong. Vua Thục xưng là hầu, dùng Trần Trang[8] làm tướng Thục. Thục đã qui phục rồi, Tần càng thêm thịnh, mà coi rẽ chư hầu.

10. TẦN GIÚP NGUỴ ĐỂ NUỐT NGUỴ
(Sở công Nguỵ)

Sở đánh Nguỵ. Trương Nghi tâu với vua Tần (Huệ Vương):

- Nên giúp Nguỵ cho Nguỵ mạnh, Nguỵ mà thắng Sở thì sẽ nghe lời Tần, mà miền ở ngoài Tây Hà[9] sẽ về Tần; nếu không thắng, thì suy, không giữ được nước, đại vương sẽ chiếm lấy.

Vua Tần dùng kế Trương Nghi, đem vạn quân ở đất Bì Thị[10], trăm cổ xe để giúp Nguỵ. Tê Thủ thắng Sở Uy Vương[11], quân Nguỵ xong trận đó thì mệt mỏi, sợ Tần, quả nhiên phải dâng miền ở ngoài Tây Hà cho Tần.

11. TRẦN CHẨN ĐÁP VUA TẦN
(Điền Tân chi vị Trấn Chẩn thuế Tần Huệ Vương)

Điền Tân vì Trần Chẩn[12] mà tâu với Tần Huệ Vương:

- Thần e rằng đại vương cũng như vua nước Quách[13] mất. Tấn Hiến Công muốn đánh nước Quách mà ngại Chu Chi Kiều[14] còn ở triều. Tuân Tức[15] bảo: “Chu Thư[16] có câu: “Mỹ nhân làm cản trở lời can gián”. Rồi Tấn tặng vua Quách một đội nữ nhạc để làm loạn triều chính, Chu Chi Kiều can mà vua không nghe, bỏ đi, lúc đó Tấn mới đánh Quách, Quách thua. Rồi lại muốn đánh nước Ngu mà ngại Cung Chi Kỳ[17] còn ở triều. Tuân Tức bảo: Chu Thư có câu: “Trai trẻ mỹ miều làm mê được ông già”. Rồi Tấn tặng vua Ngu những trai trẻ mỹ miều, chỉ cho họ cách hại Cung Chi Kỳ; Cung Chi Kỳ can mà vua không nghe, rồi bỏ đi. Lúc đó Tấn mới đánh Ngu mà chiếm được.

Nay Tần tự xưng vương. Có thể làm hại Tần là Sở, Sở biết Hoành Môn Quân[18] khéo dụng binh, Trấn Chẩn là bực minh trí cho nên trọng dụng Trương Nghi, cho coi việc năm nước mà sau này tất hãm hại hai người kia[19].

Xin đại vương đừng nghe.

Trương Nghi quả nhiên lại từ biệt vua Tần rồi nhân đó về Chẩn. Vua Tần giận, không nghe. Trương Nghi lại nói xấu Trần Chẩn với vua Tần: “Chẩn rong ruổi[20] ở khoảng Sở và Tần, nay Sở không thân thiện với Tần mà thân thiện với Chẩn, thế là Chẩn vì mình chứ không vì nước. Vả lại Chẩn muốn bỏ Tần mà qua Sở, đại vương không hay ư?”.

Vua Tần bảo Trần Chẩn:

- Ta nghe người ta nói ông muốn bỏ Tần qua Sở; có thực vậy không?

Trần Chẩn đáp:

- Dạ có.

Vua Tần bảo:

- Lời của Nghi quả là đáng tin.

Đáp:

- Chẳng phải riêng Nghi biết điều đó, kẻ đi đường, ai cũng biết cả[21]. Hiếu Kỷ[22] kính yêu cha mẹ, thiên hạ ai cũng muốn có con là Hiếu Kỷ, Tử Tư[23] trung với vua, trong thiên hạ vua nào cũng muốn có bề tôi là Tử Tư. Nô bộc tì thiếp mà bán ở trong làng trong xóm được thì là nô bộc tì thiếp tốt[24]; thiếu nữ mà gả trong làng trong xóm được là thiếu nữ ngoan. Tôi mà không trung với đại vương thì Sở làm sao tin được là Chấn tôi sẽ trung với Sở. Trung với đại vương mà còn bị đại vương bỏ, bây giờ tôi không qua Sở thì qua đâu?

Vua Tần bảo:

- Đúng.

Rồi bỏ việc đó đi.

12. TRẦN CHẨN LẠI ĐÁP VUA TẦN
(Trấn Chẩn khứ Sở chi Tần)

Trần Chẩn ở Sở về Tần. Trương Nghi tâu với vua Tần:

- Trần Chẩn là bề tôi của đại vương mà đem tình hình trong nước bày tỏ với Sở. Nghi tôi không thể cộng sự với hắn được, xin đại vương đuổi hắn đi. Đuổi hắn mà hắn lại qua Sở thì xin đại vương giết hắn đi.

Vua Tần đáp:

- Đuổi hắn thì làm sao hắn dám qua Sở nữa?

Rồi gọi Trấn Chẩn vào, bảo:

- Tôi có thể chiều ý ông[25]. Ông muốn đi đâu? Ta cho sửa soạn xe đưa ông.

Trần Chẩn đáp:

- Thần xin qua Sở.

Vua Tần bảo:

- Trương Nghi cho rằng ông sẽ qua Sở. Tôi cũng tự biết rằng ông sẽ qua Sở. Ông không qua Sở thì còn biết đi đâu nữa.

Chẩn đáp:

- Thần mà ra khỏi nước Tần thì tất là đi qua Sở để cho hợp với sự mưu tính của đại vương và của Nghi và làm cho thiên hạ thấy rõ rằng thần qua Sở có phải để giúp Sở không. Nước Sở có một người nọ có hai vợ. Có kẻ ghẹo người vợ lớn tuổi, bị người này mắng cho; rồi ghẹo người vợ nhỏ tuổi, người này tỏ ý thuận. Không bao lâu người chồng có hai vợ đó mất. Có người bạn hỏi người ghẹo vợ người ta đó: “Anh sẽ cưới cô lớn tuổi hay cưới cô nhỏ tuổi?”. Đáp: “Cưới cô lớn tuổi”. Hỏi: “Cô lớn tuổi đã mắng anh, còn cô nhỏ tuổi đã thuận anh. Thì vì sao lại cưới cô lớn tuổi?”. Đáp: “Trước kia ghẹo người ta thì muốn người ta thuận mình; nay muốn cưới làm vợ thì muốn được người ta trung thành với mình mà mắng lại những kẻ sàm sỡ”.

Nay Sở Hoài Vương là bực minh quân, mà Chiêu Dương là bực tướng quốc hiền tài. Chẩn là bề tôi của Tần mà nếu thường đem tình hình của Tần bày tỏ cho Sở biết thì vua Sở tất sẽ không dùng tôi mà Chiêu Dương tất sẽ không chịu công sự với tôi. Như vậy sẽ đuổi tôi đi mà thiên hạ sẽ thấy rõ rằng tôi qua Sở không phải để giúp Sở.

* Chẩn ra, Trương Nghi vào, hỏi vua Tần:

- Trần Chẩn sẽ đi đâu?

Vua Tần đáp:

- Cái ông Chẩn đó, quả là bậc biện sĩ trong thiên hạ. Ông ta nhìn chăm chăm quả nhân mà bảo: “Chẩn tôi tất phải qua Sở”. Quả nhân không biết nói ra sao nữa. Rồi quả nhân hỏi: “Ông mà tất qua Sở thì lời của Nghi đáng tin quá”. Chẩn đáp: “Không phải chỉ có Nghi nói như vậy, kẻ đi đường ai cũng nói như vậy. Xưa kia Tử Tư trung thành với vua, trong thiên hạ vua nào cũng muốn có Tử Tư là bề tôi; Hiếu Kỷ có hiếu với cha mẹ, ai cũng muốn có con là Hiếu Kỷ. Cho nên nô bộc tì thiếp mà bán ở trong làng trong xóm được thì là nô bộc tì thiếp tốt; thiếu nữ mà gả trong làng trong xóm được là thiếu nữ ngoan. Tôi mà không trung với đại vương thì Sở làm sao tin được rằng Chấn tôi sẽ trung với Sở. Trung với đại vương mà còn bị đại vương bỏ, bây giờ Chẩn tôi không qua Sở thì qua đâu?

Vua Tần cho lời đó là phải nên trọng đãi Chẩn.

------------
[1] Tư Mã Thác: là người nước Tần. Tư Mã nguyên là một chức quan, sau thành tên họ.

[2] Tam Xuyên: tức sông Hà, sông Lạc, sông Y, ba con sông đó bao Đông Chu và Tây Chu.

[3] Không thành danh: nghĩa là không được làm thiên tử.

[4] Bỏ cái nghiệp vương xa quá: nghĩa là đánh Thục thì làm sao mà dựng được nghiệp vương.

[5] Ý nói nước Thục có vua dâm loạn.

[6] Bốn bể: đây có nghĩa là tứ di, bốn rợ.
Do câu này trong Nhĩ Nhả thích: “Cửu di, bát địch, thất nhung, lục man, vị chi tứ hải.
Có sách chép là Tây hải và giải thích là: biển có nhiều sản vật, nơi nào có nhiều sản vật, cũng gọi là “bể”. Thục ở phương Tây, mà lại có nhiều sản vật, nên gọi là Tây hải.

[7] Ý nói: Chu được các nước chư hầu tôn trọng là thiên tử.

[8] Trần Trang: là người nước Tần.

[9] Tức phía tây sông Hà, nay ở Thiểm Tây, Đại Lệ, Nghi Xuyên.

[10] Bì Thị: là đất của Nguỵ, nay thuộc tỉnh Sơn Tây.

[11] Tê Thủ: chỉ Công Tôn, tên là Diễn, người nước Nguỵ. Tê Thủ chính là một chức quan, Công Tôn Diễn làm chức đó.
Việc này xảy vào năm 39 đời Chu Hiển Vương.

[12] Trần Chẩn: làm quan ở Tần, rồi sau qua Sở.

[13] Quách: cũng gọi là Quắc, nay ở Thiểm Tây; khi nhà Chu dời đô qua phía đông (thời Đông Chu) thì nước Quắc dời qua Hà Nam ngày nay, sau bị Tấn diệt.

[14] Chu Chi Kiều: là đại phu nước Quách.

[15] Tuân Tức: là đại phu nước Tấn.

[16] Chu Thư: một phần trong Thượng Thư, tức Kinh Thư.

[17] Cung Chi Kỳ: là đại phu nước Ngu. Nước Ngu thuộc tỉnh Sơn Tây, sau bị Tấn diệt.

[18] Hoành Môn Quân là tướng của Tần.

[19] Chỉ Hoành Môn Quân và Trần Chẩn.

[20] Rong ruổi: đây nghĩa là qua lại để giao thiệp với Sở.

[21] Trong các bản đều có chữ viết (nói rằng) ở đây. Crump bỏ, chúng tôi cũng bỏ.

[22] Hiếu Kỷ: người đời Ân, mỗi đêm dậy năm lần để hầu hạ cha mẹ; mẹ mất sớm cha nghe lời vợ kế mà đuổi ông, ông chết ở xa nhà.

[23] Tử Tư: tức Ngũ Viên, người nước Sở, làm quan nước Ngô, hay can gián vua Ngô, vua giận, muốn viết, ông tự tử, vua đem bêu đầu.

[24] Vì nô bộc tì thiếp mà tốt thì ra khỏi nhà có người mua liền, không phải đem bán nơi xa.
Bài 1 và hai bài sau 12, chúng tôi theo bản của Thương Vụ ấn thư quán và của Tân Lục thư cục. Bản dịch của Crump (trang 85-87) mà ông đánh số là 14.11 và 14.12, gom cả hai bài làm một , sau khi đảo lên đảo xuống vài đoạn, như vậy có thứ tự mạch lạc hơn.
Đoạn trên chúng tôi cho in nghiêng ở bài 11, từ Trương Nghi lại nói xấu Trần Chẩn với vua Tần… cho tới cuối bài, Crump cho xuống bài 12, chỗ có ngôi sao. [Trong ebook này tôi thay dấu ngôi sao thành dấu hoa thị *. (Goldfish)].
Rồi trong đoạn in nghiêng ở bài 11, khoảng giữa đoạn đó, câu: Hiếu Kỷ kính yêu cha mẹ, ai cũng muốn có con là Hiếu Kỷ, Crump đưa xuống dưới câu: Tử Tư trung với vua, trong thiên hạ vua nào cũng muốn có bề tôi là Tử Tư; như vậy cho hợp với thứ tự cũng hai ý đó trong đoạn cuối bài 12, chỗ in nghiêng (đoạn vua Tần nhắc lại lời Trần Chẩn cho Trương Nghi nghe).

[25] Các bản chữ Hán chúng tôi dùng đều chép: Ngô năng thính tử ngôn. Crump dịch là: Tôi không dùng lời khuyên của ông được. Cơ hồ như Crump cho rằng có thêm chữ bất trước chữ năng. Ông bạn Trương Cam Khải cho mượn cuốn Quốc Sách tinh hoa (Thế giới thư cục) của Tần Đồng Bồi chú dịch, tăng dịnh thì đúng là: Ngô năng tử thính ngôn. Crump sai.

TẦN II

1. SỞ MẮC MƯU TRƯƠNG NGHI
(Tề trợ Sở công Tần)

Tề giúp Sở đánh Tần, chiếm Khúc Ốc[1]. Sau Tần muốn đánh Tề (để phục thù) nhưng Tề, Sở thân thiện với nhau, nên (Tần) Huệ Vương khó nghĩ, hỏi Trương Nghi:

- Ta muốn đánh Tề mà Tề, Sở hoà hảo nới nhau, ta lấy làm khó nghĩ, làm sao bây giờ?

Trương Nghi đáp:

- Xin đại vương cho sửa soạn xe và tiền bạc, thần xin đi thử xem.

Trương Nghi xuống phương nam, yết kiến vua Sở (Hoài Vương), tâu:

- Người mà vua tệ ấp chúng tôi quí nhất, không ai hơn đại vương, người mà Nghi tôi mong được thờ nhất cũng không ai hơn đại vương. Người mà vua tệ ấp chúng tôi ghét nhất không ai hơn vua Tề (Mẫn Vương), người mà Trương Nghi tôi ghét nhất cũng không ai hơn vua Tề. Nay tội của vua Tề đối với vua tệ ấp chúng tôi rất lớn, chúng tôi muốn đánh Tề mà đại quốc thân thiện với Tề, thành thử vua tệ ấp chúng tôi không làm bề tôi đại vương được. Nếu đại vương có thể đóng cửa ải, tuyệt giao với Tề thì tôi xin tâu với vua Tần dâng đại vương đất Thương Ô vuông sáu trăm dặm, như vậy Tề (không được Sở làm hậu viện) tất yếu, yếu thì tất bị đại vương sai khiến. Thế là phía bắc làm cho Tề yếu, phía tây được ân huệ của Tần, mà lại được cái lợi làm chủ đất Thương Ô, một việc được ba cái lợi.

Vua Sở rất mừng, tuyên bố ở triều đình:

- Quả nhân được đất ở Thương Ô vuông sáu trăm dặm.

Quần thần có mặt đều mừng vua Sở. Duy chỉ Trần Chẩn vô yết kiến sau là không mừng. Vua Sở bảo:

- Quả nhân không làm nhọc một tên lính, không làm hại một người dân mà được đất Thương Ô vuông sáu trăm dặm, quả nhân tự cho là khôn, các quan sĩ đại phu đều mừng quả nhân, duy có ông là không mừng, tại sao vậy?

Trần Chẩn đáp:

- Thần cho rằng đã không thể làm chủ được đất Thương Ô mà còn thêm tai vạ nữa, cho nên không dám mừng càn.

Sở Vương hỏi:

- Sao vậy?

Đáp:

- Tần sở dĩ kính nể đại vương vì đại vương thân với Tề. Nay đất Thương Ô chưa có thể làm chủ được mà Tề đã tuyệt giao với mình trước rồi, thì Sở hoá cô lập? Vả lại mình đòi được đất trước rồi mới tuyệt giao với Tề thì Tần tất không chịu; mình tuyệt giao với Tề trước rồi mới đòi đất thì tất bị Trương Nghi gạt; bị Trương Nghi gạt, đại vương tất hối hận, như vậy là phía tây thêm lo vì Tần, phía bắc tuyệt giao với Tề, hai nước đó tất đem quân đánh mình.

Vua Sở không nghe, bảo:

- Việc ta làm là phải rồi! Ông đừng nói nữa, đợi rồi sẽ biết.

Vua Sở sai người đi sứ tuyệt giao với Tề. Sứ giả chưa về, lại sai một người nữa đi. Trương Nghi trở về Tần, sai người đi qua Tề ngầm kết giao với Tề. Sở sai một vị tướng lại nhận đất Thương Ô của Tần. Trương Nghi về tới Tần rồi, cáo bệnh không vô triều. Vua Sở bảo :

- Ông Trương cho rằng quả nhân không tuyệt giao với Tề ư?

Rồi sai dũng sĩ qua cự nự với Tề. Trương Nghi biết rằng Sở đã tuyệt giao với Tề rồi, mới ra tiếp sứ giả, bảo:

- Xin ông nhận đất từ đó tới đó, bề ngang rộng sáu dặm.

Sứ giả đáp:

- Tôi nghe nói sáu trăm dăm, chứ không nghe nói sáu dặm.

Nghi bảo:

- Nghi tôi vốn nghèo, làm sao có được sáu trăm dặm?

Sứ giả về tâu với vua Sở. Vua Sở rất căm, muốn đem quân đánh Tần. Trần Chẩn nói:

- Thần được phép nói chăng?

Vua Sở đáp:

- Được, ông nói đi.

Chẩn tâu:

- Đánh Tần, kế đó hỏng, đại vương nhân việc này mà hối lộ cho Tần một ấp lớn, để Tần giúp mình đánh Tề; thế là mình mất cho Tần mà được đất của Tề để bù lại mà nước Sở mới bảo toàn được. Nay đại vương đã tuyệt giao với Tề, mà lại trách Tần gạt đại vương, thế là làm cho Tề và Tần liên hợp với nhau, Sở tất nguy.

Vua Sở không nghe, đem quân đánh Tần, Tần liên hợp với Tề, Hàn cũng theo giúp (Tần và Tề), quân Sở đại bại ở Đỗ Lăng. Đất đai dân chúng nước Sở đâu phải là yếu đuối, suy nhược, mà suý nguy vong vì không nghe lời Trần Chẩn mà quá nghe lời Trương Nghi.

2. TRẦN CHẨN THUYẾT VUA TẦN
(Sở tuyệt Tề)

Sở tuyệt giao với Tề, Tề đem quân đánh Sở, Trần Chẩn bảo vua Sở:

- Đại vương nên cắt đất để phía đông giảng hoà với Tề, phía tây giảng hoà với Tần.

Vua Sở sai Trần Chẩn qua Tần, vua Tần bảo:

- Ông là người Tần, quả nhân với ông có tình cố cựu[2]. Quả nhân bất tài, không thể tự coi việc nước được, cho nên ông bỏ quả nhân mà qua thờ vua Sở. Nay Tề, Sở đánh nhau, có người bàn nên cứu, có người bàn không nên cứu. Ông có thể nào lấy lòng trung mưu tính cho chúa công của ông rồi, còn dư tài thì giúp quả nhân được không?

Trần Chẩn đáp:

- Đại vương có nghe câu chuyện người nước Ngô qua chơi nước Sở không? Vua Sở rất mến người đó, người đó đau, nên sai người lại thăm.

Vua Sở hỏi: “Ông ta có thực đau không? Hay là nhớ cố quốc đấy?”. Kẻ tả hữu đáp: “Thần không rõ ông ta có nhớ cố quốc không. Nếu nhớ thì tất hát những bài ca nước Ngô”.

Nay Chẩn tôi vì đại vương mà hát bài ca nước Ngô. Đại vương có nghe câu chuyện Quản Dữ[3] không? Có hai con hổ tranh nhau một người mà vồ nhau. Quản Tranh Tử muốn đâm hai con hổ đó. Quản Dữ can:

- Hổ là loài thú dữ, thích thịt người, cho thịt người là ngon.

Nay hai hổ tranh nhau một người mà vồ nhau, con nhỏ tất chết, con lớn tất bị thương. Ông đợi lúc đó đâm con bị thương thì một lần mà được cả hai con, không mệt sức phải chiến đấu với một con (còn mạnh) mà được tiếng là đâm cả hai con.

Nay Tề, Sở đánh nhau, thì Tề tất thua, lúc đó đại vương đem quân cứu Tề, được cái lợi là cứu Tề mà không có cái hại đánh Sở. Tôi bày mưu như vậy với đại vương, còn nghe hay không, biết trước sau hay không thì tuỳ đại vương. Mưu tính là gốc của việc làm, nghe lời phải hay không là then chốt của sự tồn vong. Mưu tính sai mà nghe theo thì khó giữ được nước lắm. Cho nên có câu: “Mưu kế nào mà người ta đã cân nhắc kỹ lưỡng thì khó có thể lầm; nghe mà hiểu được đầu đuôi thì không mê loạn”.

5. BIỂN THƯỚC MẮNG VUA TẦN
(Y Biển Thước kiến Tần Vương)

Y sư Biển Thước[4] yết kiến Tần Vũ Vương[5]. Vũ Vương kể bệnh, Biển Thước xin trị. Kẻ tả hữu can:

- Đại Vương đau ở phía trước tai, phía dưới mắt. Trị thì chưa chắc đã hết mà tai lại hoá điếc, mắt lại hoá mờ mắt.

Vũ Vương đem lời đó nói với Biển Thước, Biển Thước giận, liệng cục đá[6] xuống, bảo:

- Đại vương vấn kế bực trí giả mà lại nghe lời kẻ ngu để hỏng việc. Điều đó cho tôi thấy chính trị của nước Tần; chỉ vì một hành động của đại vương mà mất nước.

6. CAM MẬU SỢ TẦN VŨ VƯƠNG NGHE LỜI GIÈM PHA
(Tần Vũ Vương vị Cam Mậu)

Tần Vũ Vương bảo Bảo Cam Mậu:

- Quả nhân muốn đem chiến xa vào đất Tam Xuyên[7] để cướp ngôi nhà Chu, như vậy quả nhân chết rồi danh sẽ bất hủ.

Cam Mậu đáp:

- Thần xin qua Nguỵ dụ Nguỵ đánh Hàn.

Vũ Vương sai Hướng Thọ đi theo để phụ tá. Cam Mậu tới Nguỵ, bảo Hướng Thọ: “Ông về cáo với vua Tần: “Vua Nguỵ nghe mưu kế của tôi, nhưng xin đại vương đừng đánh Hàn vội”. Như vậy việc mà thành thì công thuộc cả về ông”.

Hướng Thọ trở về, báo với vua Tần. Vua Tần thân đi đón Cam Mậu ở Tức Nhưỡng. Khi Cam Mậu tới, vua Tần hỏi nguyên do tại sao không đánh Hàn, Cam Mậu đáp:

- Nghi Dương là một huyện lớn; Thượng Đảng, Nam Dương là những nơi của cải súc tích lâu đời, tuy gọi là huyện mà thực ra là quận. Nay đại vương vượt nhiều nơi hiểm trở, xông pha của ngàn dặm để đánh, thần e khó được. Thần nghe nói Trương Nghi phía tây thôn tính đất Ba Thục[8], phía bắc chiếm miền ngoài ở Tây Hà, phía nam lấy được Thượng Dung; thiên hạ không khen Trương Nghi mà ca tụng tiên vương[9] là hiền, Nguỵ Văn hầu sai tướng là Nhạc Dương đáng Trung Sơn ba năm mà chiếm được, Nhạc Dương về kể công, Văn Hầu đưa cho ông ta coi một tráp đầy những thư nói xấu ông ta. Nhạc Dương cuối đầu sát đất, lại hai lạy, tâu: “Đó không phải là công của thần mà nhờ uy lực của bệ hạ”. Nay thần là kẻ bề tôi ở xa; khi Xư Lý Tật, Công Tôn Diễn giúp Hàn mà thuyết phục đại vương, đại vương tất nghe hai ông ấy. Như vậy là đại vương gạt nước Nguỵ mà thần bị Công Trọng Xỉ[10] oán.

Xưa kia, Tăng Tử[11] ở đất Bí. Đất Bí có một kẻ sát nhân trùng tên, họ với Tăng Tử. người ta báo tin cho bà mẹ Tăng Tử: “Tăng Sâm đã giết người!”. Bà mẹ Tăng Sâm bảo: “Con tôi không khi nào giết người!”, rồi lại thản nhiên ngồi dệt. Được một lát, có người lại nói: “Tăng Sâm đã giết người!”. Bà mẹ Tăng Tử vẫn thản nhiên ngồi dệt. Được một lát, lại có người nói: “Tăng Sâm giết người!”. Lần này, bà mẹ Tăng Tử sợ, liệng thoi, leo tường mà trốn. Tăng Sâm hiền như vậy, bà mẹ ông ta tin ông ta như vậy mà có ba người nghi thì bà mẹ hiền đó cũng không tin con được nữa. Nay thần không có đức bằng Tăng Sâm, mà đại vương tin thần lại không bằng mẹ Tăng Sâm tin con. Thần e rằng số người nghi thần không phải chỉ có ba, vậy đại vương phải vì thần mà liệng thoi mất.

Vua Tần bảo:

- Quả nhân không nghe họ đâu, xin thề với ông.

Và hai bên thề với nhau ở Tức Nhưỡng. Rồi mạnh Xư Lý Tật, Công Tôn Diễn đều can vua, vua muốn nghe, với Cam Mậu vào cho hay, Cam Mậu đáp:

- Tức Nhưỡng còn đó[12].

Vua Tần bảo:

- Phải.

Rồi dùng hết binh lực, lại sai Cam Mậu tấn công nữa và hạ được Nghi Dương.


---------------
[1] Khúc Ốc: vốn của Nguỵ, lúc này Tần đã chiếm được. Nay ở tỉnh Hà Nam.
Việc này xảy ra thời Khuất Nguyên và Khuất Nguyên rất đau lòng cho tổ quốc (Sở).

[2] Vì trước Trần Chẩn làm quan ở Tần.

[3] Quản Dữ: cũng gọi là Biện Dữ. Trong Sử ký gọi là Quản Thụ Tử.

[4] Biển Thước là y sư danh tiếng đời vua Hiên Viên. Thời Chiến Quốc, đời Triệu Giản Tử có một y sư họ Tần, tên Việt Nhân, nhà ở đất Lỗ cũng rất có tài, nên được người đương thời gọi là Biển Thước.

[5] Tần Vũ Vương: là con Tần Huệ Văn Vương.
[Tần Huệ Văn Vương còn được gọi là Tần Huệ Vương như trong các bài trước. Tần Vũ Vương cai trị từ 311 đến 307 tr.T.L (theo http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BA...0%E1%BB%9Bc%29http://baike.baidu.com/view/307633.htm). Trong bài này, việc Cam Mậu đánh Nghi Dương xảy ra trong đời Tần Vũ Vương, nhưng trong bài Đông Chu 2, hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê lại cho rằng việc Tần tấn công Nghi Dương, cũng do Cam Mậu chỉ huy, xảy ra vào năm 306 tr.T.L. Phải chăng Cam Mậu tiến đánh Nghi Dương từ năm 307 tr.T.L, qua năm sau, năm 306 tr.T.L (đời Tần Chiêu Tương Vương), mới chiếm được Nghi Dương? (Goldfish)].


Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

CHIẾN QUỐC SÁCH Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH   CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Dec 01, 2010 4:31 pm


[6] Cục đá này dùng để trị bệnh.
[Theo bài đăng trên trang http://tieba.baidu.com/f?kz=31890269, thì chữ thạch ở đây là thạch châm, tức cây kim bằng đá, người xưa dùng nó cắm vào da thịt để trị bệnh (Thạch: thạch châm, tức biêm, cổ nhân dụng dĩ trác bì nhục trị bệnh 石: 石针, 即砭, 古人用以扎皮肉治病). (Goldfish).

[7] Miền Tam Xuyên lúc đó thuộc Hàn. Hàn ở sát Chu. Đánh Hàn tức hiếp Chu.

[8] Theo bài Tần 1 7 thì việc Tần chiến đánh đất Thục là theo lời khuyên của Tư Mã Thác. Phải chăng việc Tần chiếm thêm đất Ba là do mưu tính của Trương Nghi? (Goldfish).

[9] Chỉ Huệ Vương, cha của Vũ Vương.

[10] Công Trọng Xỉ: là một bề tôi của nước Hàn.

[11] Tăng Tử: tức Tăng Sâm, môn đệ của Khổng Tử, hiệu là Tử Dư.

[12] Ý muốn nhắc lại lời thề với nhau hồi trước.
7. PHÙNG CHƯƠNG GẠT VUA SỞ
(Nghi Dương chi dịch)

Trong trận Nghi Dương, Phùng Chương bảo vua Tần:

- Không hạ được Nghi Dương thì Hàn, Sở thừa lúc ta suy nhược mà đánh, nước ta sẽ nguy. Vậy nên hứa cho Sở đất Hán Trung để Sở đẹp lòng. Sở đẹp lòng mà không tiến quân thì Hàn tất lẻ loi, không làm gì được Tần.

Vua Tần đáp:

- Phải.

Rồi sai Phùng Chương đem Hán Trung hứa với Sở. Hạ được Nghi Dương. Vua Sở nhắc lời hứa đòi Phùng Chương phải nộp đất Hán Trung.

Phùng Chương tâu với vua Tần:

- Đại vương đuổi thần đi.

Rồi, vua Tần đáp vua Sở:

- Quả nhân có hứa gì đâu?

8. CAM MẬU XUẤT TIỀN RIÊNG ĐỂ TĂNG TIỀN THƯỞNG CHO QUÂN LÍNH
(Cam Mậu công Nghi Dương)[1]

Cam Mậu đánh Nghi Dương, ba lần thúc trống mà quân không tiến tới được. Hửu tướng của Tần có một viên uý thưa với Cam Mậu:

- Ông không lượng sức, tất nguy to.

Cam Mậu bảo:

- Ta là người xa lạ mà được làm tể tướng ở Tần là nhờ đem việc Nghi Dương ra dẫn dụ nhà vua. Nay đánh Nghi Dương mà không chiếm được, ở trong thì bị Công Tôn Diễn, Xư Lý Tật lật, ở ngoài thì bị Công Trọng (Xỉ) đem việc nước Hàn làm khốn, thế là không có ngày lập công được nữa[2]. Ngày mai thúc trống lần nữa mà không hạ được thì đất Nghi Dương này là nơi chôn ta!

Rồi xuất tiền riêng ra để tăng tiền thưởng cho quân lính, hạ được Nghi Dương.

9. CAM MẬU ĐÁNH NGHI DƯƠNG
(Nghi Dương vị đắc)

Nghi Dương chưa chiếm được mà quân Tần bị thương đã nhiều, Cam Mậu muốn ngưng binh. Tả Thành bảo Cam Mậu:

- Ông ở trong thì bị Xư Lý Tật, Công Tôn Diễn công kích, ở ngoài thì bị Hàn Xỉ[3] oán, nay ông dụng binh mà không lập được công thì ông tất nguy. Ông nên tiến đánh Nghi Dương, hạ được Nghi Dương thì công ông lớn lắm. Xư Lý Tật, Công Tôn Diễn không có cớ công kích ông nữa, mà quân Tần chết nhiều, sẽ thâm oán hai ông đó (là những người đã bày mưu đánh Nghi Dương).

10. HÀN, SỞ ĐỀ PHÒNG NHAU
(Nghi Dương chi dịch)

Trong trận Nghi Dương, Sở phản Tần mà liên hợp với Hàn. Vua Tần lo. Cam Mậu tâu:

- Sở tuy liên hợp với Hàn nhưng không vì Hàn mà khai chiến với Tần đâu. Hàn cũng sợ nếu đánh nhau với Tần thì Sở sẽ gây rối ở phía sau, vậy Hàn, Sở tất phải đề phòng nhau. Sở nói rằng thân thiết với Hàn mà không nhắc lại oán cũ với Tần, vì vậy mà thần biết rằng Sở phải đề phòng Hàn.

11. CAM MẬU KHUYÊN VUA TẦN
(Tần Vương vị Cam Mậu)

Vua Tần bảo Cam Mậu:

- Người Sở đi sứ qua nước mình, có nhiều người giỏi, tranh biện với quả nhân, nhiều lần quả nhân đuối lý. Làm sao bây giờ?

Cam Mậu đáp:

- Xin đại vương đừng lo. Người giỏi mà đi sứ thì đại vương đừng nghe họ biện thuyết, người dở mà đi sứ thì đại vương hãy nghe. Như vậy thì (vua Sở) sẽ dùng kẻ dở mà không dùng kẻ giỏi, mà đại vương áp đảo được.

12. TÔ ĐẠI GIÚP CAM MẬU
(Cam Mậu vong Tần)

Cam Mậu bỏ Tần[4], định trốn qua Tề, ra khỏi cửa ải (Hàm Cốc), gặp Tô Tử[5] hỏi:

- Ông có nghe câu chuyện người con gái chưa chồng trên bờ sông không?

Tô Tử đáp:

- Chưa.

Cam Mậu kể:

- Trên bờ sông nọ, có một người con gái chưa chồng, nhà nghèo, không có đèn đóm. Các người con gái chưa chồng ở chung quanh bàn nhau muốn đuổi nàng đi[6]. Người con gái nghèo không có đèn đóm đó, khi sắp đi, bảo các người con gái chưa chồng kia: “Tôi vì nhà không có đèm đóm, nên thường tới quét nhà, trải chiếu cho các chị. Các chị tiếc chi chút ánh sáng thừa thiếu vào bốn bức vách? Xin các chị gia ân cho tôi, tôi có làm hại gì cho các chị đâu. Tôi tự cho làm giúp ích được các chị, sao lại đuổi tôi đi?”. Các người con gái chưa chồng kia cho rằng lời đó đúng, nên giữ lại.

Nay tôi là kẻ bất tiếu, vua Tần đuổi mà ra khỏi cửa ải, xin quét nhà và trải chiếu cho túc hạ, túc hạ đừng đuổi tôi đi.

Tô Tử bảo:

- Được. Tôi xin giúp cho ông được trọng dụng ở Tề.

Rồi qua phía tây thuyết vua Tần (Chiêu Tương Vương):

- Cam Mậu là người hiền, không phải là kẻ tầm thường, ở Tần được trọng dụng mấy đời. Từ Hào Tái, Khê Cốc[7] địa thế chỗ nào hiểm trở đều biết rõ. Nếu để ông ta giúp Tề, kết thân với Hàn, Nguỵ và mưu tính chống Tần thì không lợi cho Tần.

Vua Tần hỏi:

- Vậy thì phải làm sao?

Tô Đại đáp:

- Nên đem nhiều đồ lễ và bỗng lộc mà đón ông ấy về, ông ấy về thì an trí ông ấy ở Hoè Cốc, suốt đời không cho ra khỏi nơi đó, như vậy thiên hạ làm sao mà mưu tính hại Tần được.

Vua Tần bảo:

- Phải.

Rồi phong cho chức thượng khanh, giao cho tướng ấn, đón Cam Mậu ở Tề, Cam Mậu không tới. Tô Đại dối trá bảo Tề Mẫn Vương:

- Cam Mậu là người hiền. Nay Tần đem chức thượng khanh và tướng ấn để đón. Mậu mang ơn đại vương nên không đi, chỉ xin được làm bề tôi đại vương. Đại vương tính lấy lễ gì đãi ông ta? Nếu đại vương không giữ ông ta lại, thì ông ta tất không mang ơn đại vương. Họ được Cam Mậu là bậc hiền tài giúp sức mà chuyên dùng dân của cường Tần, thì ta khó mà thắng được.

Vua Tề bảo:

- Phải.

Rồi phong cho Cam Mậu chức thượng khanh và hậu đãi ông ta.

13. VUA TẦN ĐUỔI CÔNG TÔN DIỄN
(Cam Mậu tướng Tần)

Cam Mậu làm tể tướng nước Tần. Vua Tần (Vũ Vương) yêu Công Tôn Diễn, hứa có cơ hội sẽ phong chức cho, vì vậy bảo Công Tôn Diễn:

- Quả nhân sắp phong ông làm tể tướng.

Một kẻ lại của Cam Mậu giữa đường vô tình nghe được, cho Cam Mậu hay. Cam Mậu vào yết kiến vua:

- Đại vương lựa chọn tể tướng giỏi, xin lạy mừng đại vương.

Vua hỏi:

- Quả nhân giao việc nước cho ông, sao lại còn được tể tướng nào giỏi nữa?

Đáp:

- Đại vương sắp phong tê thủ[8] làm tể tướng mà.

Vua hỏi:

- Ông nghe ai nói vậy?

Đáp:

- Tê thủ cho thần hay.

Vua Tần giận tê thủ bép xép, đuổi tê thủ đi[9].

16. TUYÊN THÁI HẬU BẮT NGUỴ XÚ PHU CHẾT THEO MÌNH
(Tuyên thái hậu ái Nguỵ Xú Phu)

Tuyên thái hậu nước Tần yêu Nguỵ Xú Phu. Thái hậu đau nặng gần chết, ra lệnh: “Chôn ta thì phải chôn sống Nguỵ Tử theo ta”. Nguỵ Tử lo.

Dung Nhuế hỏi thái hậu:

- Thái hậu cho rằng chết rồi còn biết không?

Thái hậu đáp:

- Không.

Bảo:

- Thần linh như thái hậu, biết rõ rằng chết rồi thì không còn biết nữa. Vậy sao bắt người mà hồi sống mình yêu phải chết theo rồi chôn ở bên cạnh xác chết vô tri của mình, như vậy ích gì đâu? Còn như bảo rằng chết rồi còn biết thì tiên vương uất hận đã lâu, thái hậu lo cứu mình còn không xong, đâu có rảnh mà tư tình với Nguỵ Xú Phu nữa?

Thái hậu đáp:

- Phải.

Rồi bỏ việc đó.



-------------
[1] Bài 8 này, trong sách không có nhan đề. Cả hai nhan đề đều do tôi tạm đặt: một theo nội dung của bài và một dùng mấy chữ đầu bài: Cam Mậu công Nghi Dương (甘茂攻宜阳). (Goldfish).

[2] Nguyên văn: Thị vô phạt chi nhật dã. Crump dịch là: Ở đâu thì ngày ra trận cũng là ngày cuối cùng của ta. Chúng tôi đoán Cam Mậu muốn nói: đàng nào thì cũng chết.

[3] Hàn Xỉ: tức Công Trọng, làm tể tướng nước Hàn.

[4] Lúc đó Cam Mậu bị Hướng Thọ, Công Tôn Diễn gièm pha, phải bỏ trốn.

[5] Tô Tử: tức Tô Đại, lúc đó đi sứ cho Tề và qua Tần nên gặp Cam Mậu.

[6] Vì ngại đêm hôm nàng lén lút làm bậy mà mang tiếng cho cả xóm.

[7] Hào Tái: có lẽ là biên giới ở núi Hào Sơn.
Khê Cốc: trong Sử ký gọi là Quỷ Cốc, nay ở Thiểm Tây.

[8] Tức Công Tôn Diễn (tê thủ là một chức quan).

[9] Bài Tần II 13 này (Cam Mậu còn làm tể tướng nước Tần) sắp trước bài Tần II 12 (Cam Mậu bỏ Tần, trốn qua Tề) mới đúng theo thứ tự thời gian.
TẦN III

2. KHUYÊN YÊN ĐÁNH TỀ
(Tần khách khanh Tạo thuế Nhương Hầu)

Khách khanh của Tần tên là Tạo bảo Nhương Hầu:

- Tần phong ông đất Đào[1], ông nhờ thế lực của Tần mà phục chế các nước khác được vài năm. Việc đánh Tề mà thành, Đào (được đất của Tề) mà thành nước vạn cổ xe, đứng đầu các nước nhỏ mà chầu thiên tử, thiên hạ tất nghe, sự nghiệp như ngũ bá[2]. Đánh Tề mà không thành, Đào sẽ bị các nước láng giềng ghét mà không chống cự nổi. Cho nên đánh Tề là cái lẽ tồn vong của Đào. Ông muốn thành công, sao không sai người qua bảo tướng quốc nước Yên như vầy: “Thánh nhân không tạo được thời thế, nhưng thời thế tới thì không bỏ lỡ. Vua Thuấn tuy hiền, nếu không gặp vua Nghiêu thì không được làm thiên tử[3]; vua Thang, vua Vũ tuy hiền, nếu không gặp Kiệt, Trụ thì không lập được nghiệp vương[4], cho nên hiền như Thuấn, Thang, Vũ mà không gặp thời thì cũng không thành đế, vương. Nay đánh Tề, là thời cơ lớn của ông đấy. Nhân sức của thiên hạ mà đánh nước thù địch là Tề, rửa cái nhục của Huệ Vương, lập được cái công của Chiêu Vương[5], trừ được cái hại cho vạn đời; đó là cái lợi lâu dài của Yên và cái danh lớn của ông. Kinh Thư có câu: “Trồng đức không gì bằng tưới bón nó; trừ hại không gì bằng trừ cho hết”. Ngô không diệt Việt thì Việt diệt Ngô[6]; Tề không diệt Yên thì tất diệt Tề[7]. Tề bị Yên diệt, Ngô bị Việt diệt, đó là do trừ hại mà không trừ hại cho hết. Không nhân thời này mà lập công cho ông, trừ hại cho ông, nếu Tần bỗng vì việc khác xảy ra mà về phía Tề, Tề Triệu liên hiệp, thì Tề thù ông tất sâu. Mang mối thù ông, họ sẽ đánh Yên, sau ông có hối cũng không kịp. Ông nên dốc hết binh của Yên mà đánh gấp Tề đi, thiên hạ sẽ theo ông; như cùng nhau báo cái thù cha con. Nếu diệt được Tề, ông sẽ được phong đất Hà Nam, thành nước lớn, tiếp thông với Trung Quốc[8], phía nam liên kết với các nước lân cận là Đào, đời đời khỏi lo. Xin ông chuyên tâm vào việc đánh Tề mà đừng lo gì khác nữa.

8. PHẠM TUY DÂNG THƯ LÊN TẦN CHIÊU VƯƠNG
(Phạm Tử nhân Vương Kê nhập Tần)

Phạm Tử[9] theo Vương Kê[10] vô Tần, dâng thư lên Tần Chiêu Vương.

- Thầm nghe rằng bậc minh chủ trị nước, kẻ có công thì được thưởng, có tài thì được dùng, kẻ khó nhọc nhiều thì bổng hậu, kẻ có công nhiều thì được tước cao, giỏi trị dân thì được chức lớn, cho nên kẻ vô tài thì không dám nhận chức mà kẻ có tài không dám lẫn trốn. Nếu đại vương cho lời nói của thần là phải thì xin thi hành cho thêm lợi; không thi hành thì giữ thần ở lại lâu không ích gì.

Tục ngữ có câu: “Bực dung chủ[11] thương kẻ mình yêu mà phạt kẻ mình ghét”. Bực minh chủ thì không như vậy, thưởng thì tất thưởng kẻ có công, trị thì tất trị kẻ có tội. Nay bụng của thần không chịu nổi dao dùi, lưng của thần không chịu nổi búa rìu[12] thần đâu dám đem việc còn khả nghi mà trình bày để thử thách đại vương. Đại vương tuy cho thần là hèn mọn mà khinh bỉ làm nhục thần, không trọng dụng thần, nhưng người đã đảm bảo cho thần ở trước mặt đại vương có thể nào phản phúc, trước sau bất nhất được không?

Thần nghe nói nước Chu có ngọc Chỉ Ách, nước Tống có ngọc Kết Duyên, nước Lương có ngọc Huyền Lê, nước Sở có ngọc Hoà Phát[13], bốn bảo vật đó, đều có danh trong thiên hạ mà bọn thợ ngọc thì không biết quí. Vậy thì cái mà bực thánh vương bỏ đi, không đủ để làm lợi cho quốc gia ư?[14]

Thần nghe nói muốn khéo làm lợi cho nhà thì cướp của nước, muốn khéo làm lợi cho nước thì cướp của chư hầu. Trong thiên hạ có bực minh chủ thì chư hầu không dám chuyên làm lợi cho mình. Tại sao vậy? Là do lẽ khinh trọng vậy[15]. Bậc lương y biết con bệnh sống hay chết, bậc thánh chúa biết rõ được sự thành bại, lợi thì làm, hại thì bỏ, còn ngờ thì cứ thử qua, tuy Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang tái sinh cũng không sửa được chính sách của bậc đó. Những lời cực thâm thuý thì thần không dám chép lại trong thư này, còn những lời thô thiển thì không đáng đại vương đọc. Hay là thần ngu mà lời không hợp với lòng đại vương chăng, hay là người giới thiệu hèn mọn, không đáng nghe chăng? Nếu không phải vậy thì cái chí của thần là xin đại vương du lãm còn dư thì giờ gia ân cho thần được ra mắt đại vương.

Thư dâng lên, vua Tần mừng, cảm tạ Vương Kê, rồi sai người đánh xe đón Phạm Tử.

9. PHẠM TUY THUYẾT VUA TẦN
(Phạm Tử chí)

Phạm Tuy tới, vua Tần Chiêu Vương xuống thềm mà đón, kính cẩn dùng lễ tân chủ mà tiếp. Phạm Tuy từ tốn, khiêm nhường. Hôm đó tiếp kiến Phạm Tuy, các bề tôi ở triều Tần đều kinh dị biến sắc. Vua Tần đuổi hết kẻ tả hữu ra ngoài, trong cung không còn ai.

Vua Tần quỳ xuống hỏi:

- Tiên sinh có điều gì dạy bảo quả nhân không?

Phạm Tuy đáp: Dạ, dạ.

Một lát sau vua Tần lại hỏi. Phạm Tuy lại đáp: Dạ, da. Như vậy ba lần. Vua Tần quỳ mọp xuống hỏi:

- Tiên sinh không muốn dạy bảo quả nhân chăng?

Phạm Tuy tạ tội:

- Đâu dám vậy. Thần nghe xưa Lữ Thượng[16] lúc gặp vua Văn Vương chỉ là một lão đánh ca, câu bên bờ sông Vị, như vậy giao tình còn sơ lắm. Nhưng khi bàn bạc xong thì Văn Vương phong ngay làm thái sư mà ngồi chung xe về triều, là vì lời của Lữ Thượng thấm thiết. Sau quả nhiên Văn Vương nhờ Lữ Thượng mà thành công, gồm thâu thiên hạ, lên ngôi đế vương. Giá trước kia Văn Vương sợ Lữ Thượng mà không nghe lời thâm thiết của ông thì nhà Chu không có cái đức làm thiên tử mà vua Văn, vua Võ không dựng vương nghiệp được.

Nay thần là người lạ tới đây, đối với đại vương còn sơ tình, mà những điều thần muốn bày tỏ là để củ chính sự tình của vua tôi, xen vào tình cốt nhục của người, thần xin nguyện tỏ tấm lòng thành ngu muội mà chưa biết rõ lòng đại vương, vì vậy đại vương hỏi ba lần mà thần không đáp. Không phải thần sợ mà không dám nói, thần biết rằng, hôm nay nói thì ngày mai sẽ bị giết, biết vậy nhưng thần không sợ chết. Đại vương tin mà thi hành lời của thần, thì thần chết đâu có sợ, có bị trục xuất thần đâu có lo, phải sơn mình thành thằng cùi, xoã tóc thành thằng điên, thần đâu có lấy làm nhục. Thánh như ngũ đế[17] mà còn chết, nhân như tam vương[18] mà còn chết, hiền như ngũ bá[19] mà còn chết, mạnh như Ô Hoạch[20] mà còn chết, dõng như Mạnh Bôn, Hạ Dục[21] mà còn chết, ai mà thoát khỏi chết đâu; chịu cái thế tất nhiên để giúp Tần được chút nào chăng, đó là cái ước nguyện lớn của thần, có gì mà lo?

Ngũ Tử Tư trốn trong đãy mà thoát qua cửa Chiêu Quan[22], đêm đi, ngày núp ở Lăng Phù[23], không có gì để bỏ vô miệng, bò lết đi không nổi, vỗ bụng làm trống, thổi ống tiêu mà xin ăn ở chợ nước Ngô mà sau phục hưng được nước Ngô, giúp Hạp Lư[24] làm được nghiệp bá. Nếu thần được dâng mưu như Ngũ Tử Tư rồi bị đày trong ngục suốt đời, không được gặp lại đại vương nữa, thì là mưu kế của thần được thi hành rồi, có gì mà buồn?

Kỉ Tử, Tiếp Dư[25], sơn mình như cùi, tóc xoã như điên mà không ích gì cho vua Ân, nước Sở. Nay nếu thần có được cái hành vi của Kỉ Tử, Tiếp Dư, có thể giúp được cho bực quân chủ hiền minh, thì đó là cái vinh lớn của thần, có gì mà nhục?

Thần sợ là chỉ sợ sau khi thần chết rồi, thiên hạ thấy thần tận trung mà thân bị giết, ai cũng câm miệng chùn chân, không dám tới giúp Tần nữa.

Bệ hạ thì trên sợ uy thái hậu[26], dưới thì bị kẻ gian thần mê hoặc, ở trong chốn thâm cung, không rời khỏi tay thái bảo, thái phó[27], suốt đời mê hoặc, không phân biệt được đâu là gian trá; hoạ mà lớn thì tôn miếu sụp đổ, nhỏ thì bản thân hoá cô lập mà lâm nguy, đó là điều thần sợ vậy. Còn như cảnh thần bị khốn cùng, nhục nhã, tử vong, thì thần đâu có sợ. Thần chết mà nước Tần được thịnh trị thì chết mà hơn sống.

Vua Tần quỳ xuống, nói:

- Sao tiên sinh lại nói thế! Nước Tần ở chỗ hẻo lánh, quả nhân ngu muội, tiên sinh hạ cố mà tới đây, đó là Trời vì quả nhân mà làm rầy tiên sinh để bảo tồn tôn miếu của tiên vương. Quả nhân được tiên sinh dạy bảo, thế là Trời quý tiên sinh mà không bỏ kẻ đơn độc này vậy! Sao tiên sinh lại nói thế! Bất kỳ việc lớn việc nhỏ, trên từ thái hậu, dưới tới đại thần, có điều gì xin tiên sinh cứ dạy hết cho, chứ đừng nghi ngờ quả nhân.

Phạm Tuy lạy hai lạy, vua Tần cũng lạy hai lạy.

Phạm Tuy nói:

- Nước của đại vương, bắc có Cam tuyền, Cốc Khẩu, phía nam có sông Kinh, sông Vị, phía hữu có Lũng, Thục, phía tả có Quan Bản[28]; chiến xa có ngàn cổ, quan lính hăng hái có trăm vạn. Dùng số quân lính dũng cảm, số xe và ngựa chiến đông đảo của Tần mà đánh chư hầu thì không khác gì xua chó nước Hàn[29] mà săn bầy thỏ què, có thể dựng nghiệp bá vương được. Nay trái lại, Tần đóng cửa ải mà không dám đem binh ra Sơn Đông[30], đó là tại Nhương Hầu mưu tính việc nước mà không trung, mà kế của đại vương hỏng rồi.

Vua Tần nói:

- Xin được nghe kế nào hỏng.

Tuy đáp:

- Đại vương vượt qua Hàn, Nguỵ để đánh nước Tề mạnh, kế đó hỏng. Nếu ra quân ít thì không đủ để đánh Tề, nếu ra quân nhiều thì có hại cho Tần. Tần đoán ý đại vương là muốn ra quân ít, mà dùng hết quân của Hàn, Nguỵ, như vậy là bất nghĩa. (Lại thêm) ngay như những nước liên hợp với mình cũng không thể thân được, vậy thì vượt qua nước người ta để đánh nước khác là điều có nên không? Như vậy là mưu tính không kỹ.

Xưa Tề đánh Sở, quân Sở tan, tướng Sở chết, mở rộng cả ngàn dặm, kết quả là chút đất nhỏ hẹp ở ngoài cũng không được: có phải là Tề không muốn được đất đâu, vì hình thế mà không thể chiếm được đấy. Chư hầu thấy Tề mệt mỏi, vua tôi không thân với nhau, mới đem binh đánh, vua nhục mà quân tan, thiên hạ cười cho; sở dĩ vậy là vì đánh Sở để cho Hàn, Nguỵ béo bở. Thế là đưa đao cho giặc, cấp lương cho trộm vậy.

Tốt hơn là đại vương liên kết với nước ở xa mà đánh nước ở gần, được tấc đất nào thì tấc đất ấy là của đại vương, được thước đất nào thì thước đất ấy cũng của đại vương. Nay không dùng chính sách đó mà đi đánh nước ở xa, chẳng phải là lầm ư?

Vả lại, xưa kia, đất Trung Sơn rộng năm trăm dăm, Triệu riêng chiếm cứ, công thành danh toại, lại thêm lợi, thiên hạ không nước nào hại Triệu được. Nay Hàn, Nguỵ là những nơi ở khoảng giữa, là cái chốt của thiên hạ, nếu đại vương muốn dựng nghiệp bá, thì phải thân thiện với miền trung gian, coi đó là cái chốt của thiên hạ, để uy hiếp Triệu, Sở. Triệu mà mạnh thì Sở dựa Triệu; Sở, Triệu dựa vào nhau thì Tề rất sợ; sợ thì tất nhún lời và tặng Tần nhiều tiền của để thờ Tần. Tề mà dựa vào Tần thì Hàn, Nguỵ có thể diệt được.

Vua Tần bảo:

- Quả nhân muốn thân với Nguỵ, nhưng Nguỵ là nước đa trá, quả nhân không thân với được. Xin hỏi muốn thân với Nguỵ thì phải làm sao?

Phạm Tuy đáp:

- Nhún lời và nhiều tiền để thờ; không được thì cắt đất mà dâng, không được nữa thì đem binh đánh.

(Vua Tần sau đem binh đánh đất Hình Khâu, hạ được Hình khâu và Nguỵ xin quy phục).

Phạm Tuy bảo:

- Địa thế của Tần và Hàn xen lẫn nhau như bức thêu, Tần mà có đất của Hàn như gỗ có sâu mọt, người mà có bệnh ở tim, bụng. Thiên hạ có biến, thì làm hại cho Tần không gì bằng Hàn. Đại vương thu phục Hàn là hơn cả.

Vua Tần hỏi:

- Quả nhân muốn thu phục Hàn, Hàn không nghe thì phải làm sao?

- Đem quân đánh Huỳnh Dương[31] thì đường Thành Dịch bị nghẽn, phía bắc cắt đường Thái Hàng[32] thì Thượng Đảng không xuống được, một lần đánh Huỳnh Dương mà nước đó bị cắt làm ba, Hàn thấy nước mình tất mất, sao lại không nghe? Hàn mà chịu quy phục thì nghiệp bá thành được.

Vua Tần khen phải.

Phạm Tuy bảo:

- Thần ở Sơn Đông, chỉ nghe nói Tề có Điền Đan chư không nghe nói có vua; chỉ nghe nói Tần có thái hậu, Nhương Hầu, Kinh Dương, Hoa Dương chứ không nói có vua. Thống trị trong nước thì gọi là vua, có uy quyền cho sống hay bắt chết thì gọi là vua. Nay thái hậu chuyên quyền không đoái gì tới đại vương, Nhương Hầu đi sứ ra ngoài không báo cho đại vương hay, Kinh Dương, Hoa Dương dùng hình phạt mà không kiêng kị gì cả. Có đủ bốn vị quí nhân đó mà nước không nguy thì là việc chưa từng thấy. Vua ở dưới bốn vị đó, cho nên bảo không có vua; như vậy thì quyền làm sao không nghiêng mà lệnh làm sao xuất phát từ vua được? Thần nghe nói người khéo trị nước, ở trong thì củng cố cái uy, ở ngoài thì làm cho quyền mình được tôn trọng. Nhương Hầu tự ý đi sứ, thế là nắm cái tôn nghiêm của đại vương mà chia sẻ cho chư hầu, cắt hợp thiên hạ, đánh dẹp các nước, không ai dám không nghe. Đánh mà thắng, tấn công mà chiếm được thì lợi về đất Đào; mà Tần sẽ mệt mỏi, bị chư hầu chế phục. Đánh mà thua, thì gây oán với trăm họ mà hoạ quy về xã tắc. Kinh Thi có câu: “Trái mà sai quá thì cành tất gẫy toác ra, cành gẫy toác ra thì ruột cây bị thương; kinh đô mà lớn qúa thì nguy cho nước, bề tôi mà uy quyền quá thì vua bị khinh rẻ”. Náo Xỉ nắm quyền của Tề, rút gân của Mẫn Vương, treo lên cái rường nhà tôn miếu, rồi Mẫn Vương chết; Lý Đoái chuyên quyền ở Triệu, bắt vua ăn bớt đi, trăm ngày rồi chết vì đói. Nay thái hậu, Nguỵ Hầu chuyên quyền, Cao Lăng[33], Kinh Dương phụ lực, rốt cuộc rồi không còn vua Tần nữa; như vậy có khác gì hạng Náo Xỉ, Lý Đoái? Nay thần thấy đại vương lẻ loi ở triều miếu, và thần lo rằng đời sau, người làm vua nước Tần không phải là con cháu của đại vương đâu!

Vua Tần sợ, bèn truất phế thái hậu, đuổi Nhương Hầu, đày Cao Lăng, Kinh Dương ra ngoài cửa ải.

Chiêu Vương bảo Phạm Tuy:

- Xưa vua Tề được Quản Trọng, gọi Quản Trọng là Trọng phủ[34], nay tôi được tiên sinh, cũng gọi là phủ.

------------
[1] Đào: nay ở tỉnh Sơn Tây. Trước Nguỵ Nhiễm được phong ở đất Nhương, nên gọi là Nhương Hầu.

[2] Ngũ bá: năm nước chư hầu mạnh đời Xuân Thu: Tề Hoàn Công, Tống Tương Công, Tần Văn Công, Tần Mục Công, Sở Tương Công.

[3] Vì vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn.

[4] Vì vua Thành Thang diệt vua Kiệt để dựng nhà Thương; vua Vũ Vương diệt vua Trụ để dựng nhà Chu.

[5] Thời vua Chiêu Vương phong Nhạc Nghị làm tướng, đánh Tề , phá được 70 thành; khi Chiêu Vương mất, con là Huệ Vương nghi Nhạc Nghị làm phản. Nhạc Nghị phải chạy trốn qua Triệu; Điền Đan nước Tề phá Yên, chiếm được những đất về Tề; vì vậy nói là rửa cái nhục cho Huệ Vương, lập cái công của Chiêu Vương (Coi bài Yên II 10).

[6] Đời Chu Kính Vương năm 26, Ngô Vương là Phù Sai thắng Việt Vương là Câu Tiễn, rồi cho Câu Tiễn cầu hoà; tới đời Chu Nguyên Vương năm thứ ba, Việt Vương mạnh lên, diệt lại được Ngô.

[7] Đời Chu Noản Vương năm đầu, Tề đánh Yên, chiếm được Yên. Dân nước Yên đưa Chiêu Vương lên ngôi, ba mươi năm sau, Yên đánh bại Tề, Tề thua.

[8] Tiếng Trung Quốc thời đó trỏ miền trung ương của Tàu, tức miền ở Chu, Hàn, Nguỵ, hai bên bờ sông Hoàng Hà.

[9] Phạm Tử: tức Phạm Tuy, tên hiệu là Thúc, người nước Nguỵ, cũng có chỗ gọi là Phạm Thư.

[10] Vương Kê: là người vua Tần sai đi qua các nước chư hầu, lúc đó ở Nguỵ về Tần, Phạm Tuy theo mà vô Tần.

[11] Dung chủ: bực vua tầm thường, tối tăm, trái với minh chủ.

[12] Ý nói tôi đâu có chịu được hình phạt, đâu có dám nói càn để bị tội.

[13] Bốn thứ ngọc đó đều là ngọc quí.

[14] Ý nói tôi là kẻ tầm thường, nhưng cũng có thể giúp cho nước Tần được.

[15] Ý nói lợi riêng cho nước mình là nhỏ (khinh), lợi cho thiên hạ mới là lớn (trọng).

[16] Lữ Thượng: tức Lữ Vọng, họ Khương tên Thượng, tổ tiên được phong đất Lữ nên gọi là Lữ Thượng.

[17] Ngũ đế: là năm đời vua thời thượng cổ: Phục Hi, Thần Nông, Hoàng Đế, Đường Nghiêu, Ngu Thuấn.

[18] Tam vương: là ba đời vua: Hạ Vũ, Thương Thang và Chu Văn Vương với Võ Vương.

[19] Ngũ Bá: là năm đời bá đời Xuân Thu: Tề Hoàn Công, Tống Tương Công, Tần Văn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Công.

[20] Ô Hoạch: là lực sĩ đời xưa.

[21] Mạnh Bôn, Hạ Dục: đều là dũng sĩ của nước Vệ.

[22] Ngũ Tử Tư: là người nước Sở đời Đông Chu. Cha và anh bị vua Sở giết, ông trốn qua nước Ngô, giúp cho Ngô mạnh lên rồi đem binh đi dẹp Sở để trả thù nhà.
Chiêu Quan: nay ở tỉnh An Huy.

[23] Lăng Phù: là tên sông Giang Tô, cũng gọi là Lật Thuỷ, Vĩnh Dương Giang.

[24] Hạp Lưu: là vua người Ngô.

[25] Kỉ Tử: là chú của vua nhà Ân, làm chức thái sư, vì can vua Trụ mà bị bỏ ngục, giả làm người điên.
Tiếp dư: là người nước Sở thời Xuân Thu. Cũng giả làm người điên để trốn đời.

[26] Lúc đó mẹ Tần Chiêu Vương chuyên quyền.

[27] Thái bảo: người nuôi nấng thái tử.
Thái phó: người dạy dỗ thái tử.

[28] Núi Cam Tuyền: nay ở Thiểm Tây.
Cốc Khẩu: là tên ải.
Lũng: nay ở Thiểm Tây.
Thục: tức tỉnh Tứ Xuyên, địa thế hiểm trở.
Quan Bảo: cũng ở Thiểm Tây.

[29] Nước Hàn có loài chó rất khôn, gọi là con lư.

[30] Sơn Đông: trỏ lục quốc, vì sáu nước đều ở phia 1đông cửa Hàm Cốc, núi Hào Sơn.

[31] Huỳnh Dương: là tên thành nay ở Hà Nam.

[32] Thái Hàng: là tên núi, cũng gọi là Ngũ Hành Sơn, chạy từ Hà Nam tới Sơn Tây.

[33] Trên nói Hoa Dương, sao đây nói Cao Lăng?

[34] Trọng phủ: Phủ là tiếng tỏ vẻ kính trọng, dùng với đàn ông lớn tuổi. Tề Hoàn Công gọi Quản Trọng là Trọng phủ, tức như ông Trọng. Nhưng có sách bảo phải đọc là trọng phụ, tiếng để gọi một người mà mình coi như cha, chú.
10. BỀ TÔI MẠNH QUÁ THÌ NGUY CHO VUA
(Ưng Hầu vị Chiêu Vương)

Ưng Hầu[1] hỏi Tần Chiêu Vương:

- Đại vương có muốn nghe truyện thần bụi cây (ở Hằng Tư) không? Ở Hằng Tư có một thiếu niên bạo gan, rủ bụi cây đánh bạc, bảo: “Ta mà thắng bụi cây thì bụi cây phải cho ta mượn thần bụi cây trong ba ngày; nếu ta thua thì bụi cây muốn làm gì ta tuỳ ý”. Nói rồi, tay trái nó gieo con thò lò thay bụi cây, tay phải nó gieo cho nó, nó thắng bụi cây, bụi cây cho nó mượn thần bụi cây trong ba ngày. Khi hết hạn, bụi cây lại đòi thì nó không trả. Năm ngày sau bụi cây khô; bảy ngày sau, bụi cây chết.

Nước Tần là bụi cây của đại vương, quyền thế là thần của đại vương[2], cho người khác mượn cái thần đó, có thể nguy được không? Thần chưa thấy ngón tay mà lớn hơn cánh tay, cánh tay mà lớn hơn bắp vế; nếu có vậy tất bệnh nặng lắm. Một trăm người kiệu một cái bầy mà chạy nhảy[3] không bằng một người bưng nó mà đi; nếu một trăm người kiệu một cái bầu thì cái bầu tất tan tành. Nay nước Tần, Hoa Dương dùng, Nhương Hầu dùng, thái hậu dùng, đại vương cũng dùng nữa; nó không phải là một đồ dùng như cái bầu (ai cũng uống được) thì phải thôi đi[4]; nếu nó là một đồ dùng như cái bầu ai cũng uống được, thì thế nào nó cũng tan tành.

Thần nghe nói rằng trái mà sai quá thì cành tất gãy toác ra, cành gãy toác ra thì ruột cây bị thương; kinh đô mà lớn quá thì nguy cho nước; bề tôi mạnh quá thì nguy cho vua. Nay trong ấp của đại vương, từ kẻ lương được một đấu trở lên[5], cho đến quan uý, quan nội sử[6] có người nào không phải là người của quan tướng quốc[7] không? Nước mà bình yên thì thôi[8], nước mà loạn thì thần tất mong được thấy đại vương độc lập ở triều đình. Thần trộm lo thay đại vương, rồi sợ vạn đời sau, người làm chủ nước Tần này không phải là con cháu đại vương đâu.

Thần nghe rằng người xưa khéo trị nước, có uy quyền ở trong thì kiểm soát kẻ phụ tá, ở ngoài thì ban bố hiệu lệnh ra bốn cõi[9], chính trị không loạn không nghịch, sứ giả cứ theo đường chính mà đi, không dám làm khác[10]. Nay sứ giả của thái hậu[11] làm chia rẽ các chư hầu, mà con dấu làm tin do Nhương Hầu phát ra, thiên hạ đều công nhận; ông ta thao túng cái uy thế của một đại quốc, ép buộc trưng binh để đánh chư hầu khi chiến thắng, chiếm được đâu thì bao nhiêu cái lợi thu về đất Đào của ông ta cả. Tiền bạc tơ lụa vô hết trong kho thái hậu, còn lợi trong nước thì chạy vào Hoa Dương cả. Cái mà cổ nhân gọi là cái đạo hại vua diệt nước, tất phải bắt đầu như vậy.

Ba vị quý nhân đó làm khánh kiệt quốc gia để tự củng cố cho mình thì mệnh lệnh làm sao còn do đại vương xuất phát được nữa? Làm sao quyền không bị phân tán? Thế là quả thực đại vương chỉ giữ được một phần ba thôi![12].

11. ĐỪNG TẤN CÔNG ĐẤT MÀ NÊN TẤN CÔNG NGƯỜI
(Tần công Hàn)

Tần đánh Hàn, vây thành Hình[13], Phạm Tuy bảo Tần Chiêu Vương:

- Có kẻ tấn công người, có kẻ tấn công đất đai. Nhương Hầu mười lần đánh Nguỵ mà không làm hại được Nguỵ, không phải là vì Tần yếu mà Nguỵ mạnh, chỉ vì Nhương Hầu tấn công đất đai mà đất đai là cái mà bậc vua chúa rất quí. Nhân thần là kẻ vui vẻ chết vì vua chúa. Tấn công cái bậc vua chúa rất quí (tức đất đai), thì phải chiến đấu với những kẻ vui vẻ chết vì vua chúa, vì vậy mà mười lần đánh vẫn không thắng được.

Nay đại vương đánh Hàn, vây thành Hình, thần xin đại vương đừng riêng tấn công đất mà tấn công người của Hàn. Đại vương đánh Hàn, vây thành Hình, xin cứ nói là tấn công Trương Nghi. Nếu quyền lực của Trương Nghi lớn, hắn sẽ (thuyết vua Hàn) cắt đất chuộc tội với đại vương; mấy lần cắt đất thì Hàm làm sao còn tồn tại được? Nếu quyền lực của Trương Nghi yếu thì vua Hàn sẽ đuổi Trương Nghi đi mà dùng một kẻ không bằng Trương Nghi để thương thuyết với ta, như vậy đại vương đòi Hàn cái gì cũng được hết.

13. CÁC KẺ SĨ TRONG THIÊN HẠ TRANH NHAU ĂN
(Thiên hạ chi sĩ hợp tung)

Các kẻ sĩ trong thiên hạ theo chính sách hợp tung, họp nhau ở Triệu, muốn đánh Tần. Tể tướng Tần là Ưng Hầu (tức Phạm Tuy), bảo vua Tần:

- Đại vương đừng lo, thần xin giải tán họ. Kẽ sĩ trong thiên hạ không có gì oán Tần, họ họp nhau mà muốn đánh Tần là mong được phú quí đấy thôi. Đại vương thấy bầy chó của đại vương không? Nằm thì cùng nằm, dậy thì cùng dậy, đi thì cùng đi, ngừng thì cùng ngừng, không cắn nhau. Nhưng ném cho chúng một khúc xương thì chúng vùng dậy mà nhe răng ra cắn nhau. Tại sao vậy? Tại tranh ăn.

Vua Tần bèn sai Đường Tuy đem theo đội âm nhạc với năm ngàn nén vàng, lại đất Vũ An bày tiệc ăn uống. Bảo người Hàm Đan: Ai muốn vàng thì lại mà lấy. Những mưu sĩ hợp tung tuy không phải ai cũng được tặng vàng, nhưng kẻ nào đã được tặng thì thân với Tần như thể anh em.

Phạm Tuy lại bảo Đường Tuy: “Ông muốn lập công cho Tần thì đừng kể tới tiền nong, tiêu tiền cho hết thì công ông càng nhiều. Nay sai người lại đem năm ngàn nén vàng giao cho ông nữa”.

Đường Tuy bèn ra đi, tới Vũ An, tiêu chưa hết ba ngàn nén mà kẻ sĩ mưu hợp tung trong thiên hạ đã tranh nhau rồi.


------------
[1] Ưng Hầu: tức Phạm Tuy. (xem bài Tần II 13 ở sau). (Goldfish).

[2] Chúng tôi dịch theo bản chữ Hán. Theo mạch văn thì phải hiểu là: quyền thế là thần của nước (quốc gia). Và Crump đã dịch ra như vậy.

[3] Nguyên văn: Bách nhân dư biều nhi xô. Hứa Khiếu Thiên chú thích: đội, đeo trên mình gọi là dư, chạy nhảy gọi là xô. Nhưng có một cái bầu thì làm sao trăm người đội, đeo trên mình được. Crump cho dư là cái xe (cart), xô là xô lấn (scramble); “một trăm người xô lấn để chở (kéo) một cái bầu bằng xe” (A hundred men scrambling to fetch a gourd by cart). Chúng tôi nghĩ chữ dư theo Từ Hải còn có nghĩa là kiên dư, tức cái kiệu, nên tạm dịch như vậy, chứ không chắc là đúng.

[4] Chúng tôi theo ý của Crump mà dịch như vậy, chứ dịch đúng từng chữ thì là: không coi cái bầu là một đồ dùng thì thôi (bất xưng biều vi khí tắc dĩ).

[5] Trỏ những viên chức thấp nhất, lương ít nhất.

[6] Uý: là một chức quan võ; nội sử: là một chức quan chuyên coi cai trị kinh thành.

[7] Tướng quốc: tức tể tướng. Vị tể tướng ở đây là ai? Là Hoa Dương hay Nhương Hầu? Hay là Lâu Hoãn? (Lâu Hoãn cũng là một trong các vị tể tướng đời vua Tần Chiêu Tương Vương (xem bài Tần IV 3). (Goldfish).

[8] Nguyên văn: Quốc vô sự tắc dĩ. Crump dịch là ngay cả khi nước bình yên cũng không nên để cho xảy ra như vậy.

[9] Nguyên văn: kỳ uy nội phù kỳ phụ ngoại bố nhi trị. 其威内扶其辅外布而治. Nhiều nhà hiệu đính đã sửa chữ nhi thành chữ tứ 四 và bản Thương Vụ ấn thư quán cũng in là tứ và chấm câu sau chữ phù, chữ bố; còn Crump theo Huang P’ei-lieh (không rõ chữ Hán viết ra sao), chấm câu ở sau chữ phụ và chữ trị. Chúng tôi theo Crump.

[10] Ý muốn nói rằng: sứ giả, vua sai đi đâu thì đi đó, không dám tự tiện, tự chuyên.

[11] Theo nguyên văn: Kim thái hậu sứ giả… Crump đổi là sứ giả của Nhương Hầu và như vậy hợp với đoạn dưới hơn; nhưng ông cũng nhận rằng thái hậu có thể có sứ giả riêng của bà được.

[12] Nguyên văn: Thị vương quả xử tam phân chi nhất dã. Chữ “tam phân chi nhất” dùng e không được xác đáng. [Có lẽ hai cụ Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê muốn nói là “tứ phân chi nhất” mới đúng, vì vua cộng với “ba vị quí nhân” thành bốn. (Goldfish)].

[13] Hình: là tên đất, nay ở tỉnh Sơn Tây.
- Truyện này nhiều người ngờ là không đúng. Chung Phượng Niên bảo: “Bão Bưu đặt truyện này vào năm 23 đời Tần Chiêu Vương và nhận xét rằng Trương Nghi chết 44 năm trước khi Pham Tuy làm tướng quốc, như vậy truyện tất sai rồi”.
Sử ký của Tư Mã Thiên cũng bảo không phải là Trương Nghi mà là một người khác.
Hứa Khiếu Thiên bảo Trương Nghi không hề làm tướng quốc nước Hàn.
17. THÁI TRẠCH THUYẾT PHẠM TUY
(Thái Trạch kiến trục ư Triệu)

Thái Trạch[1] bị đuổi ở Triệu, Hàn và Nguỵ, đi đường bị kẻ giật mất nồi bát. Nghe tin Ưng Hầu, tể tướng nước Tần, đương thẹn thùng vì hai người Ưng Hầu tiến cử, Trịnh An Bình và Vương Kê[2] đều bị trọng tội; bèn đi qua phía tây, vô Tần. Trước khi yết kiến Chiêu Vương, Thái Trạch muốn chọc giận Ưng Hầu, sai người phao tin: “Khách của nước Yên là Thái Trạch là kẻ sĩ tuấn kiệt hùng biện, ông ấy mà yết kiến vua Tần thì thế nào vua Tần cũng dùng làm tể tướng, và Phạm Tuy sẽ mất chức”.

Ưng Hầu nghe vậy, sai người vời Thái Trạch. Thái Trạch vô vái Ưng Hầu. Ưng Hầu vốn đã không vui, khi yết kiến Ưng Hầu, Thái Trạch lại có vẻ ngạo mạn. Ưng Hầu trách:

- Ông thường tuyên bố rằng sẽ thay tôi làm tể tướng nước Tần, phải vậy chăng?

- Phải?

Ưng Hầu nói:

- Xin cho nghe vì lẽ gì.

Thái Trạch đáp:

- Ôi! Sao ngài hiểu chậm thế! Bốn mùa thay phiên nhau, thành công rồi thì đi. Sống ở đời, chân tay khoẻ mạnh, tay mắt sáng suốt, thánh trí, có phải là sở nguyện của kẻ sĩ không?

- Phải.

- Giữ vũng nhân nghĩa, hành đạo, ban đức trong thiên hạ, thiên hạ vui vẻ kính yêu, mong được một bậc minh quân như vậy, đó chẳng phải là nguyện vọng của những biện sĩ thông minh ư?

- Phải.

Thái Trạch tiếp:

- Phú quí vinh hiển, sử trị vạn vật, vạn vật đều mãn nguyện; được sống hết tuổi trời, không phải chết yểu. Thiên hạ nối giềng mối của mình, giữ sự nghiệp của mình mà truyền hoài cho các đời sau. Danh tiếng hoàn toàn tốt đẹp, ơn huệ lưu đến muôn đời, tiếng ca tụng không bao giờ tuyệt, khi nào thiên hạ dứt thì mới dứt. Như vậy chẳng phải là cái biểu trưng của đạo, mà thánh nhân gọi là điềm lành, việc tốt đấy ư?

Ưng Hầu đáp:

- Phải.

- Còn như Thương Quân[3] ở Tần, Ngô Khởi[4] ở Sở, đại phu Chủng[5] ở Việt, chết đi như họ có nên không?

Ưng Hầu biết rằng Thái Trạch muốn thuyết cho mình bí, nên hỏi vặn:

- Có gì là không nên? Công Tôn Ưởng thờ Hiếu Công, tận tâm không ai hơn, chỉ lo cho chúa công chứ không nghĩ đến tư lợi, thưởng phạt theo đúng phép mà nước rất yên ổn, đem hết tài năng, tỏ hết tình trong trắng mà chịu lời oán trách, là lừa gạt bạn cũ để bắt sống công tử Cung của Nguỵ[6]; vì Tần mà bãi tướng, phá quân của địch, cướp đất ngàn dặm. Ngô Khởi thờ Điệu Vương, không để việc riêng làm hại việc công, lời gièm pha không che lấp được lòng trung, ngôn hạnh nghiêm trang, không cẩu hợp, làm việc nghĩa thì chẳng kể lời khen chê, nhất định làm cho Sở thành một nước bá chủ hùng cường, không từ tai hoạ. Quan đại phu Chủng thờ Việt Vương, vua gặp cảnh khốn nhục[7] mà vẫn giữ lòng trung, vua tuy mất nước mà hết lòng thờ mà không bỏ; công nhiều mà không khoe, giàu sang mà không kiêu ngạo sơ suất, ba ông đó đều là tận trung, tận nghĩa. Bậc quân tử sát thân thành danh, cứ theo đúng điều nghĩa dù có chết cũng không ân hận, như vậy có gì là không nên?

Thái Trạch đáp:

- Vua mà thánh, bề tôi mà hiền là cái phúc của thiên hạ; vua mà sáng suốt, bề tôi mà trung thì là cái phúc của nước; cha mà từ, con mà hiếu, chồng mà trí, vợ mà trinh, thì là phúc của nhà. Tỉ Can[8] trung mà không bảo tồn được nhà Ân, Tử Tư trí mà không bảo tồn được nhà Ngô; Thân Sinh[9] hiếu mà nước Tần loạn; như vậy có trung trung thần, hiếu tử mà quốc gia bị diệt, loạn. Tại sao vậy? Tại không có bực minh quân, hiền phụ nghe lời những người đó, cho nên thiên hạ thương cho bọn bề tôi và con bị vua cha giết hoặc làm nhục đó. Còn đợi tới lúc chết rồi mới rõ được lòng trung mà để danh ở đời (thì là vụng), cho nên Vi Tử[10] không đáng gọi là nhân, Không Tử không đáng gọi là thánh mà Quản Trọng không đáng gọi là tài.

Ưng Hầu khen là phải. Được một lát, Thái Trạch lại hỏi:

- Người ta có thể nguyện làm được như Thương Quân, Ngô Khởi, quan đại phu Chủng, làm bề tôi hết lòng, tận lực, nhưng Hoành Yêu[11] thờ Văn Vương, Chu Công giúp Thành Vương, chẳng phải là trung ư? Lấy cái lẽ vua tôi mà bàn thì Thương Quân, Ngô Khởi, đại phu Chủng với Hoành Yêu, Chu Công, nên như người nào?

Ưng Hầu đáp:

- Thương Quân, Ngô Khởi, đại phu Chủng không bằng hai ông kia.

- Vậy thì chúa công của ngài nhân từ và thân với trung thần, không gạt bạn cũ, so với Tần Hiếu Công, Sở Điệu Vương, Việt Vương ai hơn?
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

CHIẾN QUỐC SÁCH Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH   CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Dec 01, 2010 4:49 pm


- Chưa biết được.

- Chúa công của ngài thân với trung thần không bằng Tần Hiếu Công, Sở Điệu Vương, Việt Vương; ngài vì chúa công của ngài mà trị loạn, trừ hoạn nạn, mở rộng đất để trồng trọt, làm cho quốc gia giàu có, chúa mạnh, uy quyền trùm hải nội, công lao tỏ rõ ra ngoài vạn dặm, nhưng không hơn Thương Quân, Ngô Khởi, quan đại phu Chủng. Mà tước vị bổng lộc của ngài cao, nhà riêng của ngài giàu hơn ba ông kia. Như vậy mà ngài chưa lui về, tôi trộm lo rằng nguy cho ngài đấy. Ngạn ngữ có câu: “Mặt trời lên tới đỉnh đầu rồi thì xế, mặt trăng tròn rồi khuyết”. Vật thịnh rồi suy, đó là lẽ thường trong thiên hạ. Tiến thoái, đầy vơi, biến hoá đó là lẽ thường của thánh nhân.

Xưa kia Tề Hoàn Công chín lần họp chư hầu, thu phục thiên hạ, tới khi họp ở Quỳ Khâu[12], có vẻ kiêu căng, chín nước bèn làm phản không phó hội. Ngô Vương là Phù Sai[13] vô địch trong thiên hạ, khinh chư hầu, xâm lấn Tề, Tấn rồi thân chết nước tan; Hạ Dục, Thái Sử Khải[14] la hét làm cho tam quân phải sợ mà thân chết vì kẻ thất phu. Những người đó đều là không biết đạo rút lui khi đã cực thịnh[15].

Thương Quân vì Hiếu Công chỉnh đốn cán cân quả cân, sửa lại độ lượng điều lý nặng nhẹ, chia xẻ ruộng đất bằng bờ thiên bờ mạch[16], dạy dân cày cấy, tập trận; cho nên khi dấy binh thì đất mở rộng thêm, hưu binh thì nước nước giàu thêm, mà Tần hoá ra vô địch trong thiên hạ, chư hầu phải sợ uy. Nhưng công thành mà bị xe ngựa phanh thây.

Nước Sở, quân lính cầm kích có tới trăm vạn. Bạch Khởi đem vài vạn quân đánh nhau với Sở, một trận lấy được Yên, Dĩnh, một trận nữa đốt Di Lăng[17]. Phía nam thôn tính Thục, Hán, lại vượt qua Hàn, Nguỵ mà đánh nước Triệu hùng cường, phía bắc chôn sống Mã Phục, giết trên bốn chục vạn dân, máu chảy thành sông, tiếng nổi như sấm, giúp Tần dựng được nghiệp đế. Từ đó về sau Triệu, Sở khiếp sợ, qui phục, không dám đánh Tần, là nhờ thế mạnh của Bạch Khởi. Một mình ông ta hạ được hơn bảy chục thành rồi phải tự đâm cổ ở Đỗ Bưu[18].

Ngô Khởi giúp Sở Điệu Vương, truất kẻ vô tài, phế kẻ vô dụng, rút bớt những quan chức không cần thiết, bịt những lời xin xỏ ở nhà riêng, thống nhất phong tục nước Sở, phía nam đánh Dương Việt[19], phía bắc thôn tính Trần, Thái, phá tan thế tung và thế hoành, khiến cho bọn biện sĩ không còn mở miệng được nữa; công thành rồi thì bị phanh thây.

Đại phu Chủng giúp Việt Vương khẩn hoang lập ấp, vỡ đất trồng lúa, đem sức quân tướng bốn phương đánh nước Ngô hùng cường mà lập nghiệp bá cho Việt, sau bị Câu Tiễn đạp chết[20].

Bốn ông đó công thành rồi mà không lui về nên mới bị hoạ như vậy, đó đúng như lời: “Duỗi mà không biết co, tiến nhưng không biết lui”. Phạm Lãi[21] biết lẽ đó, nên siêu nhiên tị thế, làm ông Chu ở huyện Đào mà được sống lâu.

Ngài có xem người ta đánh bạc không? Hoặc muốn đánh một canh bạc lớn, hoặc muốn chia làm nhiều canh bạc nhỏ, lẽ đó ngài đã biết rõ. Nay ngài làm tể tướng nước Tần, tính ngồi hoài không dời chiếu, từ chỗ lang miếu mà ức chế chư hầu, khai thác cái lợi đất Tam Xuyên để làm đấy kho ở Nghi Dương, thông đường hiểm trở Dương Trường, chặn cửa Thái Hàng, lại cắt đường của hai họ Phạm, Trung Hàng, mở đường sạn đạo[22] ngàn dặm, thông tới đất Thục, Hán, khiến cho thiên hạ đều sợ Tần. Nhưng Tần đã được thoã mãn rồi, công của ngài đã đến cực điểm, nay là lúc Tần muốn chơi canh bạc nhỏ đây, như vậy mà ngài không lui về, thì sẽ như Thương Quân, Bạch Khởi, Ngô Khởi, đại phu Chủng đấy. Sao lúc này ông không giao lại tướng ấn cho bậc hiền giả nhận lấy? Nên có đức liêm của Bá Di[23], được giữ hoài chức Ưng Hầu, đời đời xưng “cô”[24] mà thọ như Kiều, Tùng[25] ai mà hại ngài được? Sao, ngài lựa đường nào?

Ưng Hầu đáp: “Phải”, rồi mời Thái Trạch lên ngồi, đãi làm thượng khách. Ít ngày sau Ưng Hầu vô triều, tâu với Tần Chiêu Vương:

- Có người khách mới ở Sơn Đông qua, là Thái Trạch, vào bậc biện sĩ. Thần đã thấy rất nhiều người, không ai bằng ông ta, thần cũng không bằng.

Vua Tần vời Thái Trạch vô cung bàn luận, rất mừng phong làm khách khanh. Ưng Hầu cáo bệnh, xin trả tướng ấn. Chiêu Vương rán lưu lại. Ưng Hầu viện lẽ bệnh nặng, được từ chức.

Chiêu Vương lại thích kế hoạch của Thái Trạch[26], phong ông làm tể tướng. Khi Tần thu phục được nhà Chu ở phía đông, Thái Trạch còn làm tể tướng. Vài tháng sau, có người ghét ông ta, ông ta sợ bị vua giết, cáo bệnh, trả lại tướng ấn, được phong làm Cương Thành Quân, ở nước Tần trên mười năm, thờ Chiêu Vương, Hiếu Văn Vương, Trang Tương Vương, sau cùng thờ Thuỷ Hoàng Đế, vì Tần mà đi sứ qua Yên ba năm, và Yên sai thái tử Đan qua làm con tin ở Tần.

--------------
[1] Thái Trạch: người nước Thái, lấy tên nước làm họ, sau qua nước Yên thành người nước Yên.

[2] Trịnh An Bình: người nước Trịnh, cùng tới Tần với Phạm Tuy. Vương Kê là quan nước Tần. Lúc đó Trịnh An Bình đem binh đánh Triệu, thua tướng Triệu là Vô Kị, rồi đem hai vạn quân đầu hàng Triệu. Vương Kê làm thái thú Hà Đông, tư thông với chư hầu, bị tội. Hai người đều do Phạm Tuy tiến cử. Theo pháp luật của Tần, người được tiến cử mà bị tội thì người tiến cử cũng bị chung tội.

[3] Thương Quân: tức Công Tôn Ưởng, được vua Tần Hiếu Công phong cho đất Thương nên được gọi là Thương Quân hay Thương Ưởng. Ông vốn người nước Vệ nên còn gọi là Vệ Ưởng. (Goldfish).

[4] Ngô Khởi: là người nước Nguỵ, bỏ Nguỵ qua Sở làm tướng quốc ở Sở, sau khi Điệu Vương mất, các đại thần làm phản, bán chết Ngô Khởi.

[5] Đại phu Chủng: họ Văn, tên Chủng, tự là Tử Cầm, làm đại phu đời Việt Vương Câu Tiễn.

[6] Công tử Cung: là con Nguỵ Huệ Vương. Tần sai Thương Ưởng đánh Nguỵ. Nguỵ sai công tử Cung chống cự, Cung vốn là bạn thân của Ưởng. Ưởng viết thư gạt Cung rồi bắt Cung.

[7] Crump dịch là tuy bị vua làm nhục. Các bản đều chép: Chủ li khốn nhục. Nhà hiệu đính Nhật Bản Hoành Điền Duy Hiếu bảo chữ li 離 phải sửa là tuy 雖.

[8] Tỉ Can: là chú vua Trụ, làm chức thiếu sư, can vua Trụ, vua Trụ giận, sai mổ bụng.

[9] Thân Sinh: là con hoang của Hiển Công nước Tần và nàng Tề Khương, sau bị nàng Li Cơ gièm pha với Hiển Công, bắt Thân Sinh phải tự tử.

[10] Vi Tử: tên là Khải, là anh vua Trụ.

[11] Hoành Yêu: được Chu Văn Vương coi là một trong bốn bạn thân của mình.

[12] Quỳ Khâu: ở nước Tống, nay thuộc tỉnh Hà Nam, nơi đó có dựng một cái đài để các chư hầu hội họp mà thề với nhau.

[13] Phù Sai: con vua Hạp Lư ở nước Ngô.

[14] Thái Sử Khải: là một dũng sĩ thời cổ. Có bản chép là Thái Sử Khiếu.
Hạ Dục: không rõ ai.

[15] Nguyên văn: thử giai thừa chí thịnh, bất cập đạo lí dã. Có sách bảo phải đổi chữ cập 及 ra chữ phản 返 hoặc chữ cận 近.

[16] Đường ruộng từ đông qua tây gọi là đường mạch, từ nam qua bắc gọi là đường thiên.

[17] Di Lăng: là một nơi có lăng tẩm vua Sở, nay thuộc tỉnh Hồ Bắc.

[18] Đỗ Bưu: nay ở Thiểm Tây.

[19] Dương Việt: nay là miền Quảng Đông, Quản Tây.

[20] Nguyên văn là phẩu 掊 (lấy gậy đập); có sách bảo nên đổi là kiệt 拮 (kẹp) hoặc bội 倍 (phản lại).

[21] Phạm Lãi: vốn là người nước Sở, qua nước Việt, hết lòng giúp Việt Vương Câu Tiển để báo trù Ngô Vương Phù Sai; khi thành công, ông viết thư từ biệt vua Việt, tới huyện Đào đổi tên là Chu Công, buôn bán, làm ruộng thành đại phú.

[22] Sạn đạo: nơi núi non hiểm trở, phải bắc những cây cầu bằng cây để qua, đường đó gọi là sạn đạo.

[23] Bá Di: là con vua nước Cô Trúc. Khi Văn Vương phạt Trụ, Bá Di, Thúc Tề ra cản đầu ngựa, can: “Cha mới chết mà dấy binh không phải là hiếu; làm bề tôi mà đánh vua (tức Trụ) thì không phải là trung”. Vua Văn Vương không nghe, Bá Di, Thúc Tề, từ khi Văn Vương diệt Trụ rồi, không ăn thóc nhà Chu (tức thóc của Văn Vương), mà ở ẩn ở núi Thú Dương hái rau mà ăn.

[24] Phạm Tuy được phong tước hầu, nên được xưng là “cô”. Cô là tiếng nhũn, nghĩa như: “Kẻ ít đức này” mà bọn vương hầu dùng để tự xưng.

[25] Kiều, Tùng: là hai sơn nhân thời cổ, tức Vương Tử Kiều thích thổi ống tiêu và Xích Tùng Tử, tiên ở núi Côn Lôn thời Thần Nông.

[26] Vì trước đã thích kế hoạch của Phạm Tuy, nên đây dùng chữ lại.
TẦN IV

3. VUA TẦN QUYẾT ĐỊNH CẮT ĐẤT
(Tam quốc công Tần)

Ba nước (Tề, Hàn, Nguỵ) đánh Tần, tới cửa Hàm Cốc. Vua Tần hỏi Lâu Hoãn[1]:

- Quân ba nước vô sâu quá rồi. Quả nhân muốn cắt đất Hà Đông[2] để giảng hoà.

Đáp:

- Cắt đất Hà Đông là điều thiệt thòi lớn, mà tránh được cái nạn ba nước là điều lợi lớn. Đó là trách nhiệm của bậc cha anh trong nước[3]. Đại vương sau không vời công tử Trì[4] mà hỏi ý kiến?

Vua Tần vời công tử Trì lại hỏi, công tử Trì đáp:

- Giảng hoà cũng ân hận mà không giảng hoà cũng ân hận.

- Sao vậy?

- Đại vương cắt đất Hà Đông mà giảng hoà, quân ba nước lui rồi, đại vương tất bảo: “Tiếc quá! Quân ba nước lui rồi mà ta phải đem đất ba thành[5] tặng họ”. Đó mà giảng hoà mà ân hận. Còn đại vương mà không giảng hoà, quân ba nước vào Hàm Cốc, Hàm Dương tất nguy, đại vương lại bảo: “Tiết quá! Mình quí đất ba thành mà không giảng hoà!”. Đó là không giảng hoà mà cũng ân hận.

Vua Tần bảo:

- Đem hai cái ân hận mà so sánh, thà mất ba thành mà ân hận còn hơn là để cho Hàm Dương lâm nguy mà ân hận. Quả nhân quyết chí giảng hoà.

Rồi sai công tử Trì cắt ba thành để giảng hoà và ba nước lui binh.

7. ĐỐN NHƯỢC THUYẾT VUA TẦN
(Tần Vương dục kiến Đốn Nhược)

Vua Tần muốn gặp Đốn Nhược[6]. Đốn Nhược nhắn: “Theo cái nghĩa, tôi không chịu lạy, nếu nhà vua cho tôi khỏi lạy thì tôi vô yết kiến, nếu không thì thôi”. Vua Tần bằng lòng.

Như vậy, Đốn Nhược vô yết kiến, bảo:

- Trong thiên hạ có người có đủ thực và danh, có người có danh mà không có thực, lại có người danh thực đều không, đại vương hay điều đó không?

Vua Tần đáp:

- Không.

Đốn Tử nói:

- Có thực mà không có danh, tức như bọn con buôn: không cuốc, không bừa mà có lúa chất đống. Không có thực mà có danh tức là nông phu: tuyết mới tan mà phải cày, phơi lưng ra mà bừa, mà không có lúa chất đống. Còn không danh, không thực thì tức như đại vương. Làm vua một nước vạn thặng, mà không có “danh” là hiếu, cắt đất ngàn dặm để nuôi mẹ mà không có cái “thực: là hiếu.

Vua Tần phật ý, nổi giận. Đốn Nhược bảo:

- Có sáu nước địch ở Sơn Đông, uy không bị khuất ở Sơn Đông mà bị khuất vì mẹ[7], tôi trộm nghĩ rằng đại vương không chịu như vậy.

Vua Tần bảo:

- Có thể thôn tính các nước chư hầu ở Sơn Đông không?

Đốn Tử đáp:

- Hàn là cái cuống họng của thiên hạ, Nguỵ là cái bụng của thiên hạ. Đại vương cho tôi vạn nén vàng đi chu du, tôi sẽ thuyết Hàn, Nguỵ sáp nhập vào Tần mà thần phục Tần, như vậy là Hàn, Nguỵ theo ta; Hàn, Nguỵ theo ta thì có thể lấy được thiên hạ.

Vua Tần bảo:

- Nước quả nhân nghèo, sợ không đủ để cấp số vàng đó.

Đốn Tử bảo:

- Thiên hạ không lúc nào là không biến, nếu không theo chính sách hợp tung thì theo chính sách liên hoành. Kế liên hoành mà thành thì nước Tần làm chủ thiên hạ, kế hợp tung mà thành thì Sở làm chủ thiên hạ. Tần làm chủ thiên hạ thì thiên hạ phải cung dưỡng; Sở làm chủ thiên hạ thì đại vương tuy có vạn nén vàng cũng không giữ làm của riêng được.

Vua Tần khen: Phải

Rồi cấp cho vạn giật vàng, sai đi qua phía đông du thuyết Hàn, Nguỵ, thu phục được tướng quốc và tướng lãnh của họ, phía bắc du thuyết Yên, Triệu mà giết Lý Mục[8]. Vua Tề phải qua Tần triều phục, bốn nước kia không thi hành được kế hợp tung nữa. Như vậy là nhờ công du thuyết của Đốn Tử.

8. HOÀNG YẾT THUYẾT VUA TẦN THÂN THIỆN VỚI SỞ
(Khoảnh Tương Vương nhị thập niên)

Đời Khoảnh Tương Vương[9] năm thứ hai mươi, tướng Tần là Bạch Khởi hạ Tây Lăng[10] của Sở, một đội quân khác hạ Yên, Dĩnh, Di Lăng, đốt mộ các tiên vương, vua Sở phải dời đô lên đông bắc ở Trần Thành[11], Sở hoá suy nhược, bị Tần khinh. Lúc đó Bạch Khởi lại đem quân đánh. Nước Sở có người tên là Hoàng Yết[12], du học rộng, hiểu nhiều, vua Tương Vương dùng làm biện sĩ, sai đi sứ ở Tần, thuyết Chiêu Vương[13] như sau:

- Trong thiên hạ, không có nước nào mạnh bằng Tần và Sở. Nay nghe nói đại vương muốn đánh Sở, như vậy khác nào hai con cọp tranh nhau để cho loài chó ngựa ở ngoài hưởng lợi; tốt hơn là đại vương nên thân thiện với Sở, thần xin giảng tại sao.

Thần nghe nói thịnh cực thì suy như hết hạ sang đông, chất cao quá thì đổ như chồng quân cờ.

Nay đất quí quốc gồm nửa thiên hạ, từ đông qua tây, từ khi có loài người đến nay, chưa có một nước vạn thặng nào được như vậy. Luôn ba đời, đời các tiên đế Văn Vương, Trang Vương, và đời đại vương[14], chưa chưa khuếch trương đất đai tới Tề để bẻ gãy cái lưng của các nước hợp tung[15], nay đại vương ba lần sai Thịnh Kiều[16] giúp việc ở Hàn, Thịnh Kiều khiến cho Yên phục Tần, thế là đại vương không dùng quân, không ra uy mà chiếm được đất trăm dặm. Đại Vương đáng gọi là có tài, đại vương lại cử binh đánh Nguỵ, chẹn cửa Đại Lương; chiếm Hà Nội, hạ đất Toan Tảo[17] của Yên, diệt hết dân đất Đào. Quân Sở, Yên, chạy hết, không dám đọ sức, công của đại vương quả là nhiều vậy.

Đại vương nghỉ chinh chiến hai năm rồi lại đánh, lại chiếm Bồ và Diễn[18], Thủ Viên[19], để xâm lăng Nhân, Bình, Tiểu Hoàng, Tế Dương[20], Anh Thành[21], mà Nguỵ phải thần phục. Đại vương lại cắt phía bắc Bộc, Ma[22] mà cho Yên, cắt cái lưng của Tề, Tần, cái xương sống của Sở, Nguỵ; năm lần sáu nước họp binh mà không dám cứu nhau, cái uy của đại vương cũng đáng sợ thật. Nếu đại vương biết giữ cái công, cái uy đó, bớt cái lòng hiếu chiến đi mà nuôi cái lòng nhân nghĩa, để khỏi có hậu hoạn thì trong sử sách nào chỉ có tam vương với ngũ bá mà thôi đâu. Còn nếu như đại vương cậy dân chúng nhiều, binh giáp mạnh, đã huỷ cái uy của Nguỵ rồi mà lại muốn dùng sức bắt bậc chúa trong thiên hạ phải thần phục mình thì thần lo rằng sẽ có hậu hoạn đấy.

Kinh Thi có câu: “Việc nào cũng có lúc khởi đầu mà ít việc có chung cục mỹ mãn”[23]. Kinh Dịch nói: “Con hồ qua sông ướt cái đuôi”[24] đều là nói bước đầu thì dễ, lúc cuối mới khó. Sao biết được vậy? Họ Trí hồi xưa thấy cái lợi đánh Triệu mà không biết cái hoạ Du Thứ[25]; Ngô thấy cái lợi đánh Tề mà không biết cái hại thua ở Cam Truỵ[26]. Hai nước đó không phải là không lập được công lớn, nhưng chỉ nghĩ đến cái thắng lợi buổi đầu mà chuốc lấy cái tai hoạ ở bước sau. Ngô tin Việt, bỏ Việt mà đánh Tề[27], đã thắng Tề ở Ngải Lăng, rồi bị Việt Vương bắt giết ở bến Tam Giang[28]; họ Trí tin Hàn, Nguỵ, liên hợp với Hàn, Nguỵ mà đánh Triệu, công hãm thành Tấn Dương, thấy được ngày thắng được rồi mà Hàn, Nguỵ phản bội, giết Trí Bá Dao ở trên Tạc Đài[29].

Nay nghe đại vương ghét rằng Sở chưa bị diệt mà quên rằng Sở mà bị diệt thì Nguỵ mạnh lên, thần vì đại vương lo tính, cho rằng không nên vậy. Kinh Thi nói: “Đại đội binh mã không mệt nhọc qua núi qua sông mà tới nơi xa”. Do câu đó mà xét thì nước Sở ở xa là nước giúp cho Tần mà lân bang của Tần mới là kẻ thù của Tần. Kinh Thi nói: “Lòng người khác giảo hoạt ra sao ta đoán ra được, như con thỏ nhảy qua nhảy lại, có lúc bị chó vồ”[30].

Nay đại vương giữa đường tin rằng Hàn, Nguỵ thân thiện với đại vương, chính như Ngô tin Việt vậy. Thần nghe nói kẻ thù không thể khinh thị, thời không thể bỏ lỡ; thần lo rằng Hàn, Nguỵ nhún lời, lo sợ mà thực là gạt đại quốc đấy. Tại sao vậy? Là vì đại vương không có ơn mấy đời cho Hàn, Nguỵ mà cái oán nhiều đời với họ. Cha con anh em Hàn, Nguỵ nối gót nhau mà chết ở Tần đã nhiều đời tồi. Quốc gia suy tàn, xã tác huỷ hoại, tôn miếu đổ nát, bụng bị mổ, mép bị rạch, đầu thân chia lìa. Xương phơi trong bụi, chằm, đầu cổ cứng đơ, ngó nhau trong cõi[31], cha con già trẻ bị trói làm nô lệ, theo nhau trên đường. Quỷ thần không ai cúng kiến, trăm họ không chỗ nương dựa để sống, họ hàng li tán, lưu vong làm thần, thiếp người ta khắp thiên hạ. Hàn, Nguỵ mà không mất thì là mối lo cho xã tắc nhà Tần. Nay đại vương đánh Sở, chẳng là thất sách ư?

Vả lại ngày đại vương đem quân đánh Sở thì xuất binh qua đường nào? Đại vương mượn đường của các nước thù địch là Hàn, Nguỵ chăng? Nếu vậy thì ngày xuất binh là ngày đại vương lo rằng binh sẽ không trở về, tức đem binh mà tặng kẻ thù là Hàn, Nguỵ vậy. Còn như đại vương không mượn đường của kẻ thù là Hàn, Nguỵ thì tất phải đánh Tuỳ Dương, Hữu Nhương[32]; Tuỳ Dương, Hữu Nhương là đất sông rộng, nước sâu, rừng núi, hang vực, không sản xuất được gì, dù có chiếm được cũng như không. Vậy là đại vương được cái danh là phá Sở mà không được cái thực là được đất.

Lại thêm, ngày mà đại vương đánh Sở, bốn nước[33] tất nổi lên tập kích đại vương; Tần Sở gặp binh hoạ không ngớt thì Nguỵ tất xuất binh mà đánh đất Lưu, Phương Dư, Truất, Hồ Lăng, Nãng, Tiêu, Tương[34] mà Tống tất mất nước. Tề đem quân xuống phương nam mà phía bắc sông Tứ[35] tất bị chiếm. Đó điều là những đất bình nguyên màu mỡ, thông với bốn phía, mà đại vương nhường cho Tề, Nguỵ tự ý chiếm lấy.

Thế là đại vương phá Sở để làm béo bở Hàn, Nguỵ mà làm cho Tề mạnh lên. Hàn, Nguỵ mạnh lên có thể đương sức với Tần được. Tề, phía Nam chiếm đất Tứ, phía đông nhờ có bể che chở, phía bắc nhờ vào sông Hoàng Hà mà không lo gì về sau nữa và trong thiên hạ không có nước nào mạnh hơn Tề. Tề, Nguỵ được đất phì nhiêu, mà khéo dùng quan lại thì chỉ một năm sau là dựng được nghiệp đế, nếu chưa được thì cũng có dư sức để ngăn đại vương xưng đế.

Đất đại của đại vương rộng, dân của đại vương đông, binh giáp của đại vương mạnh mà xuất quân thì kết oán với Sở, hạ lệnh thì Hàn, Nguỵ không nghe, bị họ khuất phục vì đem ngôi đế tặng cho Tề, thế là đại vương tính lầm rồi.

Thần vì đại vương mưu tính thì không gì bằng thân thiện với Sở; Tần, Sở họp lại làm một đánh Hàn thì Hàn tất phục tòng. Nước đại vương, chỗ vạt áo thì có Sơn Đông hiểm trở, chỗ đai lưng thì có Hoàng Hà uốn khúc, che chở; Hàn tất vì Tần mà dò xét tình hình chư hầu, như vậy đại vương đem mười vạn binh đóng ở Trịnh, Lương tất phải sợ. Các đất Hứa, Yên Lăng, Anh Thành, Thượng Thái[36]; Triệu Lăng không qua lại với Nguỵ được nữa. Như vậy thì Nguỵ thành chư hầu của Tần.

Đại vương thân thiện với Sở, hai nước vạn thặng ở trong cửa quan hàng phục[37], biên giới của Tần và Tề tiếp nhau thì đất phía mặt của Tề[38] có thể ngồi không mà có. Như vậy đất đai của đại vương thông hai biển[39], từ đông qua tây, cắt ngang thiên hạ. Thế là Yên, Triệu không có Tề, Sở; Tề, Sở không có Yên, Triệu; sau này đại vương có thể đem lẽ nguy hại ra giảng cho Yên, Triệu phải sợ mà nắm được Tề, Sở. Bốn nước đó chẳng đợi bị đánh mà cũng qui phục Tần[40].

-------------
[1] Lâu Hoãn: là người nước Triệu, làm tể tướng nước Tần, vua Tần đây là Tần Chiêu Tương Vương.

[2] Hà Đông: là tên đất, mới đầu thuộc Nguỵ, sau về Tần. Nay ở tỉnh Sơn Tây.

[3] Ý nói: việc đó phải do họ nhà vua quyết định.

[4] Công tử Trì 池 tức công tử Tha 他, sách Hàn Phi Tử gọi là công tử Tỉ 汜 (ba chữ trì, tha, tỉ hơi giống nhau).

[5] Ba thành: là ba huyện của đất Hà Đông.

[6] Vua Tần, đây, sau khi thống nhất Trung Hoa rồi lên ngôi hiệu là Thuỷ Hoàng Đế.
Đốn Nhược: là người nước Tần.

[7] Mẹ Tần Thuỷ Hoàng là nàng Hạ Cơ, vốn là vợ bé của Lữ Bất Vi; khi có mang với Lữ Bất Vi rồi về làm vợ Dị Nhân, tức Trang Tương Vương. Sau mẹ Tần Thuỷ Hoàng vẫn tư thông với Lữ Bất Vi và với một người khác nữa (Coi truyện Tần V 5).

[8] Lý Mục: là danh tướng nước Triệu.

[9] Khoảnh Tương Vương: có sách chép là Đính Tượng Vương, con của Hoài Vương.

[10] Tây Lăng: nay thuộc tỉnh Hồ Bắc.

[11] Trần Thành: nay thuộc tỉnh Hà Nam.

[12] Hoàng Yết: là hậu vệ của vua nước Hoàng, làm tướng quốc ở Sở, được phong tước Xuân Thân Quân.

[13] Chiêu Vương: tức (Tần) Chiêu Tương Vương. (Goldfish)

[14] Các tiên đế Văn Vương, Trang Vương, và đời đại vương: Đại vương ở đây là vua Tần Chiêu Vương. Hai vị tiên đế của Chiêu Vương là: Huệ Văn Vương (có chỗ gọi tắt là Huệ Vương) và Vũ Vương; hai hậu duệ của Chiêu Vương là: Hiếu Văn Vương và Trang Tương Vương. Vậy Văn Vương và Trang Vương trong câu đang xét là ai? Gọi Huệ Văn Vương là Văn Vương thì còn tạm hiểu được, chứ gọi Vũ Vương là Trang Vương thì khó hiểu quá! (Goldfish).

[15] Hàn, Nguỵ, về địa thế, ở vào khoảng giữa sáu nước, nên gọi là cái lưng của các nước hợp tung.

[16] Thịnh Kiều: là người nước Tần.

[17] Tân Tảo: tên đất, nay ở phía bắc huyện Diên Tân.

[18] Thành Bồ: nay ở Trực Lệ; Thành Diễn: nay ở Hà Nam.

[19] Thủ Viên: sau đổi là Trường Viên, nay ở Trực Lệ.

[20] Nhân: cũng gọi Nhâm, nay ở Sơn Đông. Bình: nay ở huyện Trường Viên. Tiểu Hoàng: nay ở Hà Nam.
Tế Dương: nay ở Hà Nam.

[21] Anh Thành: là tên đất, không rõ ở đâu.

[22] Bộc: là sông Bộc; Ma: là tên đất ở gần sông Bộc.

[23] Câu đó ở trong bài Đãng Chi, thiên Đại Nhã.

[24] Câu đó ở trong quẻ Vi tế, ý nói con hồ không muốn cho ướt đuôi, cho nên khi chạy qua chỗ có nước thì vễnh đuôi lên, chỉ lúc nào không thể tránh được mới chịu ướt.

[25] Du Thứ: là tên đất, nay ở Sơn Tây, có thuyết nói Trí Bá thua ở đó, có thuyết nói Trí Bá chết ở đó.

[26] Can Truỵ: nay ở tỉnh Giang Tô, là nơi Ngô Vương tên Phù Sai đâm cổ tự tử.

[27] Trỏ Ngô Vương Phù Sai và Việt Vương Câu Tiễn.

[28] Ngải Lăng: tức Ngải Lăng đình, nay ở tỉnh Sơn Đông. Tam Giang: là ba con sông: Lâu, Tùng, Đông.

[29] Tạc Đài: nay ở huyện Du Thứ, tỉnh Sơn Tây. Nơi đó, hồi xưa, người ta đào đất thành sông rồi lấy bùn đáp thành đài, nên có tên đó. [Chữ tạc 鑿 có nghĩa là đào. (Goldfish)].

[30] Câu đó ở trong bài Xảo ngôn, thiên Tiểu Nhã.

[31] Nguyên văn: tương vọng ư cảnh. Diệp Ngọc Lân dịch là trong nước nước chỗ nào cũng thấy cảnh đó.

[32] Tuỳ Dương: cũng gọi là Tuỳ Thuỷ, nay ở Hồ Bắc.

[33] Tức Tề, Triệu, Hàn, Nguỵ.

[34] Lưu: nay ở Giang Tô; Phương Dư: nay ở Sơn Đông; Hồ Lăng: nay ở Giang Tô; Truất: nay ở An Huy; Nãng: nay ở Giang Tô; Tương: nay ở An Huy; Tiêu: nay ở Giang Tô. Những đất đó đều thuộc Tống.

[35] Sông Tứ: nay ở Sơn Đông. Phía bắc sông Tứ trỏ nước Lỗ. Phía bắc sông Tứ tất dấy lên: nghĩa là Tề tất thôn tính nước Lỗ.

[36] Hứa thành, Yên Lăng thành, Thượng Thái: đều ở Hà Nam ngày nay.

[37] Câu này tối nghĩa. Nguyên văn: nhi quan nội nhị vạn thặng chi chủ. Chúng tôi dịch theo Diệp Ngọc Lân; như vậy thì hai nước vạn thặng đó chỉ có thể là Hàn, Nguỵ, nhưng Hàn, Nguỵ ở ngoài, chứ sao lại ở trong cửa Hàm Cốc. Chúng tôi ngờ rằng có thể hiểu như vầy nữa: vua hai nước vạn thặng ở trong cửa Hàm Cốc tức Tần và Sở, biên giới tiếp với Tề (vì Sở tiếp với Tề), thì đất phía tay mặt của Tề có thể ngồi mà không có.

[38] Đất phía tay mặt của Tề tức đất Bình Lục, nay ở Sơn Đông.

[39] Hai biển tức Đông Hải và Tây Hải tức Thanh Hải.

[40] Bản Hứa Khiếu Thiên còn thêm hai hàng nữa mà các bản khác không có. Chúng tôi bỏ.
TẦN V

5. LỮ BẤT VI BUÔN VUA
(Bộc Dương nhân Lữ Bất Vi)

Người đất Bộc Vương tên là Lữ Bất Vi, buôn bán ở Hàm Đan, gặp công tử Tần là Dị Nhân[1] làm con tin ở Triệu, về nhà hỏi cha:

- Làm ruộng thì lời gấp mấy?

- Gấp mười.

- Buôn bán châu ngọc thì lời gấp mấy?

- Gấp trăm.

- Buôn bán để lập quốc thì lời gấp mấy?

- Vô kể.

- Nay tận lực lao khổ làm ruộng mà không được no cơm ấm áo; còn lập vua dựng nước thì ân huệ có thể lưu lại đời đời. Con xin đi làm việc đó.

Con vua Tần là Dị Nhân làm con tin ở Triệu, ở tại Liêu Thành, Lữ Bất Vi bèn tới đó, thuyết phục Dị Nhân:

Tử Hệ[2] có địa vị nối ngôi, lại có mẹ được vua yêu; còn ông không có mẹ được vua yêu mà lại đem gởi ở một nước ngoài không biết lòng dạ ra sao. Ngày nào mà có sự bội ước giữa Tần và Triệu thì thân ông rẻ như đất bùn. Tôi khuyên ông nên xin về nước để sau được ngôi Tần. Tôi xin vì ông mà vận động. Tần tất cho người đón ông về.

Rồi Lữ thuyết với em trai hoàng hậu nước Tần[3] là Dương Tuyền Quân:

Tội của ông đáng chết! Ông hay không? Kẻ môn hạ của ông thì không ai là không ở chức vị cao, còn kẻ môn hạ của thái tử thì không có người giàu sang; phủ của ông chứa trân châu bảo ngọc, tuấn mã của ông đầy chuồng ở phía ngoài, mỹ nữ của ông chật nhà ở phía sau. Tuổi của vua đã cao, ngày nào mà vua băng hà, thái tử lên nối ngôi, thì ông nguy như trứng để đầu đẳng[4] không thọ hơn loài hoa bông bụt[5] đâu. Tôi có một kế khiến cho ông giàu sang ngàn vạn năm, vững như núi Thái Sơn có bốn ngọn núi chầu bốn bên, tuyệt nhiên không còn lo nguy vong nữa.

Dương Tuyền Quân đương ngồi trên chiếu, tụt xuống, hỏi kế đó ra sao. Bất Vi đáp:

- Tuổi vua năm nay đã cao! Hoàng hậu không có con. Tử Hệ có địa vị nối ngôi, Sĩ Sương phụ tá; ngày nào vua băng hà, Tử Hệ lên ngôi, Sĩ Sương cầm quyền, thì cửa cung hoàng hậu tất ngập cỏ bồng cỏ cảo. Công tử Dị Nhân là người hiền tài, bị bỏ ở nước Triệu, không còn mẹ ở trong nước, ngổng cổ nhìn về phương tây, chỉ mong được dịp về. Nếu hoàng hậu cố xin vua mà lập làm thái tử thì công tử Dị Nhân không có nước mà hoá có nước, hoàng hậu không có con mà hoá có con.

Dương Tuyền Quân bảo:

- Phải.

Rồi vô nói với hoàng hậu. Hoàng hậu xin vua Triệu cho đón Dị Nhân về. Vua Triệu chưa cho đi.

Bất Vi tâu với vua Triệu:

- Công tử Dị Nhân là con cưng của vua Tần, không còn mẹ ở trong nước, nhưng hoàng hậu muốn dựng làm con. Nếu Tần muốn diệt Triệu, không vì đại vương có công tử Dị Nhân mà diên trì kế hoạch, thì đại vương chỉ là ôm đứa con tin vô ích; nếu Triệu cho công tử Dị Nhân về nước để được lên ngôi, lại sai người long trọng đưa về thì công tử Dị Nhân không dám vong ơn bội nghĩa, như vậy là đại vương dùng ơn nghĩa mà kết hiếu với Tần. Vua Tần già rồi, một ngày kia mà mất, thì lúc đó dù đại vương có giữ Dị Nhân cũng không đủ để buộc mối tình của Tần.

Vua Triệu bèn cho Dị Nhân về nước.

Dị Nhân về tới nơi, Bất Di bảo ông ta bận y phục nước Sở mà yết kiến thái hậu, thái hậu[6] thấy vậy rất vui lòng, khen là khôn ngoan, bảo: “Ta là người nước Sở”.

Và coi Dị Nhân là con, đổi tên là Sở.

Vua Tần bảo Dị Nhân đọc sách, Dị Nhân đáp:

- Thần từ nhỏ bị bỏ ở nước ngoài, không có quan sư phó dạy bảo, không được tập đoc.

Vua Tần không bắt đọc nữa, nhưng giữ lại. Một lát sau, Dị Nhân tâu:

- Đại vương đã từng dừng xe ở Triệu[7], kẻ hào kiệt ở Triệu biết rành đại vương không phải là ít. Nay đại vương trở về nước, họ đều hướng về phía tây[8], ngóng đại vương. Đại vương không sai một sứ giả tới uỷ lạo họ, thần sợ họ tất có lòng oán. Nên ra lệnh cho cửa ải ở biên giới đóng sớm mà mở trễ.

Vua Tần cho là phải, khen kế đó lạ. Hoàng hậu khuyên vua lập Dị Nhân làm thái tử. Vua bèn vời tể tướng vô, ra lệnh rằng: “Con quả nhân không ai bằng Sở, ta lập nó làm thái tử”.

Công tử Sở lên ngôi rồi, dùng Bất Vi làm tể tướng, gọi là Văn Tín Hầu, thực ấp được mười hai huyện Lam Điền. Hoàng hậu được phong Hoa Dương thái hậu. Các nước chư hầu đều đem đất dâng Tần.

6. CAM LA THUYẾT TRƯƠNG ĐƯỜNG VÀ VUA TRIỆU
(Văn Tín Hầu dục công Triệu)

Văn Tín Hầu muốn đánh Triệu để mở rộng đất Hà Gian[9], sai Cương Thành Quân Thái Trạch qua thờ vua Yên. Ba năm sau thái tử Yên[10] qua làm con tin ở Tần, Văn Tín Hầu nhân đó xin cho Trương Đường[11] làm tể tướng nước Yên, có ý muốn dụ Yên cùng với Tần đánh Triệu để mở rộng đất Hà Gian. Trương Đường từ chối, đáp:

- Muốn qua Yên thì phải qua Triệu; người nước Triệu treo giải ai bắt được Đường tôi thì sẽ được thưởng trăm dặm đất[12].

Văn Tín Hầu bỏ ra về, vẻ mặt không vui. Thiếu thứ tử[13] là Cam La hỏi:

- Sao quân hầu có vẻ không vui như vậy?

Văn Tín Hầu đáp:

- Ta sai Cương Thành Quân Thái Trạch qua thờ vua Yên ba năm, thái tử Yên đã vô Tần để làm con tin, nay ta tới xin Trương Khanh qua Yên làm tể tướng mà ông ta không chịu đi.

Cam La bảo:

- Để thần đi thuyết ông ta.

Văn Tín Quân mắng:

- Ta đích thân đi mời mà không được, ngươi mời làm sao được?

Cam La đáp:

- Xưa Hạng Thác[14] mới bảy tuổi mà làm thầy Khổng Tử; nay tôi đã được mười hai tuổi rồi. Xin ông cứ thử cho tôi đi, chứ sao vội mắng tôi như vậy?

Cam La yết kiến Trương Đường, hỏi:

- Công của ông với công của Vũ An Quân[15], ai hơn?

Đường đáp:

- Vũ An Quân chiến thắng không biết bao nhiêu trận, phá thành chiếm ấp không biết bao nhiêu chỗ. Công của tôi không bằng công Vũ An Quân.

Cam La hỏi:

- Vậy là ông biết rõ rằng công ông không bằng công Vũ An Quân?

- Biết rõ.

Cam La lại hỏi:

- Ưng Hầu[16] với Văn Tín Hầu, làm tể tướng ở Tần, ai được chuyên dùng?

- Ưng Hầu không được chuyên dùng bằng Văn Tín Quân.

- Vậy là ông biết rõ rằng Ưng Hầu không được chuyên dùng bằng Văn Tín Hầu?

- Biết rõ.

Cam La lại hỏi:

- Ưng Hầu muốn đánh Triệu, Vũ An Quân không chịu[17] ra khỏi Hàm Dương bảy dặm[18], Ưng Hầu bóp cổ Vũ An Quân cho chết. Nay Văn Tín Hầu đích thân mời ông làm tể tướng nước Yên mà ông không chịu đi, tôi không biết ông sẽ chết ở nơi nào đây?

Đường đáp:

- Xin nghe lời em nhỏ này mà đi.

Ra lệnh cho lấy xe trong kho, ngựa trong chuồng, vàng lụa trong phủ. Ngày đi đã định[19], Cam La bảo Văn Tín Hầu:

- Xin cho tôi mượn năm chiếc xe, tôi vì Trương Đường mà qua báo trước cho vua Triệu.

Cam La qua yết kiến vua Triệu. Vua Triệu ra đón ở ngoài thành. Tâu với vua Triệu:

- Đại vương có nghe tin thái tử Đan nước Yên vô Tần làm con tin không?

- Có.

- Nghe Trương Đường qua làm tướng quốc nước Yên không?

- Có.

- Thái tử Yên vô Tần là Yên không gạt Tần; Trương Đường qua làm tướng quốc nước Yên là Tần không gạt Yên. Yên và Tần không gạt nhau, chỉ là muốn đánh Triệu để mở rộng đất Hà Gian chứ không có lẽ gì khác. Nay đại vương tặng thần năm thành để mở rộng đất Hà Gian thì thần xin Tần trả thái tử Yên về nước, khiến cho Tần giúp cường quốc là Triệu tấn công nhược quốc là Yên.

Vua Triệu lập tức cắt năm thành để mở rộng đất Hà Gian và Tần trả thái tử Yên về nước. Rồi Triệu đánh Yên, được ba mươi sáu huyện Thượng Cốc, cắt mười một thành tặng Tần[20].

8. DIÊU CỔ ĐÁP VUA TẦN
(Tứ quốc vi nhất)

Bốn nước (Yên, Triệu, Ngô, Sở) liên kết với nhau để đánh Tần. Vua Tần[21] với quần thần tân khách gồm sáu chục người để hỏi:

- Bốn nước liên kết với nhau để tính chiếm Tần, quả nhân bị áp bức ở trong triều mà trăm họ chia rẽ ở ngoài nước, làm sao bây giờ?

Quần thần làm thinh, Diêu Cổ[22] đáp:

- Cổ tôi xin đi sứ bốn nước để phá mưu của họ mà dẹp được binh đao.

Vua Tần bèn cho Diêu Cổ trăm chiếc xe, ngàn cân vàng, lại ban mủ áo và cây kiếm để đeo. Diêu Cổ cáo từ, đi sứ, phá được mưu bốn nước, dẹp được binh đao, thân thiện với bốn nước, báo tin cho vua Tần hay, vua Tần mừng. Cổ được phong làm thiên hộ hầu, chức là thượng khanh.

Hàn Phi[23] hay tin đó, tâu với vua Tần:

- Cổ đem châu báu, phía nam đi sứ Kinh, Ngô, phía bắc đi sứ ở vùng Yên, Đại. Sau ba năm, tình giao thiệp với các nước vị tất đã thân mà châu báu trong nước thì không còn gì. Như vậy là Cổ dùng quyền của đại vương, bảo vật của quốc gia mà tự kết giao với chư hầu, xin đại vương xét lại. Vả lại một tên giữ cửa của nước Lương đó đã ăn cướp của nước Lương; lại có lần làm bề tôi ở Triệu mà bị đuổi[24], rồi phải làm tên lính giữ cửa. Quân cướp lớn ở Lương, kẻ bề tôi bị đuổi ở Triệu mà đem bàn việc xã tắc với hắn thì còn đâu cái phép nghiêm khắc đối với quần thần.

Vua Tần bèn vời Diêu Cổ vô, hỏi:

- Ta nghe ông lấy tiền bạc của quả nhân mà kết giao với chư hầu, có vậy không?

- Có.

- Thế thì còn mặt mũi nào mà nhìn quả nhân nữa?

- Tăng Sâm có hiếu với cha mẹ, ai ai cũng muốn có con là Tăng Sâm, Tử Tư trung với vua, vua trong thiên hạ ai cũng muốn có bề tôi là Tử Tư; con gái mà trinh tiết, khéo léo thì thiên hạ ai cũng muốn cưới về làm vợ. Nay Cổ tôi trung với đại vương mà đại vương không biết, bây giờ Cổ tôi không về thờ bốn nước kia thì còn đi đâu? Nếu Cổ tôi không trung với đại vương thì vua bốn nước kia còn dùng cái thân của Cổ tôi này làm gì? Vua Kiệt nghe lời gièm pha mà giết lương tướng[25], vua Trụ nghe lời gièm pha mà giết trung thần[26], rồi đến nổi thân chết, nước mất; nay đại vương nghe lời gièm pha thì không có bề tôi trung đâu.

Vua Tần bảo:

- Ông đã làm tên lính coi cửa, làm tên cướp lớn ở Lương, làm bề tôi của Triệu mà bị đuổi.

Diêu Cổ đáp:

- Thái Công Vọng[27] bị vợ đuổi ở Tề, làm tên đồ tể bỏ đi Triều Ca, là kẻ bề tôi bị đuổi ở Tử Lương, người đất Cức Tân ghét không thèm mướn, nhưng vua Văn Vương tin dùng mà dựng nên nghiệp vương; Quản Trọng là con buôn tham bỉ, là con người u uất bất đắc chí ở Nam Dương, làm tù nhân của Lỗ rồi được thả, vua Tề Hoàn Công tin dùng mà dựng được nghiệp bá[28]. Bách Lý Hề là tên ăn xin ở đất Ngu, Mậu Công đem năm bộ da dê chuộc về, vua Tề Mục công dùng làm tể tướng mà thống chế được Tây Nhung[29]; vua Tần Văn Công dùng tên cướp ở Trung Sơn mà thắng ở thành Bộc[30]; bốn kẻ sĩ đó đều xấu xa đê tiện, bị thiên hạ phỉ báng, mà bực minh chúa tin dùng là vì biết rằng có thể giúp mình lập công được. Còn như hạng Biện Thuỳ, Vụ Quang, Thân Đồ Địch[31], thì bực nhân chủ có dùng họ được không? Cho nên bực minh chủ dùng người thì không nệ người đó dơ bẩn, không quan tâm tới chỗ xấu của người đó, chỉ xét người đó có giúp được cho mình không, nhờ vậy mà bảo tồn được xã tắc. (Bọn có tài ấy) tuy người ngoài có kẻ phỉ báng thì cũng không nghe; còn kẻ có tiếng tăm là cao khiết, mà không có lấy một chút xíu công lao thì cũng không thưởng. Vì vậy mà quần thần không dám dùng cái danh hão mà mong được vua thưởng.

Vua Tần khen:

- Phải.

Rồi dùng Diêu Cổ mà giết Hàn Phi.

------------------
[1] Dị Nhân: sau lên ngôi vua, hiệu là Trang Tương Vương.

[2] Tử Hệ: là anh cùng cha khác mẹ của Dị Nhân, mẹ của Tử Hệ được vua Tần yêu.

[3] Hoàng hậu nước Tần: tức Tần vương hậu. Theo bản đăng trên trang http://hi.baidu.com/52teacher/blog/i...98d1029f4.html thì Tần Vương Hậu là Hoa Dương phu nhân, vợ của vua Hiếu Văn Vương: Tần vương hậu: chỉ Hiếu Văn Vương chi hậu Hoa Dương phu nhân 秦王后: 指孝文王之后华阳夫人. (Goldfish).

[4] Nguyên văn là chứng chất cao.

[5] Nguyên văn là triêu sinh. Từ Hải giải nghĩa là loài “mộc cẩn”, tức loài bông bụt, nhưng cũng có người cho là một loài nấm mau tàn.

[6] Thái hậu: Hai chữ thái hậu ở đây chắc là hai chữ hoàng hậu, do sách in sai mà thành thái hậu. Các bản trên mạng đều chép là vương hậu; riêng bản đăng trên trang http://baike.baidu.com/view/358139.htm còn cho biết thêm vương hậu là Hoa Dương phu nhân: Vương hậu (Hoa Dương phu nhân) 王后 (华阳夫人). Như vậy, hoàng hậu nước Tần trong câu “Rồi Lữ thuyết với em trai hàng hậu nước Tần là Dương Tuyền Quân” ở trên, và hoàng hậu mà Dị Nhân yết kiến ở đây chỉ là một người, đó là Hoa Dương phu nhân (Goldfish).

[7] Ý nói: vua Tần có hồi phải ở Triệu làm con tin.

[8] Chỉ Tần.

[9] Lúc đó Tần đã chiếm từ phía đông Thái Hàng Sơn tới sông Hoàng Hà. Hà Gian đây chỉ miền ở sông Hoàng Hà. Văn Tín Hầu: tức Lữ Bất Vi.

[10] Tức thái tử Đan.

[11] Trương Đường: là người nước Tần.

[12] Trước Trương Đường do Tần Chiêu Vương sai qua đánh Triệu, bị Triệu oán, có ra bố cáo ai bắt được Trương Đường thì được thưởng trăm dặm đất.

[13] Một chức quan.

[14] Hạng Thác: rất thông minh, bảy tuổi mà Khổng Tử phải phục là giỏi hơn mình.
Cam La: là cháu nội Cam Mậu.

[15] Vũ An Quân: tức Bạch Khởi. (Goldfish).

[16] Ưng Hầu: tức Phạm Tuy. (Goldfish).

[17] Tần Chiêu Vương đánh Sở không thắng, sai Vũ An Quân đi, Vũ An Quân không chịu, sau Tần Chiêu Vương sai Ưng Hầu dụ Vũ An Quân, Vũ An Quân khăng khăng không chịu.

[18] Theo Sử ký thì là mười dặm.

[19] Crump cho câu này là lời nói của Trương Đường và dịch: “Bảo sửa soan xe ngựa và tiền bạc vì ngày mai tôi đi”.

[20] Crump dịch là “tặng một phần mười”. Nguyên văn: “dữ thập nhất”. Theo Sử ký thì là mười một thành.

[21] Tức Tần Thuỷ Hoàng sau này.

[22] Diêu Cổ: người nước Nguỵ.

[23] Hàn Phi: là công tử của nước Hàn, giỏi về chính trị, lúc đó qua giúp nước Tần.

[24] Diêu Cổ: hồi trước làm lính giữ cửa ở Lương, ăn cướp ở Lương rồi làm quan ở Triệu, sau bị đuổi, qua Tần.

[25] Vua Kiệt giết tướng giỏi là Quan Long Phùng.

[26] Vua Trụ giết tôi trung là Tỉ Can.

[27] Thái Công Vọng: tức Lữ Thượng, là người nước Tề, nhà nghèo, bị vợ đuổi đi, có lúc bán thịt ở Triều Ca (Kinh đô của vua Trụ, nay ở Hà Nam).

[28] Quản Trọng: hồi nghèo đi buôn dầu với Bảo Thúc, khi chia tiền thường ăn gian của bạn, sau qua nước Lỗ thờ công tử Củ, chống với công tử Tiểu Bạch của Tề; công tử Củ chết, vua Lỗ bắt giam Quản Trọng, nạp cho Tiểu Bạch, Tiểu Bạch tha tôi cho Quản Trọng, tin dùng mà lập nên nghiệp bá.

[29] Bách Lý Hề: làm người nước Ngu, ăn xin ở nước Tề. Khi Tần diệt Ngu, tróc nã Bách Lý Hề, Bách Lý Hề trốn qua đất Uyển, bị người nước Sở bắt được, Tần Mậu Công đem năm bộ da dê đổi. Tây Nhung: là rợ ở phía Tây Trung Hoa.

[30] Tên cướp ở Trung Sơn…: không rõ là ai. Bộc Thành: nay ở tỉnh Sơn Đông.

[31] Biện Thuỳ, Vụ Quang: là hai người hiền đời vua Thang mà không chịu làm quan. Vua Thang giết vua Kiệt rồi, nhường ngôi cho hai ông đó, họ không chịu, trốn đi.
Thân Đồ Địch: là người đời Ân hay Chu, cũng rất thanh cao, chán nhân tình thế thái, gieo mình xuống dòng sông ở dưới chân núi.
CHƯƠNG III
TỀ SÁCH

Chu Vũ Vương (1134-1115) phong Thái Công Vọng ở đất Tề, (đô ở Doanh Khâu nay thuộc tỉnh Sơn Đông, huyện Lâm Tri[1]).

Thời Chiến Quốc, một bề tôi của Tề, họ Điền, chiếm ngôi vua.

Sau Tề thành một trong thất hùng.

Đất của Tề nay nằm một phần trên tỉnh Sơn Đông, một phần trên tỉnh Hà Bắc, phía nam giáp biển.

Cuối đời Chiến Quốc Tề bị Tần diệt.


Các vị vua Tề họ Điền
(http://vi.wikipedia.org/wiki/T%E1%BB...0%E1%BB%9Bc%29)

*
* *

TỀ I

3. NƯỚC VỚI CÁ
(Tĩnh Quách Quân tương thành Tiết)

Tĩnh Quách Quân[2] muốn xây thành Tiết, trong số khách có nhiều người can ngăn. Tĩnh Quách Quân ra lệnh cho người hầu hễ có khách nào muốn can ngăn thì đừng cho vô. Có người nước Tề xin rằng: “Cho tôi được nói ba tiếng thôi. Nếu tôi nói thêm tiếng thứ tư thì xin cứ luộc tôi đi”.

Tĩnh Quách Quân bèn cho vô. Ông khách tiến tới, nói:

- Biển cá lớn.

Rồi quay lưng chạy.

Tĩnh Quách Quân gọi lại:

- Mời khách ở lại.

Khách đáp:

- Kẻ thô bỉ này không dám đùa với cái chết.

Tĩnh Quách Quân bảo:

- Không sao. Cứ nói tiếp đi.

- Ngài không nghe loài cá lớn chăng? Lưới không bủa được nó, câu không kéo được nó, nhưng nếu nó xông xáo mà sa vào chỗ cạn thì con dế, con kiến có thể bu lại hành hạ nó. Nước Tề nay đối với ngài cũng như nước đối với con cá lớn đấy. Ngài còn nước Tề thì đất Tiết này có kể chi, nếu mất Tề thì dù có cất thành Tiết cao tới đụng trời cũng vô ích.

Tĩnh Quách Quân khen:

- Phải.

Rồi dẹp việc xây thành Tiết.

5. TỀ MẠO BIỆN CỨU TRI KỶ
(Tĩnh Quách Quân thiện Tề Mạo Biện)

Tĩnh Quách Quân rất tương đắc với Tề Mạo Biện. Tề Mạo Biện có nhiều tật, người trong nhà Tĩnh Quách Quân thấy vậy không vui. Sĩ Uý vạch rõ những tật ấy, Tĩnh Quách Quân không nghe, Sĩ Uý bèn cáo từ mà bỏ ra đi. Mạnh Thường Quân[3] cũng lựa lời cản ngăn, Tĩnh Quách Quân nổi giận:

- Các người chết đi, đừng phá nhà ta. Nếu có thể ân hân vì Tề Mạo Biện thì ta cũng làm, chứ không từ.

Rồi cho Tề Mạo Biện ở phòng tốt nhất, sai con trưởng là Ngự sáng chiều hầu hạ cơm nước.

Được vài năm, Uy Vương mất, Tuyên Vương lên ngôi, Tĩnh Quách Quân rất không được lòng Tuyên Vương, từ chức mà lại về đất Tiết, cùng ở với Tề Mạo Biện. Không được bao lâu, Tề Mạo Biện từ tạ, xin đi để yết kiến Tuyên Vương. Tĩnh Quách Quân bảo:

- Nhà vua vốn ghét Anh này lắm, ông đi thì chắc chết đấy.

Tề Mạo Biện đáp:

- Tôi vốn không mong sống, xin cứ cho tôi đi.

Tĩnh Quách Quân ngăn không được.

Tề Mạo Biện tới Tề, Tuyên Vương hay tin, nén giận mà đợi. Tề Mạo Biện vô yết kiến. Vua Tề hỏi:

- Ông là người được Tĩnh Quách Quân yêu quý, nói gì cũng nghe, phải không?

Tề Mạo Biện đáp:

- Yêu thì có mà nghe thì không. Hồi đại vương còn là thái tử, Biện tôi bảo Tĩnh Quách Quân rằng: “Thái tử có tướng bất nhân, má phị mà mắt húp như mắt heo, tướng đó là tướng phản bội, nên phế thái tử mà lập con bà Vệ Cơ, tên là Giao Sư”[4]. Tĩnh Quách Quân khóc mà đáp rằng: “Không nên, tôi không nhẫn tâm được”. Nếu nghe lời Biện tôi mà làm thì đâu có lo ngày nay? Đó là một chuyện. Đến đất Tiết, Chiêu Dương[5] xin đem đất rộng gấp mấy lần đất Tiết để đổi lấy đất Tiết. Biện tôi khuyên: “Nên đổi đi”. Tĩnh Quách Quân đáp: “Đất Tiết do tiên vương[6] phong cho, bây giờ tuy bị hậu vương[7] ghét, chết đi (xuống âm phủ) tôi biết trả lời tiên vương ra sao? Vả lại miếu của tiên vương ở đất Tiết, tôi lẽ nào đem miếu của tiên vương mà giao cho Sở?”. Lại không nghe tôi nữa. Thế là hai chuyện.

Tuyên Vương cảm động hiện ra nét mặt, bảo:

- Tĩnh Quách Vương đối với quả nhân một lòng như vậy ư? Quả nhân nhỏ tuổi không hay được chuyện đó. Ông có thể vì quả nhân mà vời Tĩnh Quách Quân về triều được không?

Tề Mạo Biện đáp:

- Xin vâng.

Tĩnh Quách Quân bận áo mão của Uy Vương ban cho, đeo kiếm cũng của Uy Vương ban, Tuyên Vương thân hành ra đón ở ngoài thành, trông thấy mà khóc. Tĩnh Quách Quân tới, vua mời ông làm tướng quốc, Tĩnh Quách Quân từ chối không được, phải nhận; được bảy ngày lại cáo bệnh, hết sức từ chức không được, ba ngày sau đành phải vâng lời vua. Lúc đó Tĩnh Quách Quân đáng gọi là biết xét người. Biết xét người cho nên vì người bị chê bai mà vẫn không đổi ý. Còn Tề Mạo Biện kia tuy là thấp hèn mà vui vẻ sẵn sàng cứu được hoạn nạn cho người.

6. TỀ CỨU TRIỆU MÀ HẠI CẢ TRIỆU LẪN NGUỴ
(Hàm Đan chi nan)

Khi Hàm Đan (của Triệu) bị (Nguỵ) vây, Triệu cầu cứu với Tề. Điền Hầu[8] vời các quan đại thần vô hỏi:

- Nên cứu hay không nên cứu Triệu?

Trâu Tử[9] đáp:

- Đừng cứu là hơn.

Đoạn Can Luân[10] đáp:

- Không cứu thì không có lợi cho ta.

Điền Hầu hỏi:

- Sao vậy?

- Nếu Nguỵ chiếm Hàm Đan thì có lợi gì cho ta không?

- Phải.

Rồi Điền Hầu ra lệnh cho quân đóng ở ngoài thành Hàm Đan.

Đoạn Can Luân bảo:

- Thần bàn về lợi và không lợi, nghĩa không phải vậy. Cứu Hàm Đan mà đóng quân ở ngoài thành như thế thì Triệu không mất mà Nguỵ không bị thiệt chút gì. Cho nên không bằng đem quân xuống phía nam tấn công Trương lăng để cho Nguỵ quân mệt mỏi. Hàm Đan bị chiếm mà quân Nguỵ mệt mỏi, thì Triệu mất nước mà Nguỵ suy yếu.

Điền Hầu khen phải, rồi đem quân xuống phía nam tấn công Trương Lăng.Bảy tháng sau Hàm Đan mất. Tề nhân Nguỵ mệt mỏi, đại phá quân Nguỵ ở Quế Lăng.

8. CÔNG TÔN HÃN MƯU HẠI ĐIỀN KỊ
(Thành Hầu Trâu Kị vi Tề tướng[11])

Thành Hầu Trâu Kị làm tể tướng nước Tề. Điền Kị[12] làm tướng quân, hai người không vừa ý nhau. Công Tôn Hãn bảo Trâu Kị:

- Sao ông không bàn với vua đem quân đánh Nguỵ? Thắng thì do mưu của ông mà ông có thể được thưởng công; không thắng thì là Điền Kị không chịu mạnh tiến mà tử chiến, như vậy là phạm quân pháp tất bị giết.

Trâu Kị cho là phải, thuyết với vua sai Điền Kị đánh Nguỵ, Điền Kị ba lần đánh ba lần thắng. Trâu Kị cho Công Tôn Hãn hay. Công Tôn Hãn sai người cầm mười nén vàng ra chợ bói một quẻ, nói với thầy bói: “Tôi là người của ông Điền Kị đây. Chủ tôi ba lần đánh Nguỵ, ba lần thắng, danh tiếng chấn động thiên hạ, nay muốn mưu đại sự, thầy bói cho một quẻ xem có tốt không?”

Thầy bói đi báo người đi coi bói. Họ khai hết ra trước mặt vua. Điền Kị phải bỏ nước trốn đi.

12. TRÂU KỊ KHUYÊN VUA TỀ NGHE LỜI CAN GIÁN
(Trâu Kị tu bát xích)

Trâu Kị thân cao trên tám thước, dong mạo đẹp đẽ. Một buổi sáng bận áo đội mão ngắm trong gương rồi hỏi vợ:

- Tôi và Từ Công ở phía bắc thành, ai đẹp hơn ai?

Vợ đáp:

- Mình đẹp lắm, Từ Công sao bằng mình được!

Từ Công ở phía bắc thành là người nổi tiếng đẹp trai của nước Tề.

Kị không tin, lại hỏi người thiếp:

- Tôi với Từ Công, ai đẹp hơn ai?

Người thiếp đáp:

- Từ Công làm sao đẹp bằng ông được!

Hôm sau có khách tới chơi, cùng ngồi đàm đạo. Kị hỏi khách:

- Tôi với Từ Công, ai đẹp hơn ai?

Khách đáp:

- Từ Công không đẹp bằng ông.

Hôm sau nữa, Từ Công lại chơi. Kị ngắm kĩ ông ta, tự cho mình không đẹp bằng, liếc ngó dong mạo mình trong gương lại càng thấy mình kém xa.

Đêm nằm suy nghĩ:

- Vợ lớn khen ta đẹp là tư vị với ta; vợ nhỏ khen ta đẹp là vì sợ ta; khách khen ta đẹp là vì muốn cầu cạnh ta.

Hôm sau vô triều, yết kiến Uy Vương, tâu:

- Thần biết chắc mình không đẹp bằng Từ Công. Vợ lớn của thần tư vị thần, vợ nhỏ của thần sợ thần, khách của thần muốn cầu cạnh thần, cho nên đều khen thần là đẹp hơn Từ Công. Nay nước Tề vuông ngàn dặm, có tới một trăm hai chục thành, cung nữ và kẻ tả hữu trong cung có ai là không tư vị với đại vương; bề tôi ở triều có ai là không sợ đại vương; người trong bốn cõi có ai là không cầu cạnh đại vương. Xét như vậy thì biết đại vương bị che lấp quá lắm rồi!

Uy Vương đáp:

- Đúng.

Rồi ra lệnh: “Quan lại và dân chúng ai chỉ trích thẳng vào mặt quả nhân một lỗi nào thì được thưởng hạng nhất; ai mà dâng thư can gián quả nhân thì được thưởng hạng nhì; ai mà chê bai quả nhân ở chợ hoặc ở triều đình, mà đến tai quả nhân thì được thưởng hạng ba”.

Lệnh mới ban, quần thần tới can gián, cửa cung náo nhiệt như cảnh chợ; ít tháng sau lời can gián giảm bớt, một năm sau, dù có muốn nói cũng không có gì để can gián.

Yên, Triệu, Hàn, Nguỵ hay tin đều lại triều kiến vua Tề. Như vậy là “chiến thắng ngay tại triều”.

16. TÔ TẦN THUYẾT VUA TỀ THEO HỢP TUNG
(Tô Tần vi Triệu hợp tung)

Tô Tần thay vua Triệu, thuyết Tề Tuyên Vương theo kế hoạch hợp tung:

- Tề, phía nam có núi Thái Sơn, phía đông có núi Lang Nha, phía tây có sông Thanh Hà, phía bắc có biển Bột Hải[13], như vậy là một “nước có bốn bề hiểm trở”. Đất Tề rộng hai ngàn dặm, binh lính được vài chục vạn, lúa chất như gò núi, chiến xa của Tề tốt, cùng với năm nước kia[14], tiến nhanh như tên, tấn công mạnh như sấm chớp, ào tới như mưa gió, như có chiến tranh thì cũng vị tất vượt được núi Thái Sơn, cắt đứt được sông Thanh Hà, qua được biển Bột Hải. Bảy vạn nhà ở Lâm Tri, thần đoán phỏng chừng mỗi nhà ít nhất có đến ba người trai trẻ, vậy là cả thảy có ba bảy hai mươi mốt vạn. Không cần bắt lính ở các huyện xa, nội Lâm Tri cũng được hai mươi mốt vạn rồi. Lâm Tri rất giàu và xúc tích đầy đủ, không người dân nào là không thổi ống vu, gảy đàn sắt, đàn cầm, đàn trúc, chọi gà, đua chó, chơi trò lục kỳ[15], đá cầu. Đường Lâm Tri náo nhiệt, bánh xe qua lại sát nhau, người chen vai nhau, vai áo tiếp nhau thành như bức màn, tay áo đưa lên thành bức rèm, mồ hôi vẩy ra thành mưa, nhà nào cũng đôn hậu, giàu có, người nào cũng có chí khí hiên ngang. Nhờ đức hiền minh của đại vương với sự cường thịnh của nước Tề nên không nước nào cũng chống nổi Tề. Nay Tề quay về phía tây[16] mà thờ Tần, thần trộm vì đại vương mà lấy làm nhục.

Vả lại, Hàn, Nguỵ sở dĩ sợ Tần là vì biên giới tiếp với Tần, xuất binh mà đánh nhau thì chỉ trong mười ngày là cái thắng bại, tồn vong quyết định được rồi. Hàn, Nguỵ đánh mà thắng Tần thì binh cũng mất một nửa mà không giữ được biên giới bốn bề; đánh mà không thắng thì tất là mất nước. Cho nên Hàn, Nguỵ sợ việc chiến tranh với Tần mà thần phục Tần.

Tần mà đánh Tề, thì sự thể khác hẳn: phía sau có hàn, Nguỵ quấy rối, lại phải qua miền Dương Tấn[17] của Vệ, và miền Cang Phụ[18] hiểm trở, đường hẹp, xe không tránh nhau được, ngựa không chạy hàng hai được, một trăm người giữ chỗ hiểm yếu thì ngàn người không qua được. Tần muốn vào sâu thì phải lấm lét như chó sói, coi chừng Hàn, Nguỵ tập hậu. Vì vậy chỉ làm bộ giậm doạ, mà không dám tiến, và Tần không hại Tề được, lẽ đó minh bạch rồi.

Không xét kỹ cái thế của Tần không làm gì được Tề mà muốn quay về hướng tây thờ Tần, thế là quần thần nước Tề tính sai rồi. Nay (kế hoạch của thần là làm cho) Tề không mang tiếng thờ Tần mà có cái thực lực của một cường quốc, thần xin đại vương thử lưu ý tới.

Vua Tề đáp:

- Quả nhân vụng tính, nay ông đem lời vua Triệu ban bảo cho, quả nhân xin kính đem xã tắc để theo kế hoạch hợp tung.
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

CHIẾN QUỐC SÁCH Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH   CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Dec 01, 2010 4:50 pm


17. TRƯƠNG NGHI THUYẾT VUA TỀ THEO LIÊN HOÀNH
(Trương Nghi vi Tần liên hoành)

Trương Nghi thay vua Tần thuyết vua Tề Mẫn Vương theo kế hoạch liên hoành:

- Cường quốc trong thiên hạ, không nước nào hơn nước Tề; bậc đại thần, bậc cha anh đông đúc giàu có, vui vẻ, không nước nào hơn nước Tề. Nhưng đại vương tính sai, chỉ nghĩ đến việc nhất thời, không lo tới cái lợi vạn đại. Bọn theo kế hoạch hợp tung tất bảo đại vương rằng nước Tề, phía tây có nước Triệu hùng cường, phía nam có nước Hàn, Nguỵ, lại là một nước dựa vào bể. Đất rộng, dân đông, binh lính mạnh mẽ, dũng cảm, tuy có trăm nước Tần cũng không làm gì được Tề. Đại vương nghe lời đó mà không xét cái thực tại. Bọn hợp tung liên kết với nhau thì không ai không cho hợp tung là nên. Nhưng thần nghe nói, Tề với Lỗ ba lần đánh nhau, Lỗ ba lần thắng, mà sau đó Lỗ hoá ra nguy vong, là vì tuy có cái danh là thắng mà thực tế là mất. Tại sao vậy? Là vì Tề lớn mà Lỗ nhỏ.

Nay Triệu so với Tần, thì cũng không khác gì Lỗ so với Tề. Tần, Triệu đánh nhau ở phía trên Hà Chương[19], đánh hai lần, thắng Tần hai lần, đánh ở dưới Phiên Ngô[20], đánh hai lần, thắng Tần hai lần. Nhưng sau bốn lần chiến thắng đó, Triệu mất vài chục vạn quân, chỉ còn giữ được đất Hàm Đan, thành thử tuy có cái danh là thắng Tần mà sự thực là nước bị tàn phá. Tại sao vậy? Là vì Tần mạnh mà Triệu yếu.

Nay Tần và Sở thông hôn với nhau[21] thành hai nước anh em. Hàn dâng đất Nghi Dương, Nguỵ dâng đất Hà Ngoại[22]. Triệu tới Mãnh Trì[23] để triều kiến vua Tần, lại cắt đất Hà Gian để thờ Tần. Nếu đại vương không thờ Tần, Tần sẽ xua Hàn, Nguỵ đánh miền nam của Tề, thống suất hết binh mã của Triệu, qua Hà Quan mà tiến về Bác Quan[24]; Lâm Tri, Tức Mặc[25] sẽ không còn là đất của đại vương nữa. Khi mà quí quốc bị công phá thì dù có muốn thờ Tần thì cũng không được nữa. Cho nên thần xin đại vương nghĩ kỹ lại.

Vua Tề đáp:

- Tề là nước hẻo lánh, thô lậu ở trên bờ Đông Hải, chưa được nghe cái lợi lâu dài cho xã tắc. Nay quí khách vui lòng chỉ bảo cho, xin đem xã tắc để thờ Tần.

Rồi đem một miền ba trăm dặm có nhiều lợi về cá và muối mà dâng Tần.



-------------
[1] Lâm Tri 临淄: có người đọc là Lâm Truy. (Goldfish).

[2] Tĩnh Quách Quân: tức Điền Anh, được phong ở đất Tiết, muốn xây thành Tiết cho thật kiên cố. Tiết là một miền của Tề, tại đó có tôn miếu của các vua Tề. Điền Anh chỉ nghỉ cách củng cố địa vị của mình mà không nghỉ đến nước Tề. Bài này có chép trong thiên Thuyết lâm hạ, bộ Hàn Phi Tử.

[3] Mạnh Thường Quân: tên là Điền Văn, con của Điền Anh, tức Tĩnh Quách Quân.

[4] Vệ Cơ: là vợ thứ của Uy Vương. Giao Sư là con của Vệ Cơ, em của Tuyên Vương.

[5] Chiêu Dương: là một tướng của vua Sở.

[6] Tiên vương: trỏ Uy Vương.

[7] Hậu Vương: trỏ Tuyên Vương, con của Uy Vương.

[8] Điền Hầu: tức Tề Uy Vương.

[9] Tức Trâu Kị. Sử ký chép là Sô Kị.

[10] Đoạn Can Luân: sách in là Đoàn Can Luận, có chỗ in là Đoàn Can Luân; tôi tạm sửa lại là Đoạn Can Luân 段干纶 (theo http://hi.baidu.com/nanfengren/blog/...c27979141.html). (Goldfish).

[11] Tề tướng: sách in là tể tướng, tôi tạm sửa lại thành Tề tướng 齐相 (theo http://hi.baidu.com/nanfengren/blog/...c27979141.html). (Goldfish).

[12] Điền Kị: là tướng của Tề, có thuyết cho rằng Điền Kị chính là Trần Thần Tư.

[13] Lang Nha: tên núi, nay ở tỉnh Sơn Đông; Thanh Hà: ở phía tây nước Tề, nước sâu và trong nên có tên đó. Bột Hải: là một cái biển ở Sơn Đông.

[14] Tức những nước: Triệu, Hàn, Nguỵ, Yên, Sở.

[15] Một trò đánh cờ, mỗi bên dùng sáu quân cờ, một bên trắng, một bên đen.

[16] Vì Tần ở phía Tây.

[17] Dương Tần: vốn là đất của Vệ, nay ở tỉnh Sơn Đông.

[18] Cang Phụ: là đất của Tề, nay cũng ở Sơn Đông.

[19] Hà Chương: là tên con sông bắt nguồn từ Sơn Tây, chảy qua Hà Nam, Trực Lệ rồi rót vô Bột Hải.

[20] Phiên Ngô: thuộc về nước Triệu, nay ở Trực Lệ.

[21] Trương Nghi có nói với Sở Hoài Vương nếu liên kết với Tần thì sẽ tâu với vua Tần gả con gái cho Sở Hoài Vương.

[22] Hà Ngoại: chỉ miền nam sông Hoàng Hà.

[23] Mãnh Trì: là tên thành, nay ở Hà Nam.

[24] Hà Quan: là miền Thành Hà; Bác Quan: nay ở Sơn Đông. Có sách chép là Đoàn Quan.

[25] Tức Mặc: là đất của Tề, nay ở Sơn Đông.

TỀ II

2. TRƯƠNG NGHI LẬP MƯU ĐỂ ĐƯỢC VŨ VƯƠNG TIN DÙNG
(Trương Nghi sự Tần Huệ Vương)

Trương Nghi thờ Tần Huệ Vương. Huệ Vương mất, Vũ Vương lên ngôi. Kẻ tả hữu của Vũ Vương ghét Trương Nghi, tâu với Vũ Vương:

- Nghi thờ tiên vương mà không trung…

Nói chưa hết câu thì sử giả của Tề cũng vừa tới để trách Vũ Vương sao dùng Trương Nghi làm tể tướng. Trương Nghi nghe được, bảo Vũ Vương:

- Nghi tôi có một kế ngu, xin dâng đại vương.

Vũ Vương hỏi:

- Kế ra sao?

Đáp:

- Tính việc xã tắc, thì có gây đại biến ở phía đông[1], đại vương mới có cơ hội cắt được nhiều đất. Nay Tề (Mẫn Vương) rất ghét Nghi tôi, Nghi tôi ở đâu thì tất đem binh đánh đó, cho nên Nghi tôi xin đem cái thân bất tài này qua Lương[2], như vậy Tề tất đem quân đánh Lương. Quân Tề và quân Lương cầm chân nhau ở dưới thành, đại vương thừa lúc đó đánh Hàn, vô đất Tam Xuyên, đem quân ra khỏi ải Hàm Cốc, chẳng cần đánh cũng chiếm được Chu, chở hết đồ tế tự, bắt thiên tử, lấy bản đồ cùng sổ sách, thế là thành nghiệp đế vương.

Vua Tần khen hay. Rồi sửa soạn cho ba chục binh xa để cho Trương Nghi qua Lương.

Tề quả nhiên đem binh đánh Lương, vua Lương lo sợ. Trương Nghi bảo:

- Xin đại vương đừng lo, tôi có kế làm cho Tề phải lui binh.

Rồi sai một người tay chân tên là Phùng Hỉ qua Sở, rồi từ Sở qua Tề. Xong việc Tề, Sở rồi, Phùng Hỉ nhân cơ hội, bảo vua Tề:

- Đại vương rất ghét Nghi, nhưng (chính) đại vương đã uỷ thác Nghi cho vua Tần một cách thực là trọng hậu.

Vua Tề hỏi:

- Quả nhân rất ghét Nghi, Nghi ở đâu thì quả nhân đem quân đánh đó, vậy thì làm sao bảo là quả nhân uỷ thác Nghi cho vua Tần?

Đáp:

- Chính vậy là uỷ thác Nghi đấy. Khi Nghi ra khỏi Tần, có hứa với vua Tần rằng: “Mưu tính giúp đại vương thì có gây biến ở phía đông, đại vương mới có cơ hội cắt được nhiều đất. Vua Tề rất ghét Nghi tôi; Nghi tôi ở đâu thì tất đem quân đánh đó; cho nên Nghi tôi xin đem cái thân bất tài này qua Lương, như vậy Tề tất đem quân đánh Lương. Quân Tề và quân Lương cầm chân nhau ở dưới thành, không dám nghỉ ngơi, đại vương thừa lúc đó đánh Hàn, vô đất Tứ Xuyên, đem binh ra khỏi ải Hàm Cốc, chẳng cần đánh cũng chiếm được Chu, chở đồ tế tự, bắt được thiên tử, lấy bản đồ cùng sổ sách, thế là thành nghiệp đế vương”. Vua Tần cho kế đó là phải, sửa soạn cho ba chục binh xa để Nghi qua Lương, quả nhiên Tề đánh Lương. Thế là đại vương ở trong tự làm cho mình suy nhược mà đánh nước liên kết với mình, mở rộng đất đai của nước giáp ranh với mình để tự hại mình, mà làm cho Nghi được vua Tần càng tin. Vậy thần bảo rằng đại vương uỷ thác Nghi cho vua Tần.

Vua Tề bảo: Phải.

Rồi thôi không đánh Lương nữa.

4. VẼ RẮN THÊM CHÂN
(Chiêu Dương vi Sở phạt Nguỵ)

Chiêu Dương vì Sở mà đánh Nguỵ, phá quân giết tướng, chiếm được tám thành, rồi chuyển quân qua đánh Tề, Trần Chẩn[3] được vua Tề (Mẫn Vương) sai qua yết kiến Chiêu Dương, lạy Chiêu Dương hai lạy, mừng Chiêu Dương đã chiến thắng Nguỵ, rồi đứng dậy hỏi về pháp lệ của Sở:

- Phá quân giết tướng thì được chức tước gì?

Chiêu Dương đáp:

- Chức thì là Thượng trụ quốc, tước thì Thượng chấp khuê[4].

- Cao sang hơn chức đó là chức gì?

- Chỉ có chức lệnh doãn[5] mà thôi!

Trần Chẩn bảo:

- Chức lệnh doãn sang thật, nhưng vua Sở không đặt hai chức lệnh doãn. Tôi xin trộm đưa tỉ dụ này để ông hiểu. Sở có người cúng giỗ xong rồi cho bọn người nhà một chén rượu. Bọn người nhà bảo nhau: “Mấy người uống thì không đủ, một người uống thì dư. Bây giờ đây, chúng ta vẽ một con rắn trên đất, ai vẽ xong trước thì được uống”. Một người vẽ xong trước, lấy rượu uống, tay trái cầm chén, tay phải vẽ thêm vào hình con rắn, bảo: “Tôi có thể vẽ thêm chân cho nó”. Vẽ chưa xong thì một người khác đã vẽ xong rắn, giật lấy chén rượu, bảo: “Rắn vốn không có chân, sao anh lại vẽ chân cho nó?”. Rồi uống hết chén rượu, thế là người vẽ rắn thêm chân kia mất uống. Nay ông giúp Sở mà đánh Nguỵ, phá quân, giết tướng, được tám thành mà quân lính không suy nhược; ông lại muốn đánh Tề, Tề sợ ông lắm, vì danh ông vang lừng, như vậy là đủ rồi, còn chức không thể cao hơn được nữa. Ông cầm quân lần nào cũng thắng mà không biết dừng lại, tới khi thân chết rồi, tước về người sau, thì có khác gì vẽ rắn thêm chân không?

Chiêu Dương cho là phải, lui binh về.

7. TÔ TẦN THUYẾT VUA TỀ GIÚP TRIỆU
(Tần công Triệu Trường Bình)

Tần đánh Triệu ở Trường Bình. Tề, Sở cứu Triệu. Vua Tần nghĩ: “Tề, Sở cứu Triệu, nếu họ đoàn kết thì mình lui binh, không thì mình đánh”.

Triệu thiếu lương thực, xin Tề giúp lúa, Tề không chịu, Tô Tần bảo vua Tề:

- Nên giúp đi để lui binh của Tần, không giúp thì binh Tần không lui. Như vậy là Tần mưu tính đúng, mà Tề, Yên tính sai. Vả lại Triệu đối với Yên, Tề, được hai nước đó che cho như răng có môi, môi hở thì răng lạnh. Hôm nay mà mất Triệu thì ngày mai tới phiên Tề, Sở. Lại thêm cái việc cứu Triệu phải cẩn thận như việc bưng vò mứt, tưới cái nồi nóng. Cứu Triệu là một việc nghĩa cao thượng, lui được binh Tần là có tiếng tăm rỡ ràng. Được cái ân nghĩa là cứu Triệu khỏi mất nước, và cái uy danh lui được binh Tần, không lo việc đó mà chỉ nghĩ tiếc lúa thì là tính sai việc nước.


---------------
[1] Phía đông trỏ lục quốc, đều ở phía đông Hào Sơn của Tần.

[2] Lương (hoặc Địa Lương) là kinh đô của Nguỵ, vì vậy cũng có chỗ Lương chỉ Nguỵ.

[3] Trần Chẩn: trước làm quan ở Tần, sau bỏ Tần qua Sở (xem lại các bài Tần I 11, Tần I 12, Tần II 2). Có lẽ sau nữa, Trần Chẩn bỏ Sở qua Tề. (Goldfish).

[4] Thượng chấp khuê: thời xưa những quan lớn vô triều, tay cầm một phiến ngọc trên ngọn dưới vuông, gọi là ngọc khuê.

[5] Lệnh doãn: là chức thượng khanh của Sở.
TỀ III

1. MƯU MÔ TÔ TẦN
(Sở vương tử)

Vua Sở (Hoài Vương) mất, thái tử (Hoành) làm con tin ở Tề[1]. Tô Tần bảo Tiết Công[2]:

- Sao ông không giữ thái tử lại để chiếm lấy phía đông của Sở?

Tiết Công đáp:

- Không nên. Ta mà giữ thái tử lại, đất Dĩnh Trung[3] lập vua khác thì ta có con tin cũng như không, mà lại mang tiếng làm điều bất nghĩa trong thiên hạ.

Tô Tần[4] bảo:

- Không phải vậy. Đất Dĩnh Trung mà lập vua khác thì ông sẽ bảo vua mới: “Tặng tôi miền đông, tôi sẽ vì đại vương mà giết thái tử; nếu không thì tôi sẽ đem binh ba nước[5] qua Sở mà cùng lập thái tử lên ngôi”. Như vậy, Sở tất nghe mà ta chiếm được phía đông của Sở (miền giáp Nước Tề).

Mưu đó của Tô Tần: 1. Có thể giúp Tô Tần xin (Tiết Công) đi được; 2. Có thể khiến cho vua Sở phải vội vàng đem tặng Tề (miền phía đông). 3. Có thể giúp Tề cắt thêm đất của Sở; 4. Có thể làm cho thái tử trung với Tề mà khiến Sở cắt thêm đất cho Tề; 5. Có thể vì vua Sở đuổi gấp thái tử; 6. Có thể làm cho thái tử trung thành và phải trốn đi gấp; 7. Có thể làm cho có người nói xấu Tô Tần với Tiết Công; 8. Có thể làm cho Tô Tần được phong ở Sở; 9. Có thể khiến người thuyết Tiết Công nên thân thiện với Tô Tần; 10. Lại có thể khiến Tô Tần tự biện hộ với Tiết Công[6] (Là vì như sau):

1. Tô Tần bảo Tiết Công:

- Tôi nghe nói mưu mà tiết lậu thì việc tất hỏng, tính toán rồi mà không quyết thi hành thì danh không thành. Nay ông giữ thái tử lại để bắt chẹt Sở phải tặng phía đông của Sở. Nếu Sở không gấp tặng phía đông thì là Sở tính thay đổi kế hoạch; thay đổi kế hoạch thì ông tuy giữ con tin cũng như không, mà lại mang tiếng trong thiên hạ.

- Phải. Vậy làm cách nào bây giờ?

- Tôi xin vì ông mà qua Sở, khiến Sở phải vội đem quân vô đất các nước phía đông[7]. Sở mà chịu tặng thì mưu kế của ông không thể nào thất bại được.

- Phải.

Rồi Tô Tần qua Sở.

Vì vậy mà bảo rằng: “Mưu của Tô Tần giúp cho Tô Tần có thể xin Tiết Công đi được”.

2. Tới Sở, Tô Tần bảo vua Sở[8]:

- Tề muốn suy tôn thái tử mà lập làm vua Sở. Tôi xét ra thì Tiết Công giữ thái tử lại là để bắt Sở phải tặng Tề miền phía đông. Nay đại vương không gấp tặng miền phía đông, thì thái tử sẽ tặng Tề một số đất bội đất đại vương tặng để Tề suy tôn mình lên làm vua Sở.

Vua Sở đáp:

- Xin vâng lệnh ông.

Rồi đem dâng Tề miền đất phía đông.

Vì vậy mà bảo rằng: “Mưu của Tô Tần khiến vua Sở phải vội đem tặng miền phía đông”.

3. Tô Tần về Tề, bảo Tiết Công:

- Sở phải ở vào cái thế phải cắt nhiều đất cho ta.

Tiết Công hỏi:

- Sao vậy?

- Xin ông cho thái tử hay đầu đuôi mọi sự, khiến thái tử thưa với vua để tỏ lòng trung[9] với ông. Rồi cho Sở hay việc đó, thế là Sở phải cắt thêm đất cho Tề.

Vì vậy mà bảo rằng: “Mưu của Tô Tần có thể giúp cho Tề cắt thêm đất của Sở”.

4. Rồi Tô Tần lại bảo thái tử:

- Tề ủng hộ thái tử mà muốn lập thái tử làm vua, vua Sở xin cắt đất để giữ thái tử lại; Tề chê cắt đất ít, thái tử sao không cắt đất gấp bội để tặng Tề? Như vậy Tề tất ủng hộ thái tử.

Thái tử đáp: Phải. Rồi cắt gấp bội đất Sở để cho Tề rộng thêm[10].

Vua Sở hay tin, đâm lo, lại cắt thêm đất để dâng Tề, mà vẫn còn sợ việc không thành.

Vì vậy mà bảo rằng: “Mưu của Tô Tần khiến cho Sở tặng thêm đất cho Tề”.

5. Rồi Tô Tần lại bảo Sở:

- Tề sở dĩ dám đòi cắt nhiều đất như vậy là vì nắm được thái tử; nay Tề đã được đất rồi mà vẫn không ngừng là vì dùng thái tử để mặc cả với đại vương. Tôi có thể làm cho thái tử phải đi. Thái tử mà đi thì Tề không còn nói gì được nữa, tất không còn đòi đại vương cắt thêm đất nữa. Sau đó, đại vương nên qua đất Tề mà kết giao, Tề tất chịu, như vậy là đại vương đuổi được kẻ thù mà kết thân được với Tề.

Vua Sở rất mừng, đáp: Xin đem nước mà theo kế ông.

Vì vậy mà bảo rằng: “Mưu của Tô Tần có thể vì vua Sở đuổi gấp thái tử”.

6. Rồi Tô Tần bảo thái tử:

- (Hiện nay) người có quyền tài chế Sở là vua Sở. Còn thái tử chỉ có cái danh mà không có thực, Tề dùng để bắt chẹt Sở thôi. Tề chưa chắc là tin lời thái tử mà Sở tặng Tề gì thì cái đó thấy rõ. Sở mà kết giao với Tề được thì thái tử tất nguy! Xin thái tử tính đi.

Thái tử đáp: Xin nhận lệnh ông.

Rồi cho đánh xe, đi ngay tối hôm đó.

Vì vậy mà bảo rằng: “Mưu của Tô Tần có thể làm cho thái tử trốn đi gấp”.

7. Tô Tần sai người nói với Tiết Công:

- Người khuyên ông giữ thái tử lại là Tô Tần. Tô Tần không thành tâm vì ông đâu, mà làm lợi cho Sở đấy. Tô Tần sợ ông hay điều đó, cho nên bắt Sở cắt thật nhiều đất để xoá hết dấu vết đi (ông khỏi nghi). Nay khuyên thái tử đi, cũng lại là Tô Tần nữa mà ông không hay. Tôi trộm vì ông mà lấy làm ngờ.

Vì vậy mà bảo rằng: “Mưu của Tô Tần có thể làm cho có người nói xấu Tô Tần với Tiết Công”.

8. Tô Tần lại sai người nói với vua Sở:

- Người khiến cho Tiết Công giữ thái tử lại là Tô Tần, ủng hộ đại vương lên thay thái tử cũng là Tô Tần; bày mưu cắt đất để kết chặt Sở với Tề, cũng lại là Tô Tần, trung với đại vương mà làm cho thái tử phải ra đi, cũng lại là Tô Tần. Nay người ta nói xấu Tô Tần với Tiết Công, trách Tô Tần là bạc bẽo với Tề mà đôn hậu với Sở. Xin tâu đại vương hay điều đó.

Vua Sở đáp:

- Xin nhận lệnh ông.

Rồi phong cho Tô Tần làm Vũ Trinh Quân[11].

Vì vậy mà bảo rằng: “Mưu của Tô Tần làm cho Tô Tần được phong ở Sở”.

9. Tô Tần lại sai Cảnh Li[12] nói với Tiết Công:

- Ông Sở dĩ được kính trọng trong thiên hạ, là nhờ thu phục được nhiều kẻ sĩ trong thiên hạ mà có quyền lớn ở Tề. Nay Tô Tần là bậc biện sĩ trong thiên hạ, ít có người nào tài như ông ta. Ông không trọng Tô Tần thì là bao vây, ngăn lấp kẻ sĩ trong thiên hạ, không có lợi cho con đường tiến ngôn của kẻ sĩ. Như vậy có kẻ không phục ông mà suy tôn Tô Tần, và thế của ông nguy mất. Nay Tô Tần được vua Sở trọng mà ông không sớm thân với Tô Tần thì ông thành kẻ thù của Sở. Cho nên ông nên thân với Tô Tần, quí trọng ông ta, như vậy là được nước Sở.

Nhờ vậy mà Tiết Công lại quí trọng Tô tần.

Vì vậy mà bảo rằng: “Mưu của Tô Tần có thể làm cho Tô Tần thuyết phục Tiết Công để Tiết Công trọng Tô Tần”.

(Và 10. Như vậy ta đoán được Tô Tần tự biện hộ được với Tiết Công ra sao)[13].

2. ĐOÁN TÂM LÝ VUA
(Tề Vương phu nhân tử)

Vợ vua Tề (Uy Vương) mất, có tới bảy mỹ nữ đều được vua yêu. Tiết Công muốn biết vua sẽ lựa người nào, dâng vua bảy đôi hoa tai, riêng một đôi đẹp hơn cả. Hôn sau, thấy đôi bông đó được ai đeo thì khuyên vua lựa người đó.

3. TÔ ĐẠI CAN MẠNH THƯỜNG QUÂN
(Mạnh Thường Quân nhập Tần)[14]

Mạnh Thường Quân muốn vô nước Tần, cả ngàn người can mà ông không nghe. Tô Tần muốn ngăn, Thường Quân bảo: “Về nhân sự, tôi đã nghe hết rồi; chỉ còn chưa được nghe quỉ sự[15] thôi”

Tô Đại[16] đáp:

- Tôi tới đây chủ ý là không dám nói về nhân sự mà chỉ nói về quỉ sự vậy.

Mạnh Thường Quân bèn tiếp. Tô Đại bảo:

- Hôm nay, khi lại đâu, tôi đi ngang qua miền Tri Thượng[17], được nghe một tượng nặn bằng đất và một tượng được đẽo bằng cành đào nói chuyện với nhau. Tượng bằng cành đào bảo tượng bằng đất: “Anh vốn là đất ở bờ phía Tây, được nặn thành hình người; tới tháng tám, mưa xuống, nước sông Tri dâng lên thì anh sẽ rã rời, tan nát”. Tượng bằng đất đáp: “Không phải vậy. Tôi là đất ở bờ phía tây, tôi rã rời, tan nát thì lại thành đất bờ phía tây. Còn anh là cành đào ở biển đông[18]. Người ta đẽo trổ anh thành hình người, mưa xuống, nước sông Tri dâng lên, cuốn anh mà chảy đi, anh sẽ phiêu bạt, chưa biết ra sao đâu!”.

Nay Tần là nước bốn bề đều có những chỗ hiểm yếu, khác gì miệng cọp, ông mà vô đó thì tôi không biết ông sẽ ra ngả nào!

Mạnh Thường Quân bèn thôi, không qua Tần nữa.

10. THUẦN VU KHÔN VỚI KẺ SĨ
(Thuần Vu Khôn nhất nhật nhi kiến thất sĩ)

Thuần Vu Khôn một ngày mà dắt bảy kẻ sĩ vô yết kiến Tề Tuyên Vương. Tề Tuyên Vương bảo Thuần Vu Khôn:

- Ông lại đây! Quả nhân nghe nói rằng ngàn dặm mà có được một kẻ sĩ thì cũng như là kẻ sĩ đứng kề vai nhau rồi; trăm đời mà có được một vị thánh thì cũng như là các vị thánh nối gót nhau rồi[19]. Nay ông chỉ trong một buổi mà dắt bảy kẻ sĩ vô đây, như vậy chẳng phải nhiều ư?

Thuần Vu Khôn đáp:

- Không phải vậy. Loài chim cùng cánh với nhau thì đậu cùng chung với nhau; loài thú cùng chân với nhau[20] thì cùng chạy với nhau. Tìm sài hồ và cát cánh[21] ở nơi đất ẩm thấp ngập nước thì mấy đời cũng không được một cây, nếu tìm ở phía bắc núi Dịch Thủ, núi Lương Phủ[22] thì đem xe tới mà chở cũng không hết. Vật nào cũng có đồng loại. Khôn tôi đồng loại với cùng bậc hiền giả. Nhà vua mà nhờ Khôn tôi cầu kẻ sĩ thì cũng như vóc nước ở sông, lấy lửa ở đồ đánh lửa[23]. Rồi đây Khôn tôi còn gặp nhiều kẻ sĩ nữa, chứ nào chỉ có bảy kẻ sĩ mà thôi.

11. CHÓ ĐUỔI THỎ, NÔNG PHU BẮT ĐƯỢC CẢ HAI
(Tề dục phạt Nguỵ)

Tề muốn đánh Nguỵ, Thuần Vu Khôn bảo Tề Tuyên Vương:

- Con lư ở nước Hàn là con chó chạy nhanh trong thiên hạ; con thuân ở Đông Quách là loài thỏ nhanh nhẹn trong hải nội. Con chó Hàn đuổi con thỏ Đông Quách, ba lần chạy vòng quanh núi, năm lần leo núi; thỏ phía trước đã khốn đốn mà chó ở phía sau cũng mệt đừ; cả cho lẫn thỏ đều kiệt sức, đều lăn ra chết. Lão nông phu trông thấy chẳng phí một chút sức mà bắt được cả hai. Nay Tề và Nguỵ cầm cự nhau lâu làm cho binh sĩ khốn đốn, dân chúng khổ sở; tôi e rằng nước Tần và nước Sở hùng cường kia đứng ở phía sau sẽ thừa cơ mà thành công như lão nông phu mất.

Vua Tề sợ, lui binh, cho tướng sĩ nghỉ ngơi.



----------------
[1] Sở Hoài Vương mất 299 tr.T.L; vua Tề năm đó là Tề Mẫn Vương. Thái tử Hoành, theo http://guji.artx.cn/Article/6972.html, sau này là Sở Khoảnh Tương Vương. (Goldfish).

[2] Tiết Công: có lẽ là Điền Văn, tức Mạnh Thường Quân. (Goldfish).

[3] Tức nước Sở. [Dĩnh là kinh đô của Sở từ năm 680 tr.T.L đến năm 278 tr.T.L. (Goldfish)].

[4] Chắc lầm, Tô Tần lúc này đã mất rồi. Nghi là Tô Đại, em Tô Tần, hoặc Tô Lệ.

[5] Tức Tần, Hàn, Nguỵ.

[6] Đoạn này chúng tôi đánh số thêm, chứ trong nguyên văn không đánh số.

[7] Chắc sách in sai. Có lẽ nên sửa lại thành: “khiến Sở phải vội cắt đất ở phía đông”. (Goldfish).

[8] Vua Sở đã chết mà chưa lập vua mới thì vua nào đây?
[Theo http://vi.wikipedia.org/wiki/S%E1%BB...0%E1%BB%9Bc%29, thì người nối ngôi Sở Hoài Vương là Sở Khoảnh Tương Vương, tên Hoành. Mà Hoành chính là vị thái tử bị làm con tin ở Tề. Vậy thì trước Sở Khoảnh Tương Vương còn vị vua nào khác nữa? Chắc chẳng có vị vua nào khác cả. Có lẽ tác giả bài này chỉ dựa vào một chút sự kiện lịch sử là Sở Hoài Vương chết trong lúc thái tử Hoành đang làm con tin ở Tề, mà lập mưu và gán mưu đó cho Tô Tần. Mưu đó gồm mười bước, với giả định rằng: 1. Tiết Công chịu nghe theo mà giữ thái tử lại; 2. vì thái tử bị giữ lại nên nước Sở lập người khác lên làm vua, v.v…(Goldfish)].

[9] Crump dịch là: bảo thái tử rằng ông muốn thêm đất và bắt thái tử thưa với vua rằng thái tử muốn vậy để tỏ lòng trung…

[10] Crump dịch thêm: và vẫn ở lại Tề.

[11] Vũ Trinh: là tên đất, thuộc nước Sở. Đất đó đem phong cho Tô Tần.

[12] Cảnh Li: là tướng quốc của Sở Hoài Vương.

[13] Hai hàng này [vì trong sách là hai hàng. (Godfish)] chúng tôi thêm vô.

[14] Mấy chữ đầu của bài này là: Mạnh Thường Quân tương nhập Tần 孟尝君将入秦. Có lẽ sách in thiếu chữ tương (将 có nghĩa là sắp, sẽ), chứ không phải Diệp Ngọc Lân loại bỏ chữ đó cho gọn. (Goldfish).

[15] Quỉ sự: nghĩa là việc quỉ thần. Tần Chiêu Vương nghe tiếng Mạnh Thường Quân là người hiền, mời Mạnh Thường Quân qua Tần chơi để được gặp mặt.

[16] Theo Sử ký thì là Tô Tần.

[17] Tri: là tên một con sông. Miền Trì Thượng là miền ở hai bờ con sông Tri. [Tri 淄, Thiều Chửu đọc là Truy, và giảng là: sông Truy ở tỉnh Sơn Đông. (Goldfish)].

[18] Theo truyền thuyết, biển đông có một ngọn núi tên là Độ Sóc Sơn, trên nui có một cây đào cổ thụ, cành cong queo, tán rộng ba ngàn dặm, ma quỉ thường tụ ở đó. Ở đây, tượng bằng cành đào ám chỉ Mạnh Thường Quân.

[19] Kề vai nhau, nối gót nhau: đều có nghĩa là đông lắm, nhiều lắm.

[20] Cùng cánh, cùng chân: Ý nói cùng loại.

[21] Sài hồ, cát cánh: là hai loại cây dùng làm thuốc, chỉ mọc ở những chỗ đất cao.

[22] Núi Dịch Thử: không biết ở đâu. Núi Lương Phủ: nay thuộc tỉnh Sơn Đông.

[23] Thời cổ có hai thứ đồ đánh lửa; một thứ để lấy lửa ở mặt trời, gọi là kim toại; một thứ để lấy lửa ở cây, gọi là mộc toại.
TỀ IV

1. PHÙNG HUYÊN LÀM THỰC KHÁCH NHÀ MẠNH THƯỜNG QUÂN
(Tề nhân hữu Phùng Huyên)

Nước Tề có một người là Phùng Huyên nghèo khổ thiếu thốn, không thể tự mưu sinh được, cậy người lại xin Mạnh Thường Quân cho được cho ăn nhờ[1] trong nhà. Mạnh Thường Quân hỏi: “Ông khách thích cái gì?”[2]. Đáp: “Khách không có sở thích nào cả”. Hỏi: “Khách có tài năng gì không?”. Đáp: “Khách không có tài năng gì cả”. Mạnh Thường Quân cười rồi nhận cho: “Được”.

Kẻ tả hữu trong nhà Mạnh Thường Quân thấy chủ mình khinh rẻ người khách đó, nên cho khách ăn rau cỏ. Ở được ít lâu, Phùng Huyên dựa cột, gõ nhịp vào thanh kiếm mà hát: “Kiếm[3] dài ơi, về đi thôi! Ăn không có cá”. Kẻ tả hữu thưa với Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân bảo: “Dọn cá cho ông ấy”. Từ đó đãi Phùng Huyên vào hàng khách ở trong nhà.

Được ít lâu, lại gõ nhịp vào thanh kiếm mà hát: “Kiếm dài ơi, về đi thôi! Đi không có xe”. Kẻ tả hữu cười, rồi thưa với Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân bảo: “Đánh xe cho ông ấy”. Từ đó đã Phùng Huyên vào hàng môn khách có xe. Vậy là Phùng Huyên ngôi lên xe, giơ cao thanh kiếm, lại chơi bạn bè, bảo: “Ông Mạnh Thường Quân đãi tôi vào bậc khách”.

Được ít lâu lại gõ nhịp vào thanh kiếm mà hát: “Kiếm dài ơi, về đi thôi! Không có gì gởi về nhà”. Kẻ tả hữu đều ghét là tham, không biết thế nào là đủ. Mạnh Thường Quân hỏi: “Ông Phùng còn người thân không?”. Đáp: “Còn mẹ già”. Mạnh Thường Quân sai người chu cấp thực dụng, không để thiếu thốn. Từ đó Phùng Huyên không hát nữa.

Sau, Mạnh Thường Quân giở sổ ra, hỏi các môn khách: “Vị nào quen việc kế toán, có thể vì Văn[4] đi thu tiền nợ ở đất Tiết[5] không?”. Phùng Huyên viết tên mình vào sổ, đáp: “Tôi đi được”. Mạnh Thường Quân lấy làm lạ hỏi: “Vị này là ai vậy?”. Kẻ tả hữu đáp: “Là người gõ kiếm hát: “Kiếm dài về đây thôi” đó”. Mạnh Thường Quân cười bảo: “Ông khách quả có tài năng, tôi đã phụ ông ta, không thường hội diện”. Xin mời lại gặp mặt và tạ lỗi: “Văn tôi mệt mỏi về việc quan, lo lắng quá nên tâm thần mê loạn, tính lại vốn nhu nhược, mê muội, chìm đắm vào việc quốc gia, đến nổi đắc tội với tiên sinh, tiên sinh chẳng lấy làm nhục, lại có ý thay tôi qua đất Tiết thu nợ giùm chăng?”. Phùng Huyên đáp: “Tôi xin đi”. Như vậy rồi sửa sang xe, ngựa, hành trang, chở theo những trái khoán, khế ước. Khi từ biệt, hỏi: “Nợ thu hết rồi, tôi mua gì mang về?”. Mạnh Thường Quân đáp: “Tiên sinh coi nhà này thiếu thứ gì thì mua thứ đó”.

Phùng Huyên dong ngựa tới đất Tiết, sai một viên thư lại gọi dân tới, ai thiếu nợ thì đối chiếu với tờ khoán. Đối chiếu xong cả rồi, Phùng Huyên đứng dậy, thác lời Mạnh Thường Quân, cho hết số nợ, rồi đốt tờ khoán đi. Dân đều hô vạn tuế.

Lại dong ngựa vội về Tề, sáng sớm xin vô yết kiến Mạnh Thường Quân. Mạnh Thường Quân lấy làm lạ sao mà đi mau vậy, mặc áo đội mũ ra tiếp, hỏi: “Nợ thu được hết không? Sao mà về nhanh thế?”. Đáp: “Thu hết rồi”. Hỏi: “Mua gì về?”. Phùng Huyên đáp: “Ngài bảo: “Coi trong nhà này thiếu thứ gì thì mua thứ đó”. Thần nghĩ trong cung của ngài chứa đầy châu báu, ngoài chuồng đầy cả ngựa, chó, hậu đình[6] chật cả mỹ nữ, nhà ngài có thiếu là thiếu “nghĩa” thôi, nên thần trộm phép mua “nghĩa” về”. Mạnh Thường Quân hỏi” “Mua “nghĩa” là làm sao?”. Đáp: “Nay ngài có đất Tiết nhỏ hẹp đó, đã không vỗ về yêu dân mà lại đi cướp cái lợi của dân, nên thần thác rằng ngài ra lệnh cho dân hết số nợ, rồi đốt các tờ khoán, dân hoan hô ngài vạn tuế. Thần mua “nghĩa” cho ngài là thế”. Mạnh Thường Quân không vui, bảo: “Được! Thôi tiên sinh về nghỉ!”.

Một năm sau, Tề Vương[7] bảo Mạnh Thường Quân: “Quà nhân không dám dùng bề tôi của tiên vương làm bề tôi của mình”. Mạnh Thường Quân về đất Tiết, chưa tới, còn cách trăm dặm, dân đất Tiết dắt già bồng trẻ đi đón rước đấy đường suốt ngày. Mạnh Thường Quân quay lại bảo Phùng Huyên: “Tiên sinh mua “nghĩa” cho Văn này, đến nay tôi mới được thấy”. Phùng Huyên đáp: “Thỏ khôn phải có ba hang mới có thể thoát chết được. Nay chỉ mới có một hang, chưa thể gối cao mà ngủ yên, tôi xin vì ngài đào thêm hai hang nữa”.

Mạnh Thường Quân cấp cho Phùng Huyên năm chục cổ xe, năm trăm cân vàng, qua phía tây du thuyết nước Lương. Phùng Huyên tâu với vua Lương: “Vua Tề đuổi bậc đại thần là Mạnh Thường Quân; nước chư hầu nào được ông ấy thì sẽ giàu có mà binh mạnh”. Như vậy vua Lương mới bỏ trống chức vị cao nhất[8], đem vị đương thời tướng quốc xuống làm thượng tướng quân, sai sứ mang ngàn cân vàng, trăm cổ xe lại đón Mạnh Thường Quân, Phùng Huyên dong ngựa về trước, khuyên Mạnh Thường Quân: “Ngàn cân vàng là việc trọng, trăm cổ xe là chức cao. Vua Tề tất hay tin này”. Viên sứ nước Lương ba lần về không, vì Mạnh Thường Quân cố từ không chịu đi.

Tề hay tin, vua tôi đều sợ hãi, sai quan thái phó đem ngàn cân vàng, hai cổ xe đẹp bốn ngựa, một thanh gươm của vua đeo và một phong thư lại tạ lỗi với Mạnh Thường Quân. Thư rằng: “Quả nhân gặp vận bất tường, quỉ thần tôn miếu giáng hoạ, nên bọn nịnh thần mê hoặc, đắc tội với ông. Quả nhân vô dụng, xin ông đoái nghĩ tới tôn miếu của tiên vương, tạm trở về nước mà thống trị vạn dân, được chăng?”. Phùng Huyên khuyên Mạnh Thường Quân: “Ngài nên xin những đồ tế tự tiên vương rồi lập tôn miếu ở đất Tiết”. Tôn miếu cất rồi, Phùng Huyên về báo cáo với Mạnh Thường Quân: “Ba hang đã đào xong, ngài tạm có thể gối cao mà sống vui”.

Mạnh Thường Quân làm tướng quốc mấy chục năm, không gặp một cái hoạ nhỏ nhặt nào cả, là nhờ mưu của Phùng Huyên vậy.

2. CÔNG TÔN HOẰNG ĐI SỨ TẦN
(Mạnh Thường Quân vi tung)

Mạnh Thường Quân mưu tính hợp tung, (người nước Tề là) Công Tôn Hoằng bảo Mạnh Thường Quân:

- Sao ông không sai người quan sát vua Tần (Chiêu Vương) trước đã. Nếu vua Tần là hạng quân chủ có đức đế vương thì ông chỉ lo rằng không được làm bề tôi ông ta, đâu có rảnh mà nghĩ đến chuyện hợp tung để làm khó ông ta; còn nếu như vua Tần là hạng quân chủ bất tiếu thì lúc đó ông tính chuyện hợp tung để làm khó ông ta, cũng không trễ.

Mạnh Thường Quân:

- Phải. Vậy xin nhờ ông đi giùm cho việc đó.

Công Tôn Hoằng vâng lời, dùng mười chiếc xe, qua Tần. Chiêu Dương nghe tin, muốn dùng lời lẽ làm nhục Công Tôn Hoằng.

Công Tôn Hoằng vào yết kiến. Chiêu Vương hỏi:

- Đất của Tiết Công được bao nhiêu?

Công Tôn Hoằng đáp:

- Trăm dặm.

Chiêu Vương cười, bảo:

- Đất của quả nhân rộng ngàn dặm, mà quả nhân chưa dám gây khó với ai. Nay đất Tiết của Mạnh Thường Quân chỉ có một trăm dặm mà muốn gây khó với quả nhân, có thể nào được không?

- Mạnh Thường Quân biết trọng người, đại vương không biết trọng người.

- Mạnh Thường Quân trọng người ra sao?

Công Tôn Hoằng đáp:

- Hạng người giữ chính nghĩa, không làm bề tôi của các vị thiên tử (không có đức), không làm bạn với các vua chư hầu (không có đức), đắc chí thì làm nhân chủ mà không thẹn, không đắc chí thì không chịu làm bề tôi, hạng người đó, (Mạnh Thường Quân) có được ba vị; hạng người về việc trị nước có thể làm thầy Quản Trọng, Thương Ưởng, bàn bạc nghĩa lý, nghe điều phải rồi thi hành, hạng người được như vậy, (Mạnh Thường Quân) có tới năm vị; hạng người đi sứ tới triều một vị vua uy nghiêm của một nước vạn thặng, bị vua đó làm nhục mà lui ra tự sát để lấy máu mình vẩy vào áo vua đó, như tôi đây, hạng người đó, (Mạnh Thường Quân) có được mười người.

Chiêu Vương cười, xin lỗi:

- Sao khách lại có thái độ như vậy? Quả nhân chỉ đàm đạo với khách mà thôi. Quả nhân quí Mạnh Thường Quân, muốn được tiếp đãi ông ấy, xin khách tỏ bày giùm ý muốn của quả nhân với ông ấy.

Công Tôn Hoằng đáp:

- Xin vâng.

Có thể bảo rằng Công Tôn Hoằng không chịu nhục. Chiêu Vương là vua một nước lớn, Mạnh Thường Quân chỉ là vua một nước nhỏ có ngàn cổ xe. Dựng được cái danh nghĩa cho một nước nhỏ mà làm cho nước lớn không thể xúc phạm được, như vậy là làm hết trách nhiệm của một vị sứ giả.

3. MẠNH THƯỜNG QUÂN CHƯA BIẾT TRỌNG KẺ SĨ
(Lỗ Trọng Liên vị Mạnh Thường Quân)

Lỗ Trọng Liên bảo Mạnh Thường Quân:

- Ông chưa thật trọng kẻ sĩ. (Ông thử nghĩ) Ung Môn Tử nuôi Tiêu Diệc, Dương Đắc Tử nuôi…[9] chia cơm xẻ áo với nhau nên người nào cũng có kẻ sĩ chết vì mình. Nay nhà ông giàu hơn hai ông đó, mà ông chưa có một kẻ sĩ nào hết lòng hi sinh cho ông cả.

Mạnh Thường Quân đáp:

- Chỉ vì Văn tôi chưa gặp được bậc sĩ đó, nếu gặp được thì sao các bậc đó lại không hết lòng hi sinh cho tôi?

Lỗ Trọng Liên bảo:

- Trăm con ngựa trong chuồng của ông đều bận áo thêu và ăn lúa ngon, có phải con nào cũng là loài kì lân, lục nhĩ cả đâu[10]. Mười nàng phi trong hậu cung của ông đều bận gấm lụa, ăn gạo quí thơm ngon, có phải người nào cũng là Mao Tường, Tây Thi cả đâu?[11] Mĩ nhân và ngựa thì ông lựa ở thời này, vậy kẽ sĩ hà tất phải đợi người thời cổ! Cho nên tôi bảo rằng ông chưa trọng kẻ sĩ.

4. ĐÀM THẬP TỬ KHUYÊN MẠNH THƯỜNG QUÂN NÊN QUÊN OÁN
(Mạnh Thường Quân trục ư Tề)

Mạnh Thường Quân bị đuổi ở Tề, sau trở về Tề, (người nước Tề là) Đàm Thập Tử đi đón ở bờ cõi[12], hỏi Mạnh Thường Quân:

- Ông có lòng báo oán các sĩ, đại phu của nước Tề không?

Mạnh Thường Quân đáp:

- Oán!

- Ông có ý giết họ ư?

- Giết!

- Có những sự thể tất phải đến, có những tình lý cố nhiên bất biến, lẽ đó, ông biết không?

- Không.

Đàm Thập Tử bảo:

- Ai cũng phải chết, đó là sự thể tất phải đến; mình giàu sang thì người ta bu lại, mình nghèo hèn thì người ta lảng ra, đó là tình lý cố nhiên bất biến. Có những sự thể tất phải đến, những tình lý cố nhiên bất biến là vậy đó. Tôi xin lấy một ví dụ: chợ buổi sáng sớm thì đông người, chiều tối thì vắng vẻ, không phải là vì lẽ buổi sáng người ta yêu chợ mà buổi chiều người ta ghét chợ; chỉ vì lẽ còn nhu cầu (mua bán) thì người ta còn tới chợ, hết nhu cầu (đó) thì người ta bỏ về. Vậy xin ông đừng oán.

Mạnh Thường Quân bèn đem chẻ những bản tre khắc tên năm trăm người mà ông oán, rồi thôi không nói tới việc đó nữa.



-------------
[1] Mạnh Thường Quân, họ Điền, tên Văn, người nước Tề đời Chiến Quốc, nổi tiếng hào hiệp, biết kết nạp kẻ sĩ, trong nhà luôn luôn có ba ngàn thực khách, tức những kẻ sĩ được ông nuôi và đãi như khách, lâu lâu mới có việc nhờ cậy, ai giúp được ông việc gì thì giúp. Thực khách chia làm ba hạng, tuỳ tài đức mà được trọng hay không : có hạng ăn rau, có hạng ăn thịt cá, cao nhất là hạng được cung cấp xe để đi ra ngoài. Xét chung thì tài sức của họ rất tầm thường, hạng người giỏi đâu chịu ăn bám như vậy.
Phùng Huyên 馮煖 cũng có chỗ chép là: 馮諼 (cũng đọc là Huyên), hoặc Phùng Hoan 馮驩.

[2] Ý nói có tài đức gì không.

[3] Nguyên văn: giáp là chuôi gươm.

[4] Tên huý của Mạnh Thường Quân, Mạnh Thường Quân là tên hiệu.

[5] Tiết: là tên một ấp nhỏ, bị Tề diệt. Vua Tề tặng Mạnh Thường Quân làm phong ấp (ấp của những vị được phong tước), nay ở Sơn Đông.
[Đất Tiết, trước vua Tề đã phong cho cha của Mạnh Thường Quân (Điền Văn) là Tĩnh Quách Quân (Điền Anh). (xem bài Tề I 3). (Goldfish)].

[6] Nguyên văn: Hạ trần nghĩa là sắp hàng ở dưới. Do câu: “Sung hạ trần ư hậu đình”, được sung vào hạng người sắp hàng ở phía dưới tại sân sau (Bài phú Tự điệu của Ban Tiệp Dư).
[Ban Tiệp Dư, đời Hán Thành Đế, sống khoảng từ năm 48 trước T.L đến năm thứ 2 sau T.L. Nàng không rõ tên thật, người Lâu Phiền (thuộc tỉnh Sơn Tây ngày nay), cha là Ban Huống. (Theo http://www.thivien.net/viewauthor.php?ID=211). Sách in sai Tự điệu (chữ Hán là: 自悼) thành Tự điêu. (Goldfish)].

[7] Tức Tề Tuyên Vương.

[8] Tức chức tướng quốc (để đợi Mạnh Thường Quân). Lương Vương là Tương Huệ Vương. Nước Lương tức nước Nguỵ là một trong thất hùng thời đó.

[9] Nguyên văn: Ung Môn dưỡng Tiêu Diệc Dưỡng Đắc Tử dưỡng. Bản Thương Vụ ấn quán và Tân Lục thư cục đều chấm câu sau chữ Tiêu; mà chẳng chú thích gì cả, nên chúng tôi không đoán được nghĩa. Chúng tôi dịch như trên là theo Crump. Ông chấm câu: Ung Môn (Tử) dưỡng Tiêu Diệc, Dưỡng Đắc Tử dưỡng (…) và ông cho rằng thiếu một tên người sau chữ dưỡng. Ông còn bảo theo Tứ Bộ Tùng San thì có một tên là Ung Môn Tử Thu, và có một tên là Ung Môn Tử Chu.

[10] Tên các loài ngựa quí.

[11] Tên các mĩ nhân thời cổ.

[12] Năm thứ mười ba đời Tề Mẫn Vương, Điền Giáp làm phản, bắt cóc vua Tề tên là Tướng, Mạnh Thường Quân phải trốn đi. Sau một xá nhân của Mạnh Thường Quân dâng thư lên vua Tề minh oan cho ông, nên ông được vua Tề Mẫn Vương gọi về.
5. NHAN XÚC THUYẾT TỀ TUYÊN VƯƠNG
(Tề Tuyên Vương kiến Nhan Xúc)

Tề Tuyên Vương vời Nhan Xúc[1] (người nước Tề) lại bảo:

- Xúc lại đây!

Xúc cũng bảo:

- Vua lại đây!

Tuyên Vương không vui. Kẻ tả hữu nhà vua bảo Nhan Xúc:

- Vua là bậc quân thượng. Xúc là kẻ bề tôi. Vua bảo Xúc: lại đây, Xúc cũng bảo vua: lại đây, như vậy có phải lẽ không?

Xúc đáp:

- Vua bảo Xúc: “Lại đây”, mà Xúc lại thì là Súc mộ quyền thế; Xúc bảo vua “lại đây” mà vua lại thì là vua chuộng kẻ sĩ; để cho Xúc mang tiếng mộ quyền thế thì không bằng để cho vua được tiếng chuộng kẻ sĩ.

Tuyên Vương giận tím mặt, bảo:

- Vua quí hay kẻ sĩ quí?

- Kẻ sĩ quí chứ! Vua đâu có quí.

- Có chứng cứ gì không?

- Có chứ! Xưa kia, Tần đánh Tề, ra lệnh: “Trong khoảng năm chục bước chung quanh mộ Liễu Hạ Quí, ai mà dám vô đốn củi thì bị tội chết, không tha”[2]. Lại ra lệnh: “Ai mà chặt được đầu vua Tề thì được phong làm vạn hộ hầu, thưởng ngàn nén vàng. Do đó mà xét thì cái đầu một ông vua còn sống, có khi không bằng nấm mồ một kẻ sĩ đã chết.

Tề Tuyên Vương làm thinh, vẻ không vui. Kẻ tả hữu đều nói:

- Xúc lại đây! Xúc lại đây! Đại vương chiếm cứ một nước ngàn cổ xe, đúc những cái chuông nặng ngàn thạch treo trên những cái giá nặng vạn thạch[3], kẻ sĩ trong thiên hạ người nào mà nhân nghĩa thì đều lại phục dịch, người nào mà minh trí thì cũng đều lại yết kiến để đàm luận; đông tây nam bắc, người bốn phương đều qui phục; vạn vật không thiếu thứ gì mà trăm họ đều kính mến. Nay có một kẻ sĩ dù có cao thượng cũng chỉ gọi là một kẻ sĩ “thất phu”, đi thì đi bộ, ở thì ở chỗ đồng ruộng, thô lậu quê mùa, nhà cửa tồi tàn, như vậy thì kẻ sĩ rất đổi ti tiện vậy!

Xúc đáp:

- Không phải vậy. Xúc nghe hồi xưa, vua Đại Vũ làm chủ vạn nước chư hầu là đâu? Nhờ vua Đại Vũ có đức dày và được kẻ sĩ giúp sức. Cho nên vua Thuấn ở chỗ đồng lầy dấy lên, xuất thân nơi thô lậu quê mùa mà sau làm thiên tử. Đến đời vua Thang, chư hầu chỉ còn có ba ngàn nước. Hiện nay quay mặt về phía nam mà tự xưng “qua nhân” chỉ còn hai mươi bốn người[4]. Do đó mà xét thì chẳng phải do chính sách khác nhau, người tốt kẻ xấu ư? Lần lần mà bị diệt vong, cái lúc mà bị diệt vong, không còn thân thuộc gì nữa thì dù muốn có một căn nhà tồi tàn, phỏng có được không? Cho nên Dịch Truyện chẳng có câu này đấy ư?: “Ở ngôi cao không có cái thực mà thích cái danh, thế nào cũng có những hành động kiêu sa, ngạo mạn, mà hễ kiêu sa ngạo mạn thì cái hoạ tất sẽ theo sau”. Cho nên không có cái thực mà thích cái danh thì tất bị tước đoạt, không có đức hạnh mà lại muốn có phước thì tất bị vướng mắc; không có công lao mà muốn hưởng lộc thì tất bị nhục, hoạ tất thâm! Cho nên có câu rằng: “Khoe công thì không thành, nguyện vọng hão huyền thì không đạt”. Đó điều là chỉ thích cái hư danh đẹp đẽ mà không có thực đức. Vì vậy mà vua Nghiêu có chín người phụ tá, vua Thuấn có bảy người bạn hiền, vua Vũ có năm vị trọng thần, vua Thang có ba vị phụ bật; từ xưa tới nay, không có ai không có thực đức mà thành danh trong thiên hạ bao giờ. Vì vậy bậc quân vương không hổ thẹn vì phải học hỏi kẻ dưới; nhờ học hỏi kẻ dưới mà hoàn thành được đạo đức mà lưu danh lại đời sau, đó là trường hợp vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Thang, và Văn Vương nhà Chu. Cho nên bảo rằng: “Cái không có hình thể là chủ cái có hình thể; cái không có đầu mối là gốc của mọi sự thể”. Trên thì xét được nguồn, dưới thì thông được dòng, bậc thánh nhân hiểu rõ đạo lý thì có gì mà chẳng tốt lành! Lão Tử nói: “Tuy sang mà phải lấy hèn làm gốc, tuy cao mà phải lấy thấp làm nền; vì vậy bậc vương hầu mà tự xưng là “cô”, “quả”, “bất cốc”[5] là lấy sự ti tiện làm gốc đấy. Kẻ cô quả là kẻ ti tiện, khốn khổ, ở địa vị thấp, mà bậc vương hầu tự xưng như vậy, há chẳng phải tự hạ mình mà tôn quí kẻ sĩ đấy ư? Vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn, vua Thuấn truyền ngôi cho vua Vũ, vua Chu Thành Vương trọng dụng ông Chu Công Đán mà đời đời được khen là minh quân, là vì các ông ấy hiểu rõ rằng kẻ sĩ đáng quí.

Tuyên Vương nói:

- Ôi! Người quân tử, có cách nào làm nhục được đâu, mà quả nhân chuốc lấy cái nhục. Nay đã được nghe lời người quân tử và nghe hành vi của kẻ tiểu nhân, xin được làm học trò của tiên sinh. Xin Nhan tiên sinh cùng đi chơi với quả nhân, ăn thì tất có thịt bò, thịt dê, thịt lợn, đi tất có xe, vợ con tiên sinh đều được tặng y phục đẹp đẽ.

Nhan Xúc từ tạ, đáp:

- Ngọc sinh ở núi, đem nó mà chế tạo thì nó tất vỡ, lúc đó không phải là nó không quí, nhưng không còn được vẹn cái mộc mạc tự nhiên của nó nữa. Kẻ sĩ sinh ở chỗ thô lậu quê mùa, được tuyển dụng làm quan, thì không phải là không vinh hiển, nhưng không còn vẹn được cái bản chân nữa. Xúc tôi xin được về, ăn trễ thì cũng ngon như ăn thịt, thủng thẳng đi bộ thì cũng thích như ngồi xe, không tội thì cũng sướng như kẻ tôn quí, lấy sự thanh tĩnh, chính trực làm vui. Đặt ra hiệu lệnh là nhà vua, tận trung, trực ngôn là Xúc tôi; đạo lý gì cần nói thì Xúc tôi đã nói rồi, nay xin nhà vua cho phép tôi lui ra, thong dong mà trở về nơi cố hương.

Nói rồi vái hai vái, từ biệt mà đi.

Xúc là người tri túc, phục hồi được thiên chân, như cục ngọc chưa đẽo, vì vậy mà suốt đời không bị nhục.

6. VƯƠNG ĐẨU YẾT KIẾN TỀ TUYÊN VƯƠNG
(Tiên sinh Vương Đẩu)

Ông Vương Đẩu (người nước Tề) tiến tới cửa cung, đòi yết kiến Tề Tuyên Vương. Tề Tuyên Vương sai sứ giả mời vào, Vương Đẩu bảo (sứ giả nói lại):

- Đẩu tiến tới để ra mắt vua, là Đẩu thích quyền lợi; vua mà tiến ra trước để đón Đẩu là vua chuộng kẻ sĩ; ý vua ra sao?

Sử giả trở vô báo Tề Tuyên Vương, Tề Tuyên Vương bảo:

- Phiền tiên sinh đợi một chút, quả nhân xin ra đón!

Tề Tuyên Vương tiến ra cửa cung để đón Vương Đẩu rồi cùng vô. Vương bảo:

- Quả nhân được kế thừa tôn miếu của tiên vương mà giữ gìn xã tắc, nghe tiếng tiên sinh nói ngay can thẳng mà không kiêng nể.

Vương Đẩu đáp:

- Lời đồn đó quá. Đẩu sinh ở đời loạn, thờ ông vua loạn, đâu dám nói ngay can thẳng.

Tuyên Vương có sắc giận, không vui. Được một lát, Vương Đẩu bảo:

- Xưa, tiên vương Hoàn Công chín lần hội họp chư hầu[6] khuông chính thiên hạ, được thiên tử phong đất, lập làm thái bá, nay sở thích của nhà vua có bốn điều giống tiên vương[7].

Tuyên Vương vui vẻ hỏi:

- Quả nhân ngu xuẩn, giữ nước Tề mà chỉ lo giữ không nổi, sao mà có được bốn điểm giống tiên vương?

Vương Đẩu đáp:

- Không phải vậy. Tiên vương thích ngựa, nhà vua cũng thích ngựa; tiên vương thích chó, nhà vua cũng thích chó; tiên vương thích rượu, nhà vua cũng thích rượu; tiên vương ham sắc, nhà vua cũng ham sắc, duy có điều tiên vương thích kẻ sĩ, nhà vua không thích kẻ sĩ

Tuyên vương hỏi:

- Đời này không có kẻ sĩ thì làm sao quả nhân mến kẻ sĩ được?

Vương Đẩu đáp:

- Đời này không có loài ngựa tốt kì lân, lục nhĩ, mà xe nhà vua cũng đã có ngựa; đời này không có loài thuân Đông Quách, tuấn lư[8] mà nhà vua cũng đã có đủ chó săn; đời này không có Mao Tường, Tây Thi mà trong cung nhà vua cũng đã đầy mỹ nhân. Chẳng qua nhà vua không thích kẻ sĩ, nếu thích thì lo gì không có kẻ sĩ.

Vua bảo:

- Quả nhân lo việc nước mà yêu dân, vẫn mong được kẻ sĩ để trị nước.

Vương Đẩu đáp:

- Nhà vua lo việc nước và yêu dân không bằng vua yêu một thước sa mỏng.

Vua hỏi:

- Ý muốn nói gì vậy?

Vương Đẩu đáp:

- Nhà vua sai người làm cái mũ thì không dùng kẻ tả hữu được sủng ái mà dùng một người thợ làm mũ, là vì đâu? Là vì người thợ đó biết làm mũ. Nay nhà vua trị nước Tề, hễ ai không phải là kẻ tả hữu được sủng ái thì nhà vua không dùng, cho nên tôi bảo rằng nhà vua yêu nước không bằng yêu một thước sa mỏng.

Tuyên Vương tạ lỗi, đáp:

- Quả nhân có tội với quốc gia.

Rồi lựa năm kẻ sĩ, cho làm quan. Nhờ vậy nước Tề rất bình trị.

7. TRIỆU HẬU HỎI THĂM NƯỚC TỀ
(Tề vương sử sứ giả)

Vua Tề (tên là Kiến) sai sứ giả qua thăm Triệu Uy hậu (vợ Triệu Huệ Văn Vương). Thư chưa mở, Uy hậu hỏi sứ giả:

- Năm nay được mùa không? Dân chúng không sao chứ? Nhà vua cũng không sao chứ?

Sứ giả không vui, bảo:

- Tôi phụng mệnh tới vấn an thái hậu, thái hậu không hỏi thăm vua trước mà hỏi thăm mùa màng và dân chúng trước, như vậy chẳng phải là hỏi thăm cái ti tiện trước, hỏi thăm ngôi tôn quí sau ư?

Uy hậu đáp:

- Không phải vậy. Không có mùa màng thì làm sao có dân? Không có dân thì làm sao có vua? Thế thì sao lại bỏ cái gốc mà hỏi thăm ngọn trước.

Rồi lại hỏi thăm thêm:

- Tề có vị xử sĩ là Chung Li Tử[9], ông ấy mạnh giỏi chứ? Ai có lương thực thì ông ấy giúp lương thực cho, ai không có lương thực thì ông ấy cũng giúp lương thực cho; ai có quần áo thì giúp quần áo cho, ai không có quần ái thì cũng giúp quần áo cho; như vậy ông ấy giúp Tề nuôi dân, sao mà đến bây giờ vẫn không giao chức vụ gì cho ông ấy? Ông Diệp Dương Tử[10] mạnh giỏi chứ? Ông ấy là người thương xót những kẻ quan, quả, cô, độc, giúp đỡ những kẻ khốn cùng, thiếu thốn, như vậy là giúp vua Tề cứu vớt, an ủi nhân dân, sao mà đến bây giờ vẫn không giao chức vụ gì cho ông ấy? Cô Bắc Cung Anh Nhi Tử[11] mạnh giỏi chứ? Cô ấy lột hết cả trâm, vòng, ở vậy cho tới già để nuôi cha mẹ, như vậy làm gương cho dân chúng, cảm hoá dân chúng giữ đạo hiếu, sao mà đến bây giờ không phong cho cô ta làm mệnh phụ! Hai vị đó không được nhận chức vụ gì cả, một cô gái hiếu hạnh đó không được phong làm mệnh phụ thì làm sao vua Tề trị được nước, nuôi nấng được muôn dân? Tử Trọng ở Ô Lăng[12] còn sống không? Hắn là người, trên thì không biết thờ vua, dưới thì không biết tề gia, ở giữa thì không biết kết giao với chư hầu, như vậy thống suất nhân dân mà hoá ra vô dụng, sao mà đến bây giờ vẫn chưa giết hắn đi?

9. QUẢN YÊN TRÁCH KẺ SĨ
(Quản Yên đắc tội)

Quản Yên (người nước Yên) bị tội với vua Tề Tuyên Vương, hỏi kẻ tả hữu:

- Các ông có ai cùng với tôi trốn qua các nước chư hầu không?

Kẻ tả hữu làm thinh không đáp.

Quản Yên khóc ròng, bảo:

- Buồn thay! Kẻ sĩ sao mà dễ được và khó dùng đến thế!

Điền Nhu[13] đáp:

- Kẻ sĩ ba bữa ăn không được no, mà ông thì ngỗng vịt ăn không hết; mỹ nữ trong hậu cung, thì bận là lụa, phủ sa, the mà kẻ sĩ không ai có áo để mặc. Vả lại của cải là cái mà ông khinh (nghĩa là vung phú), còn cái chết là cái kẻ sĩ trọng. Ông đã không thể đem cái ông khinh để tặng kẻ sĩ mà lại đòi kẻ sĩ đem tặng cái họ trọng để thờ ông. Đâu phải là kẻ sĩ dễ được mà khó dùng!



---------------
[1] Nhan Xúc 顏斶: Bản của Nxb Từ Điển Bách Khoa 2006 in là Nhan Súc. Tôi theo bản Lá Bối 1973 và bản Trẻ 1989. (Goldfish).

[2] Tức Liễu Hạ Huệ, có tiết khí, họ Lỗ, tên Triển Cầm, không chịu làm quan, đói quá thì ngồi dưới gốc cây liễu, nhổ cỏ mà ăn, người đời sau gọi là Liễu Hạ Quí; khi ông mất rồi, người ta kính trọng ông, không lại hái củi gần mộ ông. Huệ là tên thuỵ của ông. Tần đánh Tề, quân lính phải qua nước Lỗ, cho nên mới có lệnh đó.

[3] Mỗi thạch là 120 cân.

[4] Vua Trung Hoa lâm triều đều quay mặt về phía nam, tự xưng là “quả nhân”. Câu này có nghĩa hiện nay chỉ còn 24 nước.

[5] Cô, quả, bất cốc: đều là những lời khiêm tốn của nhà vua tự xưng với người khác và đều có nghĩa là: ít tài đức.

[6] Chín lần họp chư hầu: Nguyên văn: Cửu hợp chư hầu, nhưng Chư Tử trích giải Mạnh Tử bảo chữ cửu (chín) phải đọc là củ: củ hợp chư hầu là kết hợp chư hầu. Chư Tử có thể đúng vì Tề Hoàn Công hợp chư hầu hết thảy 11 lần chứ không phải 9 lần. [Bản Lá Bối 1973 không có chú thích này. (Goldfish)]

[7] Có bản thêm chữ ngũ: Tích tiên vương Hoàn Công sở hiếu giả ngũ: Xưa tiên vương Hoàn Công có năm điều thích, nay sở thích của nhà vua…
[Mấy chữ: Tích tiên vương Hoàn Công sở hiếu giả 昔先君桓公所好者, hoặc Tích tiên vương Hoàn Công sở hiếu giả ngũ 昔先君桓公所好者五, các bản trên mạng chép ở đầu câu, trước mấy chữ: cửu hợp chư hầu 九合諸侯 (chín lần họp chư hầu). (Goldfish)].

[8] Đông Quách có giống thỏ chạy rất nhanh, nước Hàn có giống chó lư chạy cũng nhanh.

[9] Chung Li Tử: Chung là họ, Li Tử là tên. Là một người có tài đức mà không làm quan (xử sĩ).

[10] Diệp Dương Tử: không rõ tên họ là gì. Diệp Dương là tên đất; ông ta ở Diệp Dương, nên gọi như vậy.

[11] Bắc Cung Anh Nhi Tử: Bắc Cung là họ, Anh Nhi Tử là tên. Có sách bảo Bắc Cung là tên đất.

[12] Ô Lăng Tử Trọng: Ô Lăng là tên đất, nay ở tỉnh Sơn Đông. Tử Trọng là tên người. Chính ra, phải chép là Trọng Tử mới đúng. Trọng Tử tức là Trần Trọng, một thế gia của Tề, khinh phú quí, ngạo vương hầu, không chịu thờ vua Tề vô đạo, mà ẩn ở đất Ô Lăng, rồi chết đói, có tiết tháo như Bá Di, Thúc Tề trong chương Đằng Văn Công, hạ.

[13] Điền Nhu: là tể tướng nước Nguỵ.
TỀ V

1. TÔ TẦN THUYẾT TỀ MẪN VƯƠNG
(Tô Tần thuế Tề Mẫn Vương)

Tô Tần bảo Tề Mẫn Vương:

- Tôi nghe rằng khởi binh mà muốn trước thiên hạ thì phải lo lắng; kết ước mà muốn làm chủ thiên hạ thì tất gây oán thù mà bị cô lập. Khởi binh sau thiên hạ thì được sự nương tựa, mà thừa cơ thì tránh được oán hận. Vì vậy thánh nhân hành động thì tất dùng phép quyền biến làm chỗ nương tựa, nhân thời cơ mà dấy lên. Nương tựa vào phép quyền biến thì thống suất được vạn vật, lợi dụng được thời thế thì làm chủ được trăm việc. Cho nên không dùng phép quyền biến, làm trái với thời thế mà thành công được là điều rất hiếm.

Nay tuy có những cây kiếm quí Can Tướng và Mạc Da[1] mà không có nhân lực thì cũng không cắt được gì cả; tuy có tên cứng mũi nhọn mà không có nỏ và dây cung thích hợp thì cũng không bắn được xa mà giết được người. Thế thì tại cái gì vậy? Tại mất sự nương tựa. Tại sao biết được vậy? Xưa kia Triệu đánh úp Vệ, người đánh xe thông tin không ngừng. Vệ cắt thành cầu hoà[2], tám cửa thành đắp đất lên để chống cự, còn hai cửa thành bị phá, như vậy là cái thế mất nước rồi. Vua Vệ đi chân không, qua cầu viện vua Nguỵ (Vũ Hầu), vua Nguỵ khoác áo giáp, mài lưỡi kiếm, đánh nhau với Triệu trong thành Hàm Đan, kỵ mã chạy mù, từ miền Hoàng Hà tới Thái Hằng Sơn náo loạn, Vệ nhờ vào đó mà thu thập binh lính, tiến lên phía bắc, phá được Cương Bình, hạ được ngoại thành ở Trung Mâu. Không phải là Vệ mạnh hơn Triệu, Vệ chỉ như mũi tên nhọn mà Nguỵ là cây nỏ và dây cung, nhờ được sức Nguỵ mà chiếm đất Hà Đông, làm cho Triệu phải sợ.

Người Sở cứu Triệu mà đánh Nguỵ, khai chiến ở Châu Tây, từ Lương Môn tung ra, quân đóng ở Lâm Trung, ngựa uống nước ở sông lớn. Triệu nhờ được vậy cũng đánh úp miền Hà Bắc của Nguỵ, đốt phá miền Cức Cấu, hạ được Hoàng thành, Cương Bình bị phá, Trung Mâu và Hoàng thành[3] bị hạ, Cức Cấu bị đốt, đều không do ý muốn của Triệu, Nguỵ. Thế mà hai nước đó tận lực tiến quân là do lẽ gì vậy? Do Vệ rõ cái lẽ nương tựa vào thời thế và quyền biến.

Các người trị nước ngày nay thì không vậy. Binh yếu mà lại thích chống với nước mạnh, nước suy mà lại thích kết oán với người. Việc hỏng rồi mà lại thích tiếp tục, binh lực bạc nhược mà lại không chịu ở dưới người, đất hẹp mà lại thích chống với nước lớn, việc hỏng rồi mà lại thích dùng mưu gian. Có sáu hành động đó mà muốn làm bá chủ thì khó thay!

Tôi nghe nói người khéo trị nước thì thuận ý dân, mà liệu binh lực rồi sau mới theo sau thiên hạ[4]. Cho nên kết ước thì không vì người mà chuốc lấy oán thù, chinh chiến thì không vì người mà toả chiết cường địch. Như vậy thì không hao binh, không khinh dụng quyền mưu, đất đai có thể mở rộng mà nguyện vọng có thể đạt. Xưa Tề cùng với Hàn, Nguỵ đánh Tần, Sở; chiến tranh không phải là rất kịch liệt, cắt đất (của Tần, Sở) lại không nhiều gì hơn Hàn, Nguỵ, vậy mà thiên hạ riêng đổ tội cho Tề (chứ không đổ tội cho Hàn, Nguỵ) là tại sao? Chỉ tại Tề vì Hàn, Nguỵ mà chuốc lấy oán. Khắp thiên hạ, nước nào cũng dụng binh, Tề với Yên đánh nhau mà Triệu thôn tính được Trung Sơn, Tần và Sở đánh nhau với Hàn, Nguỵ không ngớt, Tống và Việt chuyên tâm dụng binh. Mười nước đó đều nghĩ tới việc đánh nhau, mà thiên hạ chỉ riêng chú ý tới Tề là tại sao? Là vì khi kết ước thì Tề thích đứng vào địa vị gây oán, đánh thì thích toả chiết cường địch.

Vả lại nước mạnh bị hoạ thường là do ý muốn làm chủ các nước khác, nước yếu bị tai ách thường là do có ý muốn lừa gạt nước khác; vì vậy mà nước lớn thì nguy mà nước nhỏ thì bị diệt.
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

CHIẾN QUỐC SÁCH Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH   CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Dec 01, 2010 4:51 pm


Náo Xỉ bảo:

- Trời mưa máu ướt áo là trời cảnh cáo nhà vua đấy; đất nứt tới mạch suối là đất cảnh cáo nhà vua đất; người khóc ở cửa khuyết là người cảnh cáo nhà vua đấy. Trời, đất, người đều cảnh cáo nhà vua mà nhà vua không biết răn mình, làm sao mà không đáng chết được?

Rồi giết Mẫn Vương ở Cổ Lí. Thái tử phải cởi bỏ y phục, trốn vào nhà quan thái sử, giả làm người tưới vườn. Con gái quan thái sử[9] - sau làm hoàng hậu – biết thái tử là bậc quí nhân, đặc biệt đãi ngộ.

(Sau) Điền Đan dùng thành Tức Mặc và tàn binh của Tề đánh Yên, dùng mưu gạt Kị Kiếp[10], mà khôi phục được nước Tề, đón thái tử ở nước Cử về làm vua. Tương Vương lên ngôi, phong Quân Vương hậu (tức con gái quan thái sử) làm hoàng hậu, hậu sinh ra Tề Vương Kiến[11].

Vương Tôn Giả năm mười lăm tuổi thờ Mẫn Vương, Mẫn Vương trốn đi, không biết tìm ở đâu. Người mẹ bảo:

- Sáng con ra đi mà chiều về thì mẹ tựa cửa ngóng con; chiều con ra đi mà không về thì mẹ tựa cổng[12] ngóng con. Nay con thờ vua, vua trốn đi, con không biết tìm đâu thì còn về nhà làm gì?

Vương Tôn Giả bèn lại giữ chợ, bảo:

- Náo Xỉ làm loạn nước Tề, giết Mẫn Vương, ai muốn cùng tôi giết nó thì để hở cánh tay mặt đi!

Ở chợ, bốn trăm người theo, cùng vấn tội Náo Xỉ rồi đâm chết Náo Xỉ[13].

2. LỖ TRỌNG LIÊN THUYẾT TƯỚNG TẦN
(Yên công Tề, thủ thất thập dư thành)

Yên đánh Tề, chiếm được trên bảy mươi thành, chỉ còn hai thành Cử và Tức Mặc là không hạ được. Tướng Tề là Điền Đan giữ Tức Mặc để đánh Yên, giết Kị Kiếp. Mới đầu, tướng Yên hạ được Liêu thành, có người chê bai[14], tướng Yên sợ bị giết, giữ chịt lấy Liêu Thành, mà không dám về nước. Điền Đan tấn công Liêu Thành, trên một năm, binh sĩ chết già nửa mà không hạ được. Lỗ Trọng Liên bèn viết thư, buộc vào mũi tên, bắn vào trong thành cho tướng Yên. Thư rằng:

- Tôi nghe nói, bậc trí giả không nghịch thời cơ, bậc dũng sĩ không sợ chết mà huỷ danh, bậc trung thần không nghĩ đến thân mình trước mà nghĩ vua sau. Nay ông vì một buổi giận dữ[15] mà không nghĩ rằng vua Yên sẽ mất bề tôi[16], như vậy không phải là trung thần; ông chịu chết, làm tan nát Liêu Thành, mà uy lực không được Tề nể[17], như vậy không phải là dũng sĩ; sự nghiệp hỏng, thanh danh tiêu, đời sau không ai khen, như vậy không phải là trí giả. Cho nên bậc trí giả không tính đi tính lại, bậc dũng sĩ không sợ chết[18]. Tử sinh, vinh nhục, tôn ti, quí tiện đều ở trong lúc này cả, xin ông mưu tính cho kỹ lưỡng, đừng theo thói thường nhân.

Sở đánh Nam Dương, Nguỵ đánh Bình Lục, Tề không có ý hướng về nam, cho rằng cái hại mất Nam Dương không bằng cái lợi được Tế Bắc[19], cho nên đã quyết tâm chiếm được Liêu Thành. Hiện nay Tần đem binh cứu Tề, Nguỵ không dám hướng ra phía đông đánh Bình Lục; Tần và Tề liên hoành với nhau mà hợp lực thì cái thế của Sở hoá nguy. Vả lại Tề bỏ Nam Dương, cắt Hữu Nhương[20] (tức Bình Lục), để giữ Tế Bắc, kế đó thế nào cũng đem thực hành.

Nay Sở, Nguỵ đều lui binh, cứu binh của Yên không tới, không nước nào mưu chiếm nước Tề; Tề với Liêu Thành cầm cự với nhau một năm thì, theo tôi thấy, ông không thể nào thắng được Tề đâu. Tề nhất định ăn thua với Liêu Thành, mà lỗi lầm của ông không sửa lại được nữa.

Nước Yên kia đại loạn, vua tôi tính lầm, trên dưới mê hoặc, Lật Phúc[21] đem tới trăm vạn quân mà năm lần bị đánh bại ở ngoài , nước ông là một nước vạn thặng mà bị Triệu vây, đất bị cắt, vua bị khốn, bị thiên hạ nguyền rủa, ông hay điều đó chứ? Nay vua Yên cô lập, đương sợ sệt, đại thần không đáng tin, quốc gia khốn đốn, tai hoạ thì nhiều, lòng dân hoang mang, mà ông đem số dân khốn đốn của Liêu Thành chống cự với binh hoàn chỉnh của Tề, một năm ròng mà không bỏ, đó là “lối giữ thành của Mặc Địch!”[22] Ăn thịt người, đốt xương người làm củi, quân sĩ không có lòng làm phản đó là “binh của Tôn Tẩn và Ngô Khởi!”, bấy nhiêu có thể làm cho ông hiển danh trong thiên hạ rồi[23].

Cho nên ở vào địa vị ông mà mưu tính thì không bằng bãi binh, hưu chiến, bảo toàn binh xa khí giới mà về báo tin cho vua Yên, vua Yên tất mừng, mà nhân dân nước Yên thấy ông sẽ mừng như thấy cha mẹ; bạn bè gặp nhau, nắm tay nhau mà đàm luận thế sự, sự nghiệp của ông có thể rỡ ràng rồi. Trên thì thờ vua cô độc để khống chế quần thần, dưới thì nuôi trăm họ để giúp đỡ các biện sĩ, sửa đổi quốc chính, cải cách phong tục trong thiên hạ, công danh ông có thể là vững vàng rồi.

Hoặc giả ông muốn làm suy tổn nước Yên, không kể tới sự phê phán của người đời, mà qua chơi phía đông nước Tề ư? Nếu vậy thì Tề xin cắt đất để phong cho ông, ông sẽ giàu sang ngang họ Đào, họ Vệ[24], đời đời xưng cô quả, cùng với Tề trường tồn, đó cũng là một cách nữa. Hai cách đó đều là hiển danh, tăng lợi, xin ông xét kỹ rồi lựa lấy một.

Tôi lại nghe: quá chú trọng tới tiểu tiết thì không làm được sự nghiệp lớn lao; hận về cái sỉ nhục nhỏ thì không lập được danh tiếng vẻ vang. Xưa Quản Trọng bắn Tề Hoàn Công[25], trúng cái khoá dây lưng, vậy là phản nghịch; công tử Củ chết mà không chết theo, vậy là khiếp nhược, chân tay bị cùm, trói, vậy là nhục thân. Bị ba cái đó thì người trong làng xóm không giao du với nữa, mà các vị quân vương không dùng làm bề tôi nữa. Nếu Quản Trọng suốt đời uất ức, tự giam trong nhà mà không ra ngoài vì xấu hổ sợ người ta thấy mặt như vậy tới chết, thì rốt cuộc chỉ là kẻ bị nhục, hành vi đê tiện mà thôi! Nhưng Quản Trọng tuy có đủ ba cái lỗi đó mà nắm chính quyền của Tề, khuông chính thiên hạ, chín lần họp chư hầu[26], làm cho Tề đứng đầu ngũ bá, danh tiếng cao nhất trong thiên hạ, vinh quang chiếu tới các nước láng giềng.

Tào Mạt[27] làm tướng cho vua Lỗ, ba lần ra quân ba lần chạy dài, để mất cả ngàn dặm đất. Nhưng nếu Tào Tử chân không rời khỏi trận địa, mưu tính mà không nghĩ đến việc sau, ra trận (không thắng) thì nhất định chết chứ không chịu sống, thì rốt cuộc chỉ là một viên tướng bại trận bị bắt. Tào Tử cho rằng tướng bại trận bị bắt thì không phải là dũng; mà công nghiệp phải bỏ, thanh danh tiêu mà, thì không phải là trí. Cho nên ông chịu bỏ cái nhục ba lần thua chạy, lui về cùng bàn tính với vua Lỗ, và Tào Tử có dịp lập công[28]. Tề Hoàn Công gồm thâu thiên hạ rồi, triều hội chư hầu, mà Tào Tử chỉ có một thanh kiếm, bức hiếp Hoàn Công ở trên đàn, nhan sắc không đổi, lời nói thần khí không loạn; thành thử những đất đai mất trong ba lần chiến bại kia chỉ trong một ngày mà thu hồi lại được, thiên hạ phải chấn động, chư hầu phải hoảng sợ, uy vọng lan tới Ngô, Sở, thanh danh truyền tới hậu thế.

Hai ông đó không phải là không giữ được những cái tiểu tiết, không phải là không biết chết vì cái nhục nhỏ; nhưng cho rằng thân chết, lìa đời rôi mà công danh không thành thì không phải là trí. Cho nên bỏ cái lòng phẫn hận để lập cái danh cho suốt đời, nén cái phẫn uất vì nhục để lập sự nghiệp đời đời. Nhờ vậy sự nghiệp mới cùng với tam vương tranh nhau hơn kém, danh vọng của họ mới cùng với trời đất trường tồn. Xin ông xét cho!

Tướng Yên đáp:

- Xin tuân lệnh ông.

Rồi bãi binh, đảo ngược cái bao cung[29] mà lui quân.

Vậy giải vây cho Tề, cứu sống cho trăm họ là nhờ biện thuyết của Trọng Liên.



----------------
[1] Hồ Huyên: có sách chép là Cô 孤 Huyên, hoặc Hồ Viên 爰 là người nước Tề.
[Chữ Cô 孤 này là tôi chép theo bản Lá Bối 1973, còn bản Trẻ 1989 thì chữ Cô có thêm bộ vương 王 phía trước. (Goldfish)].

[2] Chính nghị: Bàn bạc, phê bình theo chính nghĩa.

[3] Có sách chép là Điền. Xưa hai chữ Trần 陳 và Điền 田 dùng thay nhau.

[4] Tư Mã Nhương Thư: có sách chép là Nhương Tô 租, vốn họ Điền, làm chức Tư Mã, nên lấy họ là Tư Mã.
[Theo Wikipedia thì Tư Mã Nhương Thư được Tề Cảnh Công – thời Xuân Thu - phong chức Tư mã, sau ông bị các đại phu khác dèm pha, nói xấu nên ông bị vua ghét bỏ, rồi ốm bệnh mà chết. (http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0...%A1ng_Th%C6%B0). (Goldfish)].

[5] Tức Nhạc Nghị, được phong làm Xương Quốc Quân. Xương Quốc là tên thành, nay ở Sơn Đông. Việc xảy ra vào năm 31 đời Chu Noãn Vương.

[6] Sở sai Náo Xỉ đem quân qua cứu Tề.

[7] Thiên Thặng và Bác Xương đều là tên đất, nay ở Sơn Đông.

[8] Doanh và Bác cũng là tên đất, nay ở Sơn Đông.

[9] Nguyên văn: quân vương thái sử thị nữ. Crump cho Quân Vương là tên thiếu nữ đó. Có sách thêm chữ hậu 后 ở sau Quân Vương và cho Hậu đó là tên thiếu nữ. [Trong sách in sai thái sử (太史) thành thái tử. (Goldfish)].

[10] Kị Kiếp: là tướng Yên. Điền Đan cho phao tin rằng ông chỉ sợ quân Yên cắt mũi quân Tề rồi xua ra trận mà quân Tề sẽ thua; quân Yên hay được, bắt được lính Tề nào cũng đem cắt mũi, quân Tề nổi giận… Ông lại phao tin rằng chỉ sợ quân Yên phá mồ mã ở ngoài thành, quân Yên hay tin bèn đào mã ở ngoài thành; quân Tề thấy vậy khóc lóc, uất hận vô cùng, hăng tiết quyết chiến với quân Yên.

[11] Vương Kiến sau đầu hàng Tần và nước Tề mất từ đó. Crump chỉ dịch tới đây.

[12] Tựa cổng: sách in là tựa cửa, tôi tạm sửa lại như trên. Nguyên văn: ỷ lư 倚閭. (Goldfish).

[13] Xem Điển hay tích lạ: Tựa cửa, tựa cổng tại http://vnthuquan.net/truyen/truyen.a...ookieSupport=1 để biết thêm tại sao Nảo Xỉ giết Tề Mẫn Công và chuyện Vương Tôn Giả giết Náo Xỉ. (Goldfish).

[14] Có sách chú thích là: có người đặt ra lời hát để phản đối. Chưa tra được sự thực ra sao.

[15] Crump dịch là: nay ông chịu sự oán hận của cả một triều đình. Nguyên văn: hành nhất triêu chi phẫn.

[16] Ý nói tướng Yên sẽ chết nếu cố giữ thành.

[17] Crump dich là: uy danh không ra khỏi nước Tề. Nguyên văn: uy bất tín ư Tề.

[18] Có bản chép: dũng sĩ bất tái kiếp. Crump dịch là: dũng sĩ không bại tẩu hai lần.

[19] Nam Dương: là đất của Tề, nay ở Sơn Đông. Tế Bắc: là miền bắc sông Tế, tức miền Liêu Thành. Sở và Nguỵ ở phía nam nước Tề. Tề không có ý hướng về phía nam, nghĩa là không có định đánh Sở và Nguỵ.

[20] Hữu Nhương: là đất ở phía mặc của Tề. Có bản chép là Thạch Nhương.

[21] Lật Phúc: là tướng nước Yên.

[22] Mặc Địch: tức Mặc Tử. Công Ban Thâu đánh Tống, chín lần tấn công một thành, Mặc Tử chín lần đẩy được.

[23] Câu này có ý khen quân Yên bị vây, thiếu gạo, thiếu củi, thiếu đủ thứ mà vẫn một lòng cầm cự.

[24] Họ Đào trỏ Nguỵ Nhiễm ở đất Đào; họ Vệ trỏ Thương Ưởng.

[25] Tề Hoàn Công tức công tử Tiểu Bạch.

[26] Xem chú thích (1) trang 205. [tức chú thích trong bài Tề IV 6: đại ý nói Tề Hoàn Công họp chư hầu 11 lần chứ không là 9 lần. (Goldfish)]

[27] Có bản chép là Tào Muội.

[28] Nguyên văn: dĩ vi tao. Diệp Ngọc Lân dịch là: cho rằng trước kia thua chỉ tại không gặp may. Chúng tôi theo Crump.

[29] Crump theo Hoành Điền Duy Hiếu mà sửa là túi tên.
3. QUÁN CHÂU KHUYÊN TỀ TUYÊN VƯƠNG
(Yên công Tề, Tề phá)

Yên đánh Tề, Tề thua, Mẫn Vương trốn qua nước Cử, Náo Xỉ giết Mẫn Vương. Điền Đan cố giữ thành Tức Mặc, phá quân Yên, thu phục được đất của của Tề. Tương Vương làm làm thái tử, tỏ vẻ nghi rằng Tề đã phá Yên[1] thì Điền Đan muốn tự lên ngôi mà dân chúng nước Tề cũng cho rằng Điền Đan muốn tự lên ngôi.

Tương Vương lên ngôi rồi, Điền Đan làm tướng quốc. Có lần qua sông Tri, thấy một ông già lội qua sông bị lạnh cóng, lên bờ rồi không đi được nữa, ngồi ở bãi cát. Điền Đan thấy vậy, muốn bảo bọn bọn tuỳ hành ở xe sau sẻ áo cho ông lão, không không ai có áo để cho. Điền Đan bèn cởi áo cừu đưa ông lão mặc. Tương Vương có vẻ nghi kỵ, bảo:

- Điền Đan thi ân như vậy là tính chiếm nước của ta chăng? Ta không sớm liệu thì e trễ mất.

Nhìn chung quanh không thấy ai cả; chỉ thấy ở chân núi có một người tên là Quán Châu[2]. Tương Vương gọi người đó lại hỏi:

- Ngươi nghe được lời ta không?

- Thưa nghe.

- Theo ý ngươi thì nên ra sao?

Đại vương nên nhân đó mà coi là cái hay của mình. Đại vương nên khen Điền Đan rồi hạ lệnh bảo: “Quả nhân lo cho dân đói, Đan gom dân đói về nuôi; quả nhân lo dân rét, Đan cởi ái cừu cho dân mặc, quả nhân lo trăm họ phải khó nhọc, Đan cũng lo cho trăm họ, thật hợp ý quả nhân”. Đan có chỗ nào tốt, nhà vua khen Đan là tốt, thì cái tốt của Đan cũng là cái tốt của vua.

Vua đáp:

- Phải.

Rồi tặng Đan thịt bò và rượu, khen hành vi của Đan.

Ít ngày sau, Quán Châu lại yết kiến vua, bảo:

- Ngày về triều[3] đại vương nên vời Điền Đan tới vái chào Điền Đan ở triều, uỷ lạo ông ta, và hạ lệnh tìm những kẻ đói rét trong nước, gom về nuôi nấng.

(Tương Vương làm theo lời) rồi[4] sai người nghe ngóng trong dân gian, thiên hạ nói với nhau rằng: “Ông Điều Đan yêu dân lắm ha! Đó là ân trạch của nhà vua đấy!”.

4. ĐIÊU BỘT BÊNH VỰC ĐIỀN ĐAN
(Điêu Bột thường ố Điền Đan)

Điêu Bột thường huỷ báng Điền Đan: “An Bình Quân[5] là hạng tiểu nhân!”.

An Bình Quân nghe được, đặt tiệc rượu, mời Điền Bột tới, bảo:

- Đan có gì đắc tội với tiên sinh mà thường bị tiên sinh chê ở triều đình?

Điêu Bột đáp:

- Con chó của tên Chích[6] cắn vua Nghiêu, không phải vì yêu tên Chích mà ghét vua Nghiêu; loài chó hễ không phải chủ của nó thì nó cắn, thế thôi. Nay, ví phỏng Công Tôn Tử là người hiền mà Từ Tử là kẻ bất tiếu mà hai kẻ đó đánh nhau thì con cho của Từ Tử khắc vồ lấy mà cắn bụng chân của Công Tôn Tử. Nếu nó rời ông chủ bất tiếu đi mà lại ở với ông chủ hiền thì há nó chỉ vồ lấy cắn bụng chân của ông mà thôi đâu!

An Bình Quân bảo:

- Xin vâng lời chỉ giáo.

Hôm sau Điền Đan đề cử Điêu Bột với Tương Vương. Tương Vương có chín người bề tôi được sủng ái, họ đều muốn hại An Bình Quân, cùng nhau nói với vua:

- Khi Yên đánh Tề, vua Sở sai tướng đem vạn quân qua giúp Tề. Nay nước đã yên, xã tắc đã vững, sao không sai sứ sang tạ ơn vua Sở?

Vua hỏi:

- Trong số tả hữu, ai là người đi được?

Bọn chín người đều đáp:

- Điêu Bột đi được.

Điêu Bột đi sứ qua Sở. Vua Sở (Khoảnh Tương Vương) thết tiệc đãi. Mấy ngày không về. Bọn chín người kia cùng bảo vua Tề:

- Một kẻ tầm thường (trỏ Điêu Bột) mà làm cho vua một nước vạn thặng lưu lại như vậy, chẳng phải là nhờ cậy một thế lực nào đó ư? (ám chỉ Điền Đan). Vả lại An Bình Quân đối với nhà vua, không giữ lễ vua tôi, không phân biệt trên dưới; lại nuôi cái ý chẳng tốt (ý nói muốn làm phản), ở trong thì vỗ về bách tính, thu phục nhân tâm, giúp đỡ kẻ nghèo khốn, thiếu thốn, ban ân đức cho dân, ở ngoài chiêu nạp Nhung, Địch (chỉ các người nước ngoài) cùng kẻ hiền sĩ trong thiên hạ, ngầm kết giao với các kẻ anh hùng tuấn kiệt ở các nước chư hầu là có ý muốn làm phản, xin nhà vua xét kỹ xem.

Một hôm Tương Vương ra lệnh:

- Gọi tướng quốc Đan lại đây!

Điền Đan bỏ mão, tụt giày, cởi áo để lộ thân thể mà vô; khi lui ra, xin chịu tội chết[7].

Năm ngày sau, Tương Vương bảo:

- Ngươi không có tội với ta. Ngươi giữ đúng cái lễ bề tôi của ngươi, ta giữ đúng cái lễ quân vương của ta, chỉ thế thôi!

Điêu Bột từ Sở về, vua liền bày tiệc đãi. Trong lúc ngà ngà, vua ra lệnh:

- Gọi tướng quốc Đan lại đây!

Điêu Bột rời chiếu, dập đầu xuống sàn, thưa:

- Nhà vua sao có giọng mất nước đó? Nhà vua, ở trên, so với Chu Văn Vương thì ai hơn?

Vua đáp:

- Ta không bằng Chu Văn Vương.

Điêu Bột bảo:

- Phải. Tôi vẫn biết nhà vua không bằng. Ở dưới[8], so với Tề Hoàn Công thì ai hơn?

- Ta không bằng Tề Hoàn Công.

- Phải. Tôi vẫn biết rằng nhà vua không bằng. Vậy mà Chu Văn Vương được Lữ Thượng, gọi Lữ Thượng là Thái Công, Tề Hoàn Công được Quản Di Ngô, gọi Quản Di Ngô là Trọng phủ[9], nay nhà vua được An Bình Quân mà chỉ gọi cộc lốc là “Đan”! Vả lại từ buổi khai thiên lập địa, có loài người tới nay, làm kẻ bề tôi mà có công lớn thì có ai hơn An Bình Quân không? Mà nhà vua cứ gọi “Đan! Đan!”, sao mà có cái giọng mất nước đó! Thử nghĩ coi, nhà vua không giữ được xã tắc của tiên vương, Yên dấy binh đáp úp Tề, nhà vua phải chạy trốn vào miền núi ở Thành Dương; thành Tức Mặc ở trong cơn nguy cấp khủng cư, An Bình Quân dùng bảy ngàn tàn binh trong cái thành rộng ba dặm, quách dài năm dặm đó mà bắt được quan tư mã của Yên, thu hồi được năm ngàn dặm đất cho Tề, đó là công của An Bình Quân. Lúc đó nếu ông ấy đóng cửa Thành Dương mà xưng vương ở Thành Dương thì trong thiên hạ có ai ngăn nổi ông ấy được; nhưng ông ấy nghĩ tới đạo nghĩa, cho hành động như vậy không phải, cho nên mới làm đường sạn đạo mộc các[10] mà đón nhà vua cùng hoàng hậu ở trong miền núi Thành Dương về, nhờ vậy mà nhà vua mới được về triều mà cai trị trăm họ. Nay nước đã định, dân đã yên, thì vua lại gọi “Đan!”; tới con nít cũng không có thái độ như vậy. Nhà vua không giết ngay bọn chín kẻ kia đi mà tạ tội với An Bình Quân thì nước sẽ nguy mất!

Tương Vương bèn giết chín người kia, đuổi hết cả nhà họ đi, lại phong An Bình Quân một vạn nhà ở Dạ Ấp[11].

5. TẠI SAO ĐIỀN ĐAN KHÔNG THẮNG ĐƯỢC RỢ ĐỊCH
(Điền Đan tương công Địch)

Điền Đan sắp đánh rợ Địch, lại thăm Lỗ Trọng Tử. Trọng Tử bảo:

- Tướng quân đánh rợ Địch, không thắng được đâu!

Điền Đan đáp:

- Tôi trước kia chỉ dùng tàn quân của một cái thành rộng năm dặm, quách rộng bảy dặm mà phá được quân của Yên là nước vạn thặng; khôi phục được nước Tề; nay đánh rợ Địch mà không thắng là tại sao?

Nói xong, chẳng thèm cáo từ, lên xe mà đi, rồi đánh rợ Địch. Ba tháng mà không thắng được. Có một đứa trẻ nước Tề hát bài đồng dao này: “Mão lớn tày thúng, gươm dài tới cằm, đánh Địch không thắng, chỉ chiếm đồi cằn”[12].

Điền Đan nghe vậy, hoảng sợ, hỏi Lỗ Trọng Liên:

- Tiên sinh bảo Đan không thắng được rợ Địch là tại sao?

Lỗ Trọng Liên đáp:

- Tướng quân hồi ở Tức Mặc, ngồi thì đan sọt, đứng dậy thì cầm mai đào đất, ca bài này cho sĩ tốt nghe: “Phải tiến quân chừ, xã tắc mất rồi, hồn phách phiêu bạt, biết quay về đâu!”. Lúc đó tướng quân có lòng quyết tử mà sĩ tốt không có lòng tham sinh, nghe lời ca đó, không ai không rơi lệ, vung tay quyết chiến, nhờ vậy mà thắng được Yên. Ngày nay tướng quân, ở phía đông có Dạ Ấp cung phụng, phía tây có Tri Thương giúp vui, đai vàng đeo ngang lưng, rong ruổi trong khoảng từ sông Tri tới sông Thằng, có tấm lòng vui sống, không có cái ý quyết tử, vì vậy mà không thắng được rợ Địch.

Điền Đan bảo:

- Đan tôi có con tâm, nhờ tiên sinh mà nó được theo đường chính!

Hôm sau, Điền Đan kích lệ sĩ khí và đi tuần gần thành, phơi mình dưới mũi tên, hòn đạn, thân cầm dùi thúc trống; rợ Địch phải hàng.

-------------------
[1] Nguyên văn: chưng Tề dĩ phá Yên. Có học giả ngờ rằng chữ chưng 徵 phải sửa thành chữ vi 微. Diệp Ngọc Lân dịch là: Tương Vương làm thái tử, mới rõ sự thực Tề đã phá Yên. Crump dịch là: Thái Tử tánh nhỏ mọn. Khi đã phá Yên.

[2] Chúng tôi theo bản Thương Vụ ấn quán. Không rõ Crump theo bản nào mà dịch là: thấy một người đang xỏ hạt châu ở dưới bao lơn. Có thể Crump đúng. [Bài Tề VI 3 này được cụ Nguyễn Hiến Lê trích dẫn trong phần phụ lục cuốn Đắc nhân tâm, và cụ giảng: quán châu có nghĩa là xỏ hạt châu. (Goldfish)].

[3] Crump dịch là: lần sau hợp triều.

[4] Crump dịch là: làm như vậy rồi, nhà vua sẽ sai người nghe ngóng trong dân gian và sẽ được nghe người ta nói với nhau…

[5] Điền Đan được phong là An Bình Quân. An Bình là tên đất, nay ở Sơn Đông.

[6] Chích: là một tên giặc cướp đời Xuân Thu.

[7] Vì vô lễ, vào chầu vua mà y phục không chỉnh tề. Điền Đan biết Tương Vương muốn coi mình như đầy tớ, nô lệ, muốn làm nhục mình, nên làm như vậy cho Tương Vương hả dạ.

[8] Trên và dưới ở đây nói về tài đức; tài đức cao thì như Chu Văn Vương, thấp thì như Tề Hoàn Công.

[9] Thái Công: là tiếng để chỉ cha. Chu Văn Vương coi Lữ Thượng là cha chú nên gọi như vậy. Trọng phủ, có hai thuyết: một thuyết là Trọng phủ nghĩa là ông Trọng (Trọng là tên của Quản Di Ngô); một thuyết là trọng phụ, cũng là tiếng tôn xưng, coi như cha chú mình.

[10] Sạn đạo: là đường núi, lấy cây gát qua gát lại mà đi. Mộc các: là gác bằng cây, cũng tức như lấy cây dựng thành thang để leo núi.

[11] Cũng gọi là Dịch Ấp. (掖)

[12] Nghĩa là gươm dài quá, đeo vào thì chuôi gươm lên tới cằm. Có nhà hiệu đính (Ngô Sư Đạo và Hoành Điền Duy Hiếu) cho rằng chữ Khô 枯 (khô khâu = đồi cằn) phải đổi là Ngô 吾 (Ngô khâu = đồi Ngô - Ngô là tên đất). [Mãi đến chú thích này, bản Từ điển Bách Khoa 2006 mới in chữ Hán. Đây là một trong vài chú thích mà bản này không lượt bỏ chữ Hán.
CHƯƠNG IV
SỞ SÁCH

Chu Thành Vương (1115-1078) phong Hùng Địch ở đất Sở, đô ở Đan Dương (nay thuộc tỉnh Hồ Bắc). Thời Xuân Thu, Sở xưng vương, thời Chiến Quốc, thành một trong thất hùng, sau bị Tần diệt. Đất Sở nay nằm trên các tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Nam, Giang Tây, Chiết Giang và phía nam tỉnh Hà Nam. Nước Sở cũng gọi là nước Kinh.
*
* *
SỞ I

1. TỬ TƯỢNG KHUYÊN TỐNG ĐỪNG GIÚP TỀ
(Tề, Sở cấu nạn)

Tề, Sở đánh nhau, Tống xin được trung lập. Nhưng bị Tề áp bức, Tống phải hứa giúp Tề. Tử Tượng vì Sở mà thuyết vua Tống:

- Nếu Sở vì hoà hoãn mà mất Tống (vì Tống đứng về phía Tề), thì Sở sẽ theo gương Tề mà áp bức Tống (để Tống đứng về phía Sở). Tề dùng áp bức mà được Tống giúp thì sau này tất (quen mưu) thường áp bức. Như vậy Tống theo Tề mà đánh Sở, vị tất đã có lợi (cho Tống). Tề mà thắng Sở, thế tất nguy cho Tống; không thắng thì là nước Tống nhược tiểu mà dám phạm tới Sở hùng cường. Như vậy là Tống khiến cho hai nước vạn thặng có thói dùng áp lực (với Tống) để toại nguyện, Tống tất nguy!

3. CÁO MƯỢN OAI CỌP
(Tuyên Vương vấn quần thần)

(Kinh) Tuyên Vương[1] hỏi quần thần:

- Ta nghe nói các nước phương bắc sợ Chiêu Hề Tuất[2], thực sự là vì đâu?

Không ai trả lời. Giang Nhất[3] thưa:

- Con hổ tìm các con thú để ăn thịt, gặp con cáo. Con cáo bảo: “Mày không dám ăn thịt của tao đâu! Thượng đế sai tao làm thủ lãnh các loài thú, mày mà ăn thịt tao thì trái lệnh Thượng đế. Mày không tin tao thì tao đi trước, mày theo sau, xem các loài thú thấy tao có phải chạy trốn không”. Con hổ cho là phải, rồi cùng đi thử với con cáo. Các thú thấy đều chạy, con hổ không biết rằng chúng sợ mình mà chạy, tưởng rằng chúng sợ con cáo. Nay đất của đại vương vuông năm ngàn dặm, binh sĩ có trăm vạn mà riêng uỷ thác cho Chiêu Hề Tuất, cho nên các nước phương bắc sợ Chiêu Hề Tuất, thực ra là sợ quân của đại vương, cũng như các loài thú sợ hổ vậy.

5. SỞ CỨU TRIỆU ĐỂ CHIẾM ĐẤT CỦA TRIỆU
(Hàm Đan chi nan)

Trong trận Hàm Đan[4], Chiêu Hề Tuất bảo vua Sở:

- Đại vương đừng nên cứu Triệu, mà nên giúp cho Nguỵ mạnh. Nguỵ mạnh thì đòi cắt đất của Triệu nhiều hơn, Triệu không chịu tất cố chóng cự, rốt cuộc là hai nước đều mệt mỏi.

Cảnh Xá (người nước Sở) bảo:

- Không phải vậy! Chiêu Hề Tuất không hiểu gì cả. Nguỵ đánh Triệu, là sợ nhất là bị Sở tập hậu. Nay ta không cứu Triệu, thì Triệu sẽ nguy mà Nguỵ không phải phải lo Sở (tập hậu), thế cũng tức như Sở, Nguỵ cùng đáng Triệu, hại cho Triệu càng lớn, chứ sao mà “hai nước đều mệt mỏi” (như Chiêu Hề Tuất nói).

Vả lại Nguỵ đem binh[5] thâm nhập Triệu mà chiếm đất, Triệu thấy cái thế nguy rồi, mà Sở lại không cứu mình, thì tất liên hợp với Nguỵ để đánh Sở.

Cho nên tốt hơn, đại vương nên đem một ít quân cứu Triệu, Triệu cậy có Sở mạnh, tất chiến đấu với Nguỵ, Nguỵ thấy Triệu có thái độ đó, tất nổi giận; lại thấy cứu binh của Sở (ít) không đáng sợ, nhất định không tha Triệu. Như vậy Triệu và Nguỵ đều mệt mỏi. Tề và Tần sẽ hưởng ứng Sở và Nguỵ sẽ bị diệt.

Sở bèn sai Cảnh Xá đem binh cứu Triệu, Hàm Đan bị phá, và Sở chiếm được đất (của Nguỵ) từ sông Tuy đến sông Hối.

7. GIANG ẤT GHÉT CHIÊU HỀ TUẤT
(Giang Ất ố Chiêu Hề Tuất)

Giang Ất ghét Chiêu Hề Tuất, bảo vua Sở:

- Một người có một con chó khéo giữ nhà nên cưng nó lắm. Con chó đó có lần đái vào giếng. Người hàng xóm thấy nó đái vào giếng, muốn vô mách chủ nhà. Con chó ghét người hàng xóm, đứng ở cửa mà sủa, người hàng xóm sợ, không vô mách được.

Trong trận Hàm Đan, Sở tiến quân mà chiếm Đại Lương. Chiêu Hề Tuất chiếm được những bảo khí của Nguỵ. Hồi đó thần ở Nguỵ nên biết việc đó, vì vậy mà Chiêu Hề Tuất không muốn cho thần yết kiến đại vương.

7. GIANG ẤT GIÈM PHA CHIÊU HỀ TUẤT
(Giang Ất dục ố Chiêu Hề Tuất)

Giang Ất muốn gièm pha Chiêu Hề Tuất, nói với vua Sở:

- Người dưới mà kết đảng thì người trên nguy, người dưới mà chia rẽ tranh nhau thì người trên yên, đại vương biết điều đó chứ? Xin đại vương đừng quên. Có người thích khen cái hay của người khác thì đại vương xét người đó ra sao?

Vua đáp:

- Người đó là hạng quân tử, nên thân cận với.

Giang Ất hỏi:

- Có người ưa vạch cái xấu của người khác thì đại vương xét người đó ra sao?

Vua đáp:

- Người đó là hạng tiểu nhân, nên tránh xa ra.

Giang Ất bảo:

- Như vậy, nếu có đứa con giết cha, kẻ bề tôi giết vua, rồi rốt cuộc đại vương không cũng không biết. Là tại sao? Tại đại vương thích nghe cái tốt mà không muốn nghe cái xấu của người.

Vua đáp:

- Phải. Quả nhân xin nghe cả hai.

7. AN LĂNG QUÂN XIN CHẾT THEO VUA
(Giang Ất thuế ư An Lăng Quân)

Giang Ất nói với An Lăng Quân[6]:

- Ông không có một thước đất, không có tình cốt nhục với vua, mà được hưởng địa vị tôn quí, bổng lộc hậu hĩnh, người trong nước thấy ông, ai cũng xốc áo mà vái, cúi mình mà chào, là nhờ đâu?

Đáp:

- Nhờ vua quá đề cử đấy thôi, nếu không thì đâu được vậy.

Giang Ất bảo:

- Dùng tiền bạc kết giao, hết tiền thì hết tình; dùng nhan sắc mà kết hợp, sắc suy thì tình đổi. Cho nên người ái thiếp thì chưa nát chiếu mà đã bị chồng đuổi; kẻ sủng thần thì chưa hư xe mà đã bị vua bỏ. Nay ông riêng được quyền lớn ở Sở mà chưa có gì thâm thiết giao kết với vua, tôi trộm lấy làm nguy cho ông!

An Lăng Quân hỏi:

- Vậy thì phải làm sao bây giờ?

Giang Ất đáp:

- Ông xin được chết với vua, đem thân mà tuẫn táng với vua, như vậy thì được trọng dụng hoài ở Sở.

- Xin tuân lời dạy bảo.

Ba năm sau, An Lăng Quân không hề nói gì với vua, Giang Ất lại tới thăm, bảo:

- Lời tôi nói với ông trước đây nay vẫn chưa làm, ông không dùng kế của tôi, tôi xin từ nay không dám yết kiến ông nữa.

An Lăng Quân đáp:

- Không dám quên lời dạy của tiên sinh, chỉ vì chưa có cơ hội đấy thôi.

Sau vua Sở đi săn ở Vân Mộng[7], nghìn cổ xe bốn ngựa nối tiếp nhau, cờ xí rợp trời, lửa đốt đồng nổi lên như mây ráng, huỷ[8] rống, cọp gầm vang như sấm động. Có một con huỷ cuồng nộ chay theo xe vua, muốn đâm càn vào xe, vua vươn cung bắn một phát chết. Vua rút ra một khúc cán cờ, đè lên đầu con huỷ rồi ngửa mặt lên trời, cười:

- Cuộc săn hôm nay vui quá! Quả nhân vạn tuổi, còn vui với ai được như vậy nữa?

An Lăng Quân nước mắt ròng ròng, tiến lên tâu:

- Thần ở trong cung thì ngồi gần chiếu đại vương, ra ngoài thì ngồi cùng xe với đại vương, đại vương vạn tuổi rồi, thần xin tự đem thân xuống suối vàng thử làm cái nệm che cho đại vương khỏi bị sâu kiến, cái vui đó so với cái vui này mới ra sao!

Vua Sở mừng, phong cho làm An Lăng Quân[9].

Người quân tử nghe chuyện đó, bảo:

- Giang Ất giỏi bày mưu thật, mà An Lăng Quân giỏi lựa cơ hội thật.

15. VUA SỞ LỰA TỂ TƯỚNG CHO TẦN
(Sở Vương vấn ư Phạm Hoàn)

Vua Sở (Hoài Vương)[10] hỏi Phạm Hoàn:

- Quả nhân muốn cử một người làm tể tướng nước Tần, nên cử ai?

- Tôi không biết được.

- Ta cử Cam Mậu được không?

- Không được.

- Sao vậy?

- Sử Cử là người coi cửa Thượng Thái, việc lớn thì không biết thờ vua, việc nhỏ thì không biết trị gia, nhờ tính hà khắc liêm khiết mà được nổi tiếng, Cam Mậu hầu hạ người đó mà rất hoà thuận. Cho nên sáng suốt như vua Huệ Vương, xét nét như vua Vũ Vương[11], hay gièm pha người khác như Trương Nghi mà Cam Mậu thờ những người đó, mười lần được thăng quan, không hề bị tội lần nào, quả thật Mậu là người hiền, nhưng không thể là tể tướng nước Tần được! Tần mà có ông tể tướng hiền, không phải là cái lợi cho Sở. Vả lại nhà vua đã từng cử Triệu Hoạt[12] làm quan ở Việt, sở dĩ gây cái nạn Cú Chương và Muội[13], là vì Việt có nội loạn mà Sở mới chiếm được miền Lại Hồ ở phía nam, biên giới mới mở rộng tới Giang Đông. Xét công của nhà vua được như vậy là vì Việt loạn mà Sở trị. Chính sách đó nhà vua Việt, mà nay lại không dùng ở Tần, nên tôi cho rằng nhà vua quên mau quá! Nhà vua mà muốn đặt tể tướng ở Tần thì như Công Huệ Hác là được. Công Tôn Hác là người thân cận của vua Tần, hồi nhỏ mặc chung áo với nhau, lớn lên ngồi xe với nhau, bận y phục của vua mà trị nước, đúng là người mà nhà vua nên cử làm tể tướng. Nhà vua mà cử người ấy thì cái lợi lớn cho Sở.

16. TÔ TẦN THUYẾT SỞ UY VƯƠNG
(Tô Tần vi Triệu hợp tung)

Tô Tần thuyết vua Sở Uy Vương[14] theo chính sách hợp tung của Triệu:

- Sở là cường quốc trong thiên hạ; đại vương là hiền vương trong thiên hạ. Nước Sở, phía tây có Kiềm Trung, Vu Quận, phía đông có Hạ Châu, Hải Dương, phía nam có hồ Động Đình, núi Thương Ngô, phía bắc có sông Phần, núi Hình hiểm trở. Miền Tuân Dương[15] rộng năm ngàn dặm, binh sĩ được trăm vạn, chiến xa được ngàn cỗ, chiến mã được vạn con, thóc lúa đủ chi dùng mười năm như vậy đủ giúp đại vương lập nghiệp bá vương. Nước Sở hùng cường mà đại vương hiền minh, thiên hạ không sao địch nổi, vậy mà đại vương muốn quay mặt qua phía tây thờ Tần thì chư hầu không nước nào không quay mặt về phía nam[16] hướng về Chương Đài[17] mà triều phục Tần.

Trong thiên hạ, Tần lo nhất vì nước Sở; Sở mạnh thì Tần yếu, Sở yếu thì Tần mạnh, thế hai nước phải một mất một còn, cho nên đại vương mà mưu tính thì không gì bằng hợp tung để cho Tần hoá cô lập. Đại vương mà không hợp tung thì Tần tất dẫn hai đạo binh, một đạo ra khỏi Vũ Quan, một đạo xuống Kiềm Trung[18] như vậy đất Yên, đất Dĩnh tất chấn động. Tôi nghe nói khi chưa loạn thì phải trị nước đi, việc chưa phát sinh thì nên lo trước đi chứ đợi tới rồi mới tính thì không kịp nữa; cho nên tôi xin đại vương tính sớm cho.

Đại vương mà theo kế hoạch của tôi thì tôi xin khiến các nước ở Sơn Đông bốn mùa tiến cống đại vương, tuân theo pháp chế sáng suốt của đại vương, đem xã tắc tôn miếu phó thác cho Sở, thao luyện binh sĩ để tuỳ ý đại vương sử dụng. Nếu đại vương quả thực theo kế ngu của tôi thì những con gái hát hay, sắc đẹp của Hàn, Nguỵ, Tề, Yên, Vệ sẽ chật hậu cung của đại vương, những ngựa tốt và lạc đà[19] của Triệu sẽ đầy chuồng của đại vương. Cho nên kế hợp tung mà thành thì Sở lập nên vương nghiệp, kế liên hoàn mà thành thì Tần dựng nên đế nghiệp. Nay đại vương bỏ cái nghiệp bá vương mà mang tiếng thờ người, tôi trộm nghĩ rằng đại vương không lựa chính sách đó.

Tần là nước hổ lang, có ý thôn tính thiên hạ. tần là kẻ thù của thiên hạ, các nước theo chính sách liên hoành đều muốn cắt đất của chư hầu để thờ Tần, như vậy là phụng dưỡng kẻ cừu địch. Làm bề tôi mà cắt đất của vua để giao kết với nước Tần cường bạo như hổ lang ở ngoài, cho Tần xâm chiếm thiên hạ thì rốt cuộc phải chịu cái hoạ của Tần. Cậy cái uy lực của Tần ở ngoài mà trong hiếp đáp vua của mình để đòi cắt đất cho Tần, đại nghịch, bất trung đến vậy là cùng cực. Cho nên hợp tung mà thành thì chư hầu cắt đất để thờ Sở, liên hoành mà thành thì Sở cắt đất để thờ Tần, hai chính sách đó khác nhau rất xa, đại vương lựa chính sách nào?

Vì vậy mà vua Triệu của tệ quốc sai tôi dâng đại vương ngu kế của tôi, xin đại vương ước định, nước tôi sẽ tuân lệnh đại vương.

Vua Sở đáp:

- Nước của quả nhân phía tây giáp với nước Tần, Tần có cái ý chiếm Ba Thục, thôn tính Hán Trung. Tần là nước hổ lang, không thể thân được. Mà Hàn, Nguỵ bị Tần uy hiếp, quả nhân không thể mưu tính thân thiết với hai nước đó, họ họ phản quả nhân mà tố cáo với Tần, mà mưu tính chưa thành, nước Sở đã lâm nguy. Quả nhân tự liệu đem Sở mà chống Tần, chưa chắc đã thắng được, mà ở trong triều mưu tính với quần thần, thì không biết ai đáng tin cậy, cho nên quả nhân ngủ không yên, ăn không ngon, lòng dao động như ngọn cờ treo, không biết dựa vào đâu. Nay ông muốn thống nhất thiên hạ, vỗ về chư hầu, bảo tồn các nước lâm nguy, quả nhân xin kính cẩn đem xã tắc theo kế hoạch của ông.

--------------
[1] Tức Sở Tuyên Vương (369 tr.T.L-340 tr.T.L). (Goldfish),

[2] Chiêu Hề Tuất: là tể tướng nước Tề.

[3] Giang Nhất: có chỗ viết là Giang Ất (乙), là người nước Nguỵ mà làm quan nước Sở. Xưa hai chữ ất và nhất dùng thay nhau.

[4] Hàm Đan: kinh đô nước Triệu, bị Nguỵ vây.

[5] Có bản chép là hợp 合 (chứ không phải là linh 令), nghĩa là tập hợp binh lại.

[6] An Lăng Quân: tên là Triền, người nước Sở, được phong ở đất An Lăng, nay thuộc tỉnh Hà Nam.

[7] Vân Mộng: là tên cái hồ, Vân hồ ở Giang Bắc và Mộng hồ ở Giang Nam. Lại có thuyết rằng Vân Mộng tức Động Đình hồ. Ở đây theo thuyết sau.

[8] Huỷ: là con tê cái.

[9] Lúc đó Triền mới được phong là An Lăng Quân.

[10] Tức Sở Hoài Vương (328 tr.T.L-299 tr.T.L). (Goldfish).

[11] Tức Tần Huệ Vương (338 tr.T.L- 311 tr.T.L) và Tần Vũ Vương (311 tr.T.L- 307 tr.T.L). (Goldfish).

[12] Triệu Hoạt: là người Sở.

[13] Có sách lại giải thích là: gây cái nạn ở Chương Muội tức Đường Muội 唐 昧.

[14] Sở Uy Vương (339 tr.T.L-329 tr.T.L). (Goldfish).

[15] Tuân Dương: tức Tuần Quan, nay ở tỉnh Thiểm Tây.

[16] Cả ba cuốn chúng tôi dùng điều ghi là phía nam, nhưng cuốn Diệp Ngọc Lân khi dịch ra bạch thoại lại ghi là phía tây. Tần chính ở phía tây.

[17] Chương Đài: cũng gọi là Tần Đài ở Thiểm Tây.

[18] Tần đem quân ra khỏi Vũ Quan để chiếm đất Yên 鄢 mà xuống Kiềm Trung để chiếm đất Dĩnh của Sở.

[19] Có sách chép là nước Yên.
17. TRƯƠNG NGHI VÌ TẦN MÀ PHÁ THẾ HỢP TUNG
(Trương Nghi vi Tần phá tung)

Trương Nghi vì Tần phá thế hợp tung, dựng thế liên hoành, thuyết với Sở (Hoài) Vương[1]:

- Nước Tần chiếm nửa thiên hạ, binh lực địch nổi bốn nước, có núi (Chung Nam và Thái Hoà) làm áo, có sông (Long Môn) làm đai[2], bốn phía hiểm trở, non sông vững vàng, binh sĩ hùng hổ trên trăm vạn, chiến xa ngàn cỗ, chiến mã vạn con, lúa thóc chất cao như núi, pháp lệnh đã nghiêm minh, quân lính lại không sợ gian nan, vui vẻ tử chiến, vua thì uy nghiêm sáng suốt, tướng thì đã trí lại dũng; tuy không xuất binh mà chiếm được đất Thường Sơn[3] hiểm trở, dễ như cuốn chiếu, chặt gãy cái xương sống của thiên hạ, nước nào mà chậm phục tòng thì bị diệt liền. Vả lại những kẻ chủ trương hợp tung kia khác gì đuổi một bầy dê để săn mãnh hổ, dê địch sao nổi hổ, lẽ đó minh bạch. Nay đại vương không kết thân với mãnh hổ mà ngược lại, kết thân với bầy dê, tôi trộm nghĩ rằng đại vương đã tính lầm rồi vậy!

Là cường quốc trong thiên hạ, không Tần thì Sở, không Sở thì Tần, hai nước đó thế lực ngang nhau mà tranh nhau thì phải một mất một còn. Nếu đại vương không liên kết với Tần, Tần sẽ đem binh chiếm Nghi Dương, những miền ở phía trên nước Hàn sẽ bị gián cách; rồi Tần đem quân đánh Hàn Đông, chiếm thành Cao, Hàn tất phải thần phục Tần. Hàn thần phục Tần rồi thì Nguỵ tất theo gót Hàn ngay. Tần đánh phía Tây của Sở; Hàn, Nguỵ đánh phía bắc, thì xã tắc Sở làm sao không nguy?

Vả lại bọn chủ trương hợp tung kia tụ tập một bầy yếu đuối để đánh một nước mạnh; dùng yếu để đánh mạnh, không lượng sức mà khinh chiến, nước thì nghèo mà lại cử binh gấp (không dự bị trước), tuất đó là thuật nguy vong. Tôi nghe nói rằng binh lực không bằng người thì đừng khiêu chiến, thóc lúa không bằng người thì đừng cầm cự với người. Bọn chủ trương hợp tung kia, mồm mép huênh hoang, đề cao tiết hạnh của vua chúa, chỉ bàn tới lợi mà không xét tới hại, rốt cuộc bị cái hoạ của Tần, cứu không kịp đa! Cho nên tôi xin đại vương suy tính kỹ cho.

Tần, phía tây có Ba Thục, thuyền sắp hàng hai, chở lúa, khởi hành từ Vấn Sơn, theo dòng mà xuôi tới Dĩnh, đường dài ba ngàn dặm. Gom thuyền chở lính, một chiếc chở được năm chục lính với ba tháng lương thực, trôi theo dòng một ngày ba trăm dặm. Đường tuy dài mà không phải phí sức và mồ hôi của ngựa, không đầy mười ngày đã tới Cản Quan. Làm cho Cản Quan kinh hoảng rồi[4] mới theo Cánh Lăng mà qua đông, bao nhiêu thành sẽ chiếm hết mà đất Kiềm Trung và Vu Quận không còn thuộc đại vương nữa. Tần lại đem quân ra khỏi Vũ Quan, hướng về phía nam mà tấn công, và cắt đứt được miền bắc của Sở. Tần đánh Sở chỉ trong ba tháng là Sở nguy, mà Sở trông cậy vào sự cứu viện của chư hầu thì phải già nửa năm cứu viện mới tới, như vậy thế lực của Sở không địch được với Tần rồi. Cứ trông cậy ở sự cứu viện của mấy nước yếu đuối mà quên cả cái hoạ cường Tần, điều đó tôi lấy làm lo cho đại vương!

Vả lại đại vương từng đánh Ngô năm lần, thắng được ba mà diệt được Ngô, cựu binh chết hết rồi, mà lại phải rải rác đi giữ các thành mới chiếm được, thành thử dân chúng khốn khổ. Tôi nghe rằng đánh nước lớn thì sẽ nguy mà dân chúng khốn khổ sẽ oán hận người trên. Muốn lập cái công dễ nguy mà làm trái ý cường Tần, tôi trộm lấy làm nguy cho đại vương!

Vả lại Tần sở dĩ mười lăm năm không xuất quân ra khỏi cửa Hàm Cốc là âm mưu muốn thôn tính thiên hạ. Sở đã từng gây hấn với Tần, đánh nhau ở Hán Trung, Sở không thắng được, chết mất trên bảy chục vị thông hầu[5] cầm ngọc khuê rồi mất Hán Trung; vua Sở cả giận, khởi binh đánh úp Tần ở Lam Điền, lại thua nữa. Như vậy là hai con cọp vật nhau. Tần , Sở tàn hại nhau, Hàn và Nguỵ dùng toàn lực khống chế phía sau của Tần, Sở, như vậy không còn gì nguy hiểm bằng, cho nên tôi xin đại vương xét cho kỹ đi.

Tần đem binh đánh Vệ và Dương Tấn, tức là đóng cái bụng thiên hạ[6], lúc đó đại vương tất đem quân đánh Tống, không tới vài tháng là chiếm được Tống, chiếm Tống rồi tiến binh qua phía đông, và mười hai nước chư hầu ở trên sông Tứ[7] sẽ về đại vương.

Trong thiên hạ người tin và kiên quyết theo chính sách hợp tung là Tô Tần, Tô Tần được phong là Vũ An Quân làm tướng quốc nước Yên, âm mưu với vua Yên để phá Tề rồi cùng chia đất của Tề. Hắn tính như vậy rồi giả đò có tội, trốn qua Tề, vua Tề dùng hắn làm tướng quốc, trên hai năm sau âm mưu mới phát giác, vua Tề cả giận, dùng xe xé thây Tô Tần ở chợ. Một kẻ gian trá phản phúc như Tô Tần mà muốn kinh doanh[8] thiên hạ, thống nhất chư hầu thì không thể thành công được, lẽ ấy rõ ràng quá.

Nay Tần với Sở sát nách nhau, về hình thế vốn là thân cận với nhau. Nếu đại vương theo mưu kế của tôi thì tôi xin cho thái tử của Tần làm con tin ở Sở, thái tử Sở làm con tin ở Tần, xin đem con gái vua Tần gã cho đại vương để trông nom việc quét dọn, và dâng đại vương một đô ấp có vạn nóc nhà để đại vương lấy thuế dùng vào việc tắm gội (trước khi tế lễ), hai nước sẽ vĩnh viễn làm anh em với nhau, tôi cho không có kế nào tiện hơn kế đó. Vì vậy mà vua Tần của tệ quốc sai tôi đi sứ theo xa giá, dưới làn gió của đại vương mà dâng thư; dám mong đại vương quyết định.

Vua Sở đáp:

- Nước Sở ở một nơi hẻo lánh, thô lậu, nhờ ở gần Đông Hải; quả nhân nhỏ tuổi, chưa quen tính kế lâu dài cho quốc gia; nay may được quí khách đem chính sách sáng suốt dạy bảo cho, quả nhân xin được nghe lời, kính cẩn đem nước Sở theo Tần.

Rồi sai người thống lĩnh trăm cỗ binh xa, dâng vua Tần “sừng kê hãi”[9] cùng ngọc dạ quang[10].

19. MẠC NGAO TỬ HOA ĐÁP SỞ UY VƯƠNG
(Uy Vương vấn ư Mạc Ngao Tử Hoa)

(Sở) Uy Vương hỏi Mạc Ngao[11] Tử Hoa:

- Từ đời tiên vương là Văn Vương đến đời quả nhân, phỏng có bề tôi nào không vì tước cao, lộc hậu mà hết lòng lo việc xã tắc không nhỉ?

Mạc Ngao Tử Hoa đáp:

- Hoa tôi không biết được.

- Nếu các quan đại phu cũng không biết thì quả nhân hỏi ai bây giờ?

- Nhưng đại vương muốn hỏi về hạng người nào? Có người chỉ nhận chức thấp, sống trong cảnh nghèo để lo việc xã tắc; có người muốn chức cao, lộc hậu để lo việc xã tắc; có người tự cứa cổ mổ bụng, nhắm mắt luôn cho tới vạn đại, không biết làm vậy có lợi gì không, để lo việc cho xã tắc; có người lao thân sầu tư để lo việc xã tắc; có người không vì tước cao lộc hậu mà lo việc xã tắc.

- Ông nói đó là những ai đấy?

Mạc Ngao Tử Hoa đáp:

- Xưa kia, quan lệnh doãn Tử Văn[12] vào triều thì bận áo lụa thâm, ở nhà thì bận áo lông bằng da hươu, từ tờ mờ sáng đứng ở triều, sẩm tối mới về nhà, ăn cơm có bữa sáng không nghĩ tới bữa tối, không khi nào chứa thóc gạo đủ một tháng[13]. Nhận chức thấp, sống trong cảnh nghèo để lo việc xã tắc, tức quan lệnh doãn Tử Văn đấy.

Xưa kia, Diệp Công Tử Cao[14] giữ chức (lớn) ở triều[15], lộc ngang chức trụ quốc[16], giết được Bạch Công, làm yên được nước Sở, khôi phúc được những đất ở phía ngoài Phương Thành thời tiên quân, bốn cõi không bị xâm lược, không bị khuất nhục với các nước chư hầu. Lúc đó không nước nào dám đem binh hướng về phía nam (tức Sở) và Diệp Công Tử Cao được hưởng sáu trăm khoảnh ruộng. Muốn chức cao và lộc hậu để lo việc xã tắc, tức là ông Diệp Công Tử Cao đấy.

Xưa kia, Ngô với Sở đánh nhau ở Bách Cử[17], trong khi hai bên giao chiến, Mạc Ngao Đại Tâm vỗ vào tay người đánh xe, quay lại, thở dài than: “Hỡi ơi! Này anh, tới ngày[18] nước Sở mất rồi! Tôi sắp tiến sâu vào quân Ngô đây, nếu anh đập được một tên giặc, đâm trúng được một tên giặc cho Đại Tâm tôi thì xã tắc chưa đến nỗi nào!”[19]. Cứa cổ, mổ bụng, nhắm mắt luôn cho tới vạn đại, không biết làm như vậy có lợi gì không để lo việc xã tắc, tức là ông Mạc Ngao Đại Tâm đấy.

Xưa kia, Ngô với Sở đánh nhau ở Bách Cử, sau ba trận, Ngô vô được đất Dĩnh, vua Sở Chiêu Vương[20] phải chạy trốn, các quan đại phu đều chạy theo vua, trăm họ ly tán, Phần Mao Bột Tô[21] bảo: “Nếu ta bận áo giáp cứng, cầm binh khí nhọn, qua nước địch hùng cường mà chết thì bất quá chỉ như một tên lính, không bằng chạy qua các nước chư hầu”. Rồi vác lương thực, lẻn đi, leo những ngọn núi cheo leo, lội những khe nước thăm thẳm, téc chân, rách đầu gối, bảy ngày tới triều đình vua Tần, đứng như con chim tước[22], không nhục nhích, sáng rên, chiều khóc bảy ngày mà không được tâu với vua Tần, không uống một giọt nước, tới té nhào chết giấc[23], không nhận được ra ai nữa. Vua Tần (Ai Công) hay tin, chạy vội lại, mão đai xốc xếch, tay trái đỡ đầu Phần Mạo Bột Tô, tay phải đổ nước vào miệng, Bột Tô mới hồi tỉnh lại. Vua đích thân hỏi: “Ông là ai?”. Phần Mạo Bột Tô đáp: “Tôi chính là sứ giả của Sở, mới đắc tội với đại vương, Phần Mạo Bột Tô đây chứ không ai khác. Ngô với Sở đánh với nhau ở Bách Cử, sau ba trận, Ngô vô được đất Dĩnh, quốc quân tôi phải chạy trốn, các quan đại phu đều theo vua, trăm họ ly tán, sai tôi qua (Tần) báo tin mất nước và xin cứu viện”. Vua Tần cúi xuống bảo đừng ngồi dậy: “Quả nhân nghe nói rằng ông vua một nước vạn thặng đắc tội với một kẻ sĩ thì xã tắc lâm nguy, lời đó nói về lỗi của quả nhân bây giờ đây”. Rồi phát ngàn cổ chiến xa, vạn binh sĩ, giao cho Tử Mãn và Tử Hổ[24] vượt biên giới mà tiến sang phía đông, giao chiến với quân Ngô ở Trọc Thuỷ, đánh bại quân Ngô rồi lại đánh[25] Toại Phố. Lao thân, sầu tứ để lo việc xã tắc, tức là Phần Mao Bột Tô vậy.

Ngô với Sở đánh nhau ở Bách Cử, sau ba trận, Ngô vô được đất Dĩnh, vua Sở chạy trốn, các quan đại phu đều chạy theo, trăm họ ly tán. Mông Cốc[26] cùng với binh sĩ hết lòng chiến đấu ở phía trên đất Cung Đường, rồi bỏ cuộc chiến đấu mà chạy về đất Dĩnh, bảo: “Nếu vua Chiêu Vương còn có con côi[27] thì xã tắc của Sở không đến nỗi nào!”. Rồi vô trong cung, ôm lấy sổ sách thất tán ra, chở đường thuỷ, trốn vào đất Vân Mộng. Khi vua Chiêu Vương trở về Dĩnh, năm quan[28] mất hết pháp điển, trăm họ hỗn loạn. Mông Cốc dâng pháp điển, năm quan có được pháp điển mà trăm họ đại trị. Công của Mông Cốc lớn, ngang với công bảo tồn được quốc gia, vua phong cho tước “Cầm ngọc khuê” và sáu trăm khoảnh ruộng. Mông giận, bảo: “Cốc không phải bề tôi của người mà là bề tôi của xã tắc, nếu xã tắc còn được cúng tế thì lo gì không có vua?”. Nói rồi bỏ đi, vào trong núi Ma Sơn[29]. Không vì chức cao bổng hậu mà lo việc xã tắc, tức là Mông Cốc đấy.

Uy Vương thở dài bảo:

- Những vị đó là người thời xưa! Người đời nay đâu được như vậy!

Mạc Ngao Tử Hoa đáp:

- Xưa kia tiên quân là Linh Vương[30] thích những người lưng thon, mà những kẻ sĩ ở Sở đều nhịn ăn, yếu đến nỗi phải dựa rồi mới đứng được, phải vịn rồi mới ngồi dậy được. Ăn thì ai chẳng muốn mà họ kiên tâm rán nhịn, chết thì ai chẳng sợ mà họ tìm tới cái chết chứ không tránh. Hoa tôi nghe nói nhà vua mà thích bắn thì bề tôi rán luyện cung tên[31]. Đại vương không thích kẻ hiền đấy thôi, nếu thực tâm thích thì năm vị bề tôi thời cổ có thể tìm được lắm chứ.

---------------
[1] Sở Hoài Vương (328 tr.T.L-299 tr.T.L). (Goldfish).

[2] Ý nói núi che chở ở phía sau, sông uốn khúc chảy qua cõi,

[3] Thường Sơn: cũng gọi là Đằng Sơn, Bắc Nhạc, nay ở tỉnh Trực Lệ, nó liền với Thái Hàng Sơn, như cái xương sống của Trung Quốc.

[4] Ý nói phá tan Cản Quan rồi.

[5] Thông hầu: là tên một chức tước để phong các tướng có công và được coi gần như người trong vương thất. Trước gọi là triệu hầu, sau kiêng tên Hán Vũ Đế, đổi làm thông hầu.

[6] Thường Sơn là xương sống của Trung Quốc; mà Vệ và Dương Tấn là cái bụng của Trung Quốc vì miền đó ở chỗ giao nhau của biên giới các nước Tần, Tấn, Tề, Sở. Ý nói Tần mà chiếm được Vệ và Dương Tấn thì các nước kia mắc nghẽn, hết giao thông với nhau.

[7] Chỉ các nước Tống, Lỗ Lữ…

[8] Tiếng kinh doanh này dùng theo nghĩa cổ là mưu tính việc nước, việc thiên hạ.

[9] Một thứ sừng tê có vân trắng, như sợi chỉ, đặt hạt gạo lên sừng đó thì gà trông thấy, sợ, không dám mổ hạt gạo.

[10] Một thứ ngọc ban đêm toả ra ánh sáng.

[11] Theo Crump thì Mạc Ngao là một chức lớn ở Sở, theo Hứa Khiếu Thiên thì là tên họ. Có thể là tên chức, sau thành tên họ, như tiếng Tư Mã.

[12] Tử Văn: tức Đấu Tử Văn, một vị quan nước Sở. Khi mới sanh, bị cha bỏ ở ngoài đồng, được một con hổ cái cho bú, ba ngày sau cha thấy vẫn còn sống mới đem về nuôi.

[13] Nguyên văn: là nguyệt (tháng), Crump đồi là nhật (ngày) cho hợp với hàng trên.

[14] Diệp Công Tử Cao: làm chức Tả Tư Mã của Sở.

[15] Nguyên văn: là thân hoạch ư biểu bạc. Chúng tôi theo chú thích của Hứa Khiếu Thiên. Crump cho là rất tối nghĩa và dịch là: mặc dầu có thời nghèo khó ở quê nhà.

[16] Cũng gọi là Thượng trụ quốc, một chức cao ở triều đình.

[17] Bách Cử: nay ở tỉnh Hồ Bắc, miền đó có núi Bách Tử và sông Cử Thuỷ nên gọi là Bách Cử.

[18] Có sách chép là nguyệt (tháng).

[19] Mạc Ngao Đại Tâm quyết chiến với quân địch và nghĩ rằng ai cũng một lòng như vậy thì có cơ cứu được nước.

[20] Lúc đó Dĩnh là kinh đô của Sở. Nước Sở dời đô từ Đan Dương đến Dĩnh từ năm 680 tr.T.L, đến năm 278 tr.TL lại đời đô đến Trần. Sở Chiêu Vương ở ngôi từ năm 515 tr.T.L đến năm 498 tr.T.L. (Goldfish).

[21] Phần Mao Bột Tô: trong Tả truyện gọi là Thân Bao Tư.

[22] Ta thường dịch là con chim sẻ. Crump theo Hoành Điền Duy Hiếu dịch là chim sến.

[23] Chúng tôi dịch thiếu chữ mao 旄 ở đây vì không hiểu nghĩa.

[24] Tử Mãn và Tử Hổ: đều là quan đại phu của Tần.

[25] Theo Crump, chữ văn 聞 (nghe) ở đây phải sửa là chữ đấu 鬥 (tranh).

[26] Mông Cốc: là người nước Sở.

[27] Lúc vua Chiêu Vương trốn qua nước Tuỳ, sống chết chưa biết ra sao, nếu chết mà còn con côi thì quốc dân sẽ lập con lên làm vua.

[28] Năm quan: là các quan tư đồ, tư mã, tư không, tư sĩ, tư khấu.

[29] Ma Sơn: nay ở tỉnh Hồ Bắc.

[30] Sở Linh Vương (540 tr.T.L-529 tr.T.L). (Goldfish).

[31] Nguyên văn: quyết thập, chỉ những vật để bao ngón tay cái bên phải và đeo vào cánh tay trái trong khi bắn để khỏi đau hoặc bị thương.
SỞ II

1. VIỆC ĐỀ CỬ CAM MẬU LÀM TƯỚNG QUỐC NGUỴ
(Nguỵ tướng Địch Cường tử)

Tướng quốc nước Nguỵ làm Địch Cường chết. Có người vì Cam Mậu bảo vua Sở:

- Người có hy vọng làm tướng quốc ở Nguỵ là công tử Kính. Kính mà làm tướng quốc Nguỵ thì Tần và Nguỵ rất thân thiện với nhau; Tần và Nguỵ hoà hảo với nhau thì địa vị của Sở tất kém. Cho nên nhà vua nên kết ước với Tề, cùng giúp cho Cam Mậu làm tướng quốc Nguỵ, Vua Tề thích được tiếng ở trên người khác[1], nay ta sai người xin vua Tề đề cử Cam Mậu làm tướng quốc Nguỵ, vua Tề tất mừng rỡ. Nguỵ mà không chịu thì gây ác cảm với Tề; Tề Nguỵ mà ghét nhau thì tất tranh nhau thờ Sở. Còn như Nguỵ chịu dùng Cam Mậu làm tướng quốc, Cam Mậu với Xư Lý Tật (tướng quốc của Tần) là kẻ thù không đội trời chung với nhau[2], sự bang giao giữa Nguỵ và Tấn tất gây cấn mà Nguỵ tất phải nhờ cậy, kính trọng Sở.

4. CẨN THƯỢNG BÀY KẾ CỨU TRƯƠNG NGHI
(Sở Hoài Vương câu Trương Nghi)

Sở Hoài Vương giam Trương Nghi, tính đem giết[3]. Cẩn Thượng[4] vì Trương Nghi bảo vua Sở:

- Giam Trương Nghi thì vua Tần (Chiêu Vương) tất giận, thiên hạ thấy Sở không được Tần ủng hộ tất coi rẻ Sở.

Rồi Cẩn Thượng lại bảo ái phi của vua Sở là nàng Trịnh Dữu:

- Bà cũng tự biết rằng sắp bị vua rẻ rúng chứ?

Trịnh Dữu hỏi:

- Sao vậy?

Thượng đáp:

- Trương Nghi là bề tôi trung tín, có công lao của vua Tần. Nay Sở giam Trương Nghi, vua Tần muốn Sở phóng thích ông ta. Vua Tần có người ái nữ diễm lệ, lại lựa trong cung những mỹ nữ giỏi đàn ca để cho theo hầu, lại tặng vua Sở kim ngọc bảo vật cùng sáu huyện Thượng Dung để vua Sở thu thuế chi phí về việc tắm gội, sai Trương Nghi dâng lên vua Sở, vua Sở tất yêu con gái Tần, con gái vua Tần sẽ dựa vào cha mà địa vị được tôn trọng, lại cậy vào bảo vật và đất đai[5], tất sẽ được làm hoàng hậu mà giữ địa vị tôn quí ở Sở. Vua Sở ham vui mà hoá ra mê ám, tất rất tôn quí, yêu dấu con gái vua Tần và bỏ rơi bà, bà sẽ bị coi rẽ mà mỗi ngày mỗi bị lơ là.

Trịnh Dữu bảo:

- Mọi sự nhờ ông, nên tính sao bây giờ?

Đáp:

- Sao bà không gấp nói với vua thả Trương Nghi ra? Trương Nghi được thả, mang ơn bà hoài, con gái vua Tần sẽ không tới[6] mà vua Tần tất quí bà. Ở trong thì giữ được lòng yêu quí của vua Sở, ở ngoài thì kết giao với Tần, giữ Trương Nghi lại mà dùng, như vậy con cháu của bà sau này tất làm thái tử nước Sở, lợi đó phải tầm thường đâu[7].

Nàng Trịnh Dữu lập tức thuyết vua Sở thả Trương Nghi[8].

7. THẬN TỬ GIẢI NẠN CHO SỞ
(Sở Tương Vương vi thái tử)

Hồi xưa, Sở Tương Vương[9] còn là thái tử, phải làm con tin ở Tề. Khi Sở Hoài Vương (là cha) băng, thái tử từ biệt vua Tề để về nước. Vua Tề làm khó, bảo:

- Tặng ta năm trăm dặm ở miền Đông của Tề thì ta mới cho về, nếu không thì không được về.

Thái tử đáp:

- Tôi có quan sư phó là Thận Tử[10].

Thân Tử khuyên:

- Cứ tặng đi! Đất đai là để giúp ích cho người. Vì tiếc đất mà không về tống táng cha là bất nghĩa, cho nên tôi khuyên nên tặng đất đi.

Thái tử vô yết kiến vua Tề, bảo:

- Tôi xin dâng năm trăm dặm đất.

Vua Tề bèn cho thái tử về nước.

Thái tử về nước rồi, lên ngôi vua, vua Tề sai người đem năm chục chiến xa tới Sở để tiếp thu đất ở miền Đông.

Vua Sở hỏi Thận Tử:

- Tề sai người tới đòi đất miền Đông, làm sao bây giờ?

Thận Tử đáp:

- Ngày mai, nhà vua triều kiến quần thần, hỏi kế hoạch của mỗi người xem sao.

(Hôm sau) quan Thượng trụ quốc là Tử Lương vô yết kiến (trước). Vua hỏi:

- Quả nhân sở dĩ được về nước để tống táng tiên vương, gặp lại quần thần, làm chủ xã tắc là nhờ đã hứa tặng vua Tề năm trăm dặm ở miền Đông. Nay Tề sai người qua đòi đất, làm sao bây giờ?

Tử Lương đáp:

- Nhà vua không thể không tặng đất được. Lời nói của nhà vua tôn quí như tiếng ngọc, đã hứa với một nước mạnh có vạn cỗ xe là nước Tề rồi không giữ lời thì là bất tín, sao nàu làm sao kết ước với chư hầu được. Vì vậy trước tặng đất rồi sau tấn công. Tặng đất là để giữ lời hứa; tấn công là dùng vũ lực; v
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

CHIẾN QUỐC SÁCH Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH   CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Dec 01, 2010 4:52 pm


Mỹ nữ nghe lời, gặp vua thì che mũi. Vua hỏi Trịnh Dữu:

- Người mới hễ thấy quả nhân là che mũi, sao vậy?

Trịnh Dữu đáp:

- Thiếp biết tại sao, nhưng…

Vua bảo:

- Có cái gì xấu cũng cứ nói đi.

Trịnh Dữu đáp:

- Cơ hồ như nó không ưa cái hơi thối của đại vương.

Vua Sở bảo:

- Hỗn láo thật!

Rồi ra lệnh cắt mũi của nàng đó, không được trái lệnh.

4. TRANG TÂN DÙNG NGỤ NGÔN KHUYÊN SỞ TƯƠNG VƯƠNG
(Trang Tân vị Tương Vương)

Trang Tân bảo Sở Tương Vương[1]:

- Nhà vua (ngồi xe) bên tả có Châu Hầu, bên hữu có Hạ Hầu; sau xe có Yên Lăng Quân và Thọ Lăng Quân[2]. Bốn người đó chuyên dâm loạn, xa xỉ, không lo việc nước, Dĩnh đô[3] tất nguy mất.

Tương Vương bảo:

- Tiên sinh già rồi lẫn chăng? Hay là muốn rủa Sở đấy?

Trang Tân đáp:

- Tôi thực tâm thấy tất nhiên phải như vậy, không dám rủa nước Sở. Nếu nhà vua cứ sủng ái bốn người đó mãi như vậy, thì Sở tất mất! Tôi xin được lánh qua Triệu, ở đó một thời gian để quan sát những biến cố của Sở.

Trang Tân qua Triệu ở năm tháng. Quả nhiên Tần chiếm những đất Yên, Dĩnh, Vu, Thượng Thái, Trần của Sở, Tương Vương phải chạy trốn[4] tới Thành Dương, sai người kỵ mã dẫn đường qua Triệu đón Trang Tân. Trang Tân bằng lòng đi.

Trang Tân tới. Tương Vương bảo:

- quả nhân không biết dùng lời khuyên của tiên sinh, nay sự thể đã như vậy, làm sao bây giờ?

*[5] Trang Tân đáp:

- Tôi nghe tục ngữ có câu: “Thấy thỏ rồi mới nghĩ tới chó săn, cũng không phải là muộn; mất bò rồi mới lo rào chuồng cũng chưa phải trễ”. Tôi nghe nói xưa kia vua Thang, vua Vũ chỉ có trăm dặm đất mà hưng thịnh lên được; vua Kiệt, vua Trụ có cả thiên hạ mà bị nguy vong. Hiện nay nước Sở tuy nhỏ, cắt chỗ dài bù vào chỗ ngắn thì cũng còn được vài ngàn dặm, chứ nào phải trăm dặm mà thôi.

**[6] Nhà vua không thấy con chuồn chuồn kia ư? Nó có sáu chân, bốn cánh, bay lượn giữa khoảng trời đất, cuối mổ (!) con muỗi, con ruồi để ăn, ngửa hứng nước sương ngọt ngào để uống, tự cho rằng chẳng lo lắng gì cả, vì không cạnh tranh gì với ai; có ngờ đâu một đứa nhỏ cao năm thước lấy mật làm keo bôi vào tơ, cột ở đầu cái gậy dài bốn nhẫn[7] mà bắt được con chuồn chuồn, chuồn chuồn rơi xuống đất, vị kiến ăn thịt. Con chuồn chuồn là vật nhỏ.

Đến như con chim sẽ vàng kia, cuối thì mổ những hạt gạo trắng, ngửa[8] thì đậu ở trên cây rậm rạp, hăng hái vỗ cánh, tự cho rằng chẳng lo gì cả vì không cạnh tranh với ai; có ngờ đâu rằng có cậu công tử vương tôn nọ, tay trái giương ná, tay phải cầm đạn, bắn nó ở chỗ cao mười nhẫn, đem về làm chim mồi bắt chim sẻ khác; ban sáng nó còn bay nhảy trên cây rậm mà tối đã bị xào nấu với muối dấm, chỉ trong khoảnh khắc đã bị rớt vào tay cậu công tử nọ. Con sẻ còn là vật nhỏ.

Đến như con hộc[9] vàng kia bay lượn trên sông biển, đậu ở cái đầm lớn, cúi thì mổ con lươn, con cá chép, ngửa thì ăn củ ấu, cây hoành[10], hăng hái vỗ cánh chẳng lo lắng gì cả vì không cạnh tranh với ai. Có ngờ đâu người thợ săn sửa soạn mũi tên và cây cung, buộc sợi dây tơ vào cây tên[11], bắn nó ở chỗ cao trăm nhẫn, nó bị trúng mũi tên nhọn, bị sợi tơ kéo về (phía người thợ săn) và rớt xuống đất trong luồng gió mát; ban sáng còn bay lượn trên sông biển mà buổi tối đã bị nấu nướng trong cái đỉnh cái vạc rồi. Con hộc vàng còn nhỏ.

Đến như việc Thái Linh Hầu[12] thì cũng vậy. Phía nam ông ta chơi miền Cao Pha[13], phía bắc ông ta leo núi Vu Sơn, uống nước suối Như Khuê, ăn cá sông Tương, tay trái ôm hầu non, tay phải đỡ ái thiếp, cùng với họ dong ruổi ở trong miền Cao Thái mà không lo gì việc nước cả. Có ngờ đâu rằng Tử Phát[14] được lệnh của Sở Tuyên Vương[15], bắt trói ông ta bằng dây tơ đỏ, đem về cho Tuyên Vương.

Việc Thái Linh Hầu còn là nhỏ. Đến việc của nhà vua; ngồi xe, bên trái có Châu Hầu, bên phải có Hạ Hầu, sau xe có Yên Lăng Quân và Thọ Lăng Quân, ăn lúa gạo của đất được vua phong, chở vàng trong kho do bốn phương tiến cống, cùng với bọn đó rong ruổi ở miền Vân Mộng, mà không lo gì việc quốc gia thiên hạ cả. Có ngờ đâu rằng Nhương Hầu phụng mệnh vua Tần[16], đem binh lại đóng đầy trong thành Mãnh Tái mà nhà vua phải trốn ra khỏi thành đó*[17].

Tương Vương nghe xong, mặt tái mét, toàn thân run rẩy, rồi cầm viên ngọc khuê trao cho Trang Tân, phong Trang Tân làm Dương Lăng Quân, và cho hưởng đất Hoài Bắc[18].

7. DOẠ CẮT ĐẤT ĐỂ ĐƯỢC GIÚP ĐỠ
(Trường Sa chi nạn)

Trong vụ chiến tranh ở Trường Sa[19], thái tử Hoành[20] của Sở làm con tin ở Tề. Tới khi vua Sở mất, Tiết Công cho thái tử về Sở, rồi nhân đó cùng với quân của Hàn, Nguỵ theo thái tử để tấn công phía đông của Sở. Thái tử sợ. Chiêu Cái bảo thái tử:

- Bất nhược sai Khuất Thự đem tặng Tề miền Đông mới chiếm được[21], làm cho Tần náo động; Tần sợ Tề chiếm miền Đông, tất bảo (các nước khác trong) thiên hạ lại cứu nước ta.

Thái tử đáp:

- Phải.

Rồi sai Khuất Thự đem miền đông mới chiếm được giảng hoà với Tề. Vua Tần hay tin đó, đâm sợ, sai Tân Nhưng bảo Sở rằng:

- Đừng cho Tề miền Đông, tôi sẽ đem quân giúp Sở.

8. THUỐC BẤT TỬ
(Hữu hiến bất tử chi dược)

Có người dâng thuốc bất tử lên vua Kinh[22]. Viên thị thần đem thuốc vô cung[23]. Người lính (thị vệ) cầm cung tên hỏi:

- Uống được không?

Đáp:

- Được!

Rồi người lính giật lấy mà uống.

Vua Kinh giận, sai giết người lính đó.

Người lính cậy người tâu với vua:

- Tôi hỏi viên thị thần, viên này đáp uống được, cho nên tôi mới uống. Như vậy là tôi không có tôi mà tội ở viên thị thần. Vả lại người khách nào đó dâng thuốc bất tử, tôi uống vào mà bị vua giết thì thuốc đó là thuốc tử. Vua giết một bề tôi vô tội mà lại tỏ rằng kẻ dâng thuốc đã gạt vua.

Vua bèn tha, không giết.

10. CHIM KHÔNG BỊ TÊN CŨNG RỚT
(Thiên hạ hợp tung)

Các nước trong thiên hạ hợp tung (để cự Tần), Triệu sai Nguỵ Gia lại yết kiến Xuân Thân Quân ở Sở, hỏi:

- Ông có một tướng quân nào không?

Đáp:

- Có! Tôi định phái Lâm Vũ Quân[24] làm tướng.

Nguỵ Gia nói:

- Tôi hồi nhỏ ham bắn, xin đem việc bắn làm tỉ dụ, được chăng?

Xuân Thân Quân đáp:

- Được.

Gia kể:

- Một hôm, Cánh Luy cùng với vua Nguỵ ngồi ở dưới một cái đài cao, ngửa mặt nhìn chim bay. Cánh Luy tâu với vua Nguỵ: “Tôi xin không dùng tên mà hạ được con chim cho nhà vua coi”. Vua bảo: “Bắn tài được đến vậy ư?”. Cánh Luy đáp: “Thưa được”. Một lát sau, có một con chim nhạn từ phương đông bay lại, Cánh Luy dùng cung không tên mà hạ được. Vua Nguỵ khen: “Bắn tài được như vậy ư?”. Cánh Luy đáp: “Con nhạn đó vốn có bệnh sẵn”. Vua hỏi: “Làm sao biết được?”. Đáp: “Nó bay chậm mà tiếng kêu bi thảm. Bay chậm là vì bị thương, tiếng kêu bi thảm là vì đã lạc bầy từ lâu. Viết thương chưa lành mà lòng sợ hãi chưa hết; nghe tiếng dây cung bật, hoảng sợ vội bay cao, vết thương vỡ ra, nó phải rớt xuống”. Nay Lâm Vũ Quân từng bị Tần đánh bại, (vốn còn sợ Tần), không thể dùng làm tướng cự Tần được.

11. KẺ SĨ KHÔNG GẶP NGƯỜI BIẾT MÌNH
(Hãn Minh kiến Xuân Thân Quân)

Hãn Minh muốn yết kiến Xuân Thân Quân, đợi[25] ba tháng mới được tiếp. Đàm đạo xong, Xuân Thân Quân thích lắm. Hãn Minh muốn bàn thêm, Xuân Thân Quân bảo:

- Tôi đã hiểu tiên sinh rồi, xin tiên sinh nghỉ ngơi đã!

Hãn Minh buồn rầu[26], đáp:

- Minh tôi muốn hỏi ngài một câu, ngài có vẻ như cố nài; tôi không biết ngài với ông Nghiêu, ai thánh triết hơn.

Xuân Thân Quân bảo:

- Tiên sinh nói quá, làm sao tôi dám ví với ông Nghiêu được!

- Thế thì ngài xét tôi với ông Thuấn, ai hơn?

- Tiên sinh tức là ông Thuấn rồi!

- Không phải? Tôi xin được giảng hết lời: ngài thực không hiền bằng ông Nghiêu, tôi cũng không bằng ông Thuấn. Hiền như ông Thuấn mà thờ bậc thánh như ông Nghiêu, còn phải ba năm mới biết nhau được; nay ngài chỉ trong một lúc mà biết tôi rồi thì ngài quả là thánh hơn ông Nghiêu mà tôi cũng hiền hơn ông Thuấn rồi.

Xuân Thân Quân đáp:

- Hay!

Rồi sai thư lại ghi tên Hãn Minh vào sổ tân khách cứ năm ngày được vô yết kiến một lần.

Hãn Minh lại bảo:

- Ngài có biết chuyện con ngựa ký không? Khi nó tới tuổi già, người ta bắt nó kéo xe muối lên núi Thái Hàng, móng nó duỗi ra[27], đầu gối nó khuỵ lại[28], đuôi nó, chân nó mồ hôi đầm đìa, rỏ giọt xuống đất trộn với mồ hôi trắng[29]. Giữa dốc nó thụt lui[30], (rán) đội càn xe lên nhưng không leo lên được nữa. Bá Nhạc[31] gặp nó, xuống xe, vịn (ôm) đầu mà khóc, cởi áo mà phủ cho nó; nó cúi đầu xuống mà phì hơi, ngững cổ lên mà hí, tiếng hí động tới trời, trong trẻo như tiếng kim tiếng thạch. Tại sao vậy? Là vì Bá Nhạc hiểu nó.

Tôi là kẻ bất tiếu, khốn đốn ở chỗ châu quận, sống trong hang cùng ngỏ hẻm, bị vùi trong chỗ dơ dáy bỉ lậu đã từ lâu. Hôm nay mới được riêng ngài vô tình rửa sạch cho, đề bạt cho. Ngài có cho tôi được lớn tiếng gào lên cái nỗi khuất nhục của tôi ở Lương không?

12. XUÂN THÂN QUÂN MUỐN LÀM CHA VUA
(Sở Khảo Liệt Vương vô tử)

Vua Sở là Khảo Liệt Vương[32] không có con. Xuân Thân Quân lấy làm lo, kiếm những phụ nữ có tướng mắn đẻ dâng, đã dùng nhiều người mà vẫn không có con. Người nước Triệu là Lý Viên muốn dâng em gái cho vua Sở, ngờ rằng tướng em không mắn con, sợ rồi cũng không được vua yêu, bèn xin được làm người hầu hạ trong Xuân Thân Quân. Rồi một hôm Lý Viên xin về nhà, quá hẹn mới trở lại, vô trình bẩm với Xuân Thân Quân. Xuân Thân Quân hỏi nguyên do trở lại trễ; đáp:

- Vua Tề sai sứ giả lại xin cưới em gái tôi, tôi đãi tiệc xứ giả nên trễ hẹn.

Xuân Thân Quân hỏi:

- Đã gả chưa?

- Thưa chưa.

- Cho tôi gặp mặt được không?

- Thưa được.

Lý Viên bèn đem em gái dâng Xuân Thân Quân, nàng được Xuân Thân Quân sủng ái liền.

Viên biết rằng em gái đã có mang, bày mưu cho nàng thừa dịp, nói với Xuân Thân Quân:

- Vua Sở quí ông hơn là anh em ruột, nay ông làm tướng quốc nước Sở đã trên hai chục năm, mà vua không có con, sau này vua trăm tuổi rồi, tất lập anh hoặc em. Vua sau lên ngôi rồi lại yêu quí người thân cận của mình, thì ông giữ sao được mãi sự sủng ái nữa? Chẳng những vậy, ông giữ chức đã lâu năm, chắc nhiều lần đã thất lễ với anh, em nhà vua, mấy người này mà được lên ngôi thì tất có hoạ cho ông. Làm sao còn giữ được tướng ấn cùng đất được phong ở Giang Đông nữa? Nay thiếp tự biết mình đã có mang mà người khác thì không ai biết. Thiếp hầu hạ ông chưa bao lâu mà được ông yêu quí, nay ông dâng thiếp cho vua Sở thì vua Sở tất sủng ái thiếp. Nhờ trời mà thiếp có con trai thì con ông sẽ làm vua, ông có thể chiếm hết đất Sở, so với cái hoạ có thể bị tội thình lình thì đằng nào hơn?

Xuân Thân Quân cho rằng kế đó rất hay, bèn cho em gái Lý Viên ra ở một nhà riêng, rồi nói chuyện với vua Sở. Vua Sở vời nàng vô cung, yêu quí nàng, nàng sinh con trai, lập làm thái tử, lập em gái Lý Viên làm hoàng hậu. Vua Sở yêu cả Lý Viên và Lý Viên được cầm quyền.

Khi em gái được làm hoàng hậu, cháu được lập làm thái tử, Lý Viên sợ Xuân Thân Quân tiết lậu việc đó mà càng quá kiêu ngạo, mới lén nuôi bọn thích khách, muốn giết Xuân Thân Quân để trừ cái hoạ miệng. Chuyện đó nước Sở đã có một số người hay.

Xuân Thân Quân làm tướng quốc nước Sở được hai mươi lăm năm, vua Khảo Liệt Vương đau, Chu Anh bảo Xuân Thân Quân:

- Đời có cái phước bất kỳ, lại có cái hoạ bất kỳ. Nay ông ở vào cái đời biến đổi bất thường, lại thờ một ông vua phản phúc bất định, thì sao lại chẳng dùng con người cuồng vọng?

Xuân Thân Quân thân hỏi:

- Thế nào là cái phước bất kỳ?

Đáp:

- Ông làm tướng quốc nước Sở đã trên hai chục năm, danh tuy là tướng quốc mà sự thực là Sở Vương. Năm người con của ông đều làm tướng quốc các nước chư hầu. Nay vua bị bệnh nặng, có thể mất trong sớm tối, thái tử thì suy nhược, đau không dậy được, mà ông làm tướng quốc cho vua còn nhỏ tuổi, nhân cơ hội này mà làm nhiếp chính, trị nước như Y Doãn, Chu Công thời xưa, đợi khi vua lớn lên, giao trả lại chính quyền; nếu không vậy thì quay mặt về phía nam mà xưng vương, rồi chiếm cả nước Sở; như vậy là cái phước bất kỳ đấy.

Xuân Thân Quân lại hỏi:

- Thế nào là cái hoạ bất kỳ?

- Lý Viên không trị nước[33], nhưng là cậu của vua, không làm tướng quân, nhưng lén nuôi thích khách đã từ lâu. Vua Sở mà băng thì Lý Viên tất vô cung trước cả, chiếm địa vị then chốt, giả mạo vương lệnh mà chuyên quyền để giết ông mà diệt cái hoạ miệng; như vậy là cái hoạ bất kỳ đấy.

Xuân Thân Quân nói:

- Còn thế nào là người cuồng vọng?

- Trước hết ông cho tôi làm chức lang trung, khi nào vua băng, Lý Viên vô cùng trước, tôi xin vì ông mà đâm bụng hắn để kết liễu đời hắn; như vậy là tôi là con người cuồng vọng đấy.

Xuân Thân Quân bảo:

- Tiên sinh gác chuyện đó lại, đừng bàn tới nữa. Lý Viên là người nhu nhược, tôi với ông ta lại rất hoà hiếu với nhau, đâu tới nỗi như vậy?

Chu Anh hoảng, bèn trốn mất.

Mười bảy ngày sau, Sở Khảo Vương băng, quả nhiên Lý Viên vô cung trước cả, cho mai phục thích khách ở trong cửa Cức Môn. Xuân Thân Vương vô sau, tới cửa Cức Môn, bị thích khách của Viên đâm chết, chặt đầu liệng ra ngoài cửa Cức Môn, rồi sai bộ hạ giết hết gia thuộc Xuân Thân Quân, mà người con của em gái Lý Viên – nàng trước kia được Xuân Thân Quân yêu, có mang, rồi Xuân Thân Quân đem dâng cho vua[34] – thì được lập là Sở U Vương[35].

Năm đó Tần Thuỷ Hoàng đã lên ngôi được chín năm, Lao Mục cũng làm loạn ở Tần, việc vỡ lở, bị tru di tam tọc, và vì vậy Lữ Bất Vi bị phế làm thường dân.




--------------
[1] Trong bộ Tuân Tử chép là Sở Trang Vương, có lẽ sai. Vì Trang Tân là hậu duệ của Trang Vương. Việc này xảy ra trong đời Chu Noản Vương. [Sở Tương Vương tức Sở Khoảnh Tương Vương (298 tr.T.L-263 tr.T.L. (Goldfish)].

[2] Châu, Hạ là những nơi thuộc Hồ Bắc; Yên Lăng nay thuộc Hồ Nam, còn Thọ Lăng thì không biết ở đâu. Bốn nơi đó là đất phong cho bốn sủng thần của Sở Tương Vương.

[3] Dĩnh đô: chỉ kinh đô nước Sở.

[4] Nguyên văn: có chữ yểm là che. Crump dịch là chống giữ.

[5] Cổ văn quan chỉ trích từ đây.

[6] Margoulies dịch từ đây.

[7] Mỗi nhẫn tám thước.

[8] Chữ cúi, ngửa ở đây có nghĩa là ở dưới thấp, ở trên cao.

[9] Hộc là một loài chim giống con nhạn.

[10] Một loại cỏ thơm.

[11] Để kéo cây tên về, khi đã bắn xong.

[12] Không rõ ai.

[13] Có sách giải thích là gò núi.

[14] Tử Phát: là đại phu nước Sở. Trong Tả truyện và Sử ký, gọi là công tử Khí Tật.

[15] Có lẽ là Sở Linh Vương thì phải hơn.

[16] Tức Tần Chiêu Vương.

[17] Cổ văn quan chỉ và Margoulies trích tới đây.

[18] Nguyên văn: dữ Hoài Bắc chi địa dã. Diệp Ngọc Lân dịch là: dùng kế hoạch của Trang Tân mà khôi phục được miền Hoài Bắc.

[19] Năm thứ chín đời Tần Chiêu Vương, Tần đánh Sở, chiếm được tám thành của Sở.

[20] Thái tử Hoành lên ngôi, hiệu là Khoảnh Tương Vương.

[21] Chúng tôi theo bản Thương Vụ ấn quán: dĩ tân đông quốc vi hoà ư Tề. Có học giả cho rằng chữ tân đó dư.

[22] Nước Sở có tên là Kinh. Vua Kinh đây tức là vua Sở Khoảnh Tương Vương.

[23] Crump dịch là: dẫn người đó vô cung. Bài này có chép trong thiên Thuyết lâm thượng bộ Hàn Phi Tử.

[24] Lâm Vũ Quân: là tướng nước Sở, thường bàn binh pháp với triết gia Tuân Tử.

[25] Có sách chép là vấn 問: hỏi, tức xin đi vô yết kiến; có sách chép là gián 間: cách, nghĩa là không được tiếp. Hãn Minh là môn khách của Xuân Thân Quân.

[26] Các sách đều chép là xúc 憱, nghĩa là buồn rầu, bực tức (theo Từ Hải), Hứa Khiếu Thiên giảng là kinh hoảng; Ngô Sư Đạo bảo: chính chữ 歜, cũng đọc là xúc, nghĩa là bực tức.

[27] Nguyên văn là thân 申. Crump dịch ý là: suy nhược.

[28] Nguyên văn là thân 折. Crump dịch ý là: run rẩy.

[29] Nguyên văn: bạch hãn giao lưu 白汗交流. Chúng tôi không tra được ra bạch hãn nghĩa là gì. Crump dịch là: trộn với mồ hôi ngựa chảy từ trên vai xuống. [Có người giảng bạch hãn là mồ hôi không phải do (nắng) nóng mà có: bất duyên thử nhi hãn dã 不緣暑而汗也. (theo http://www.yasue.cc/chin_gwok_chak218.html). (Goldfish)].

[30] Nguyên văn: trung phản thiên diên 中阪迁延: giữa gò nó trùn lại. Crump dịch là: giữa đường nó nghỉ.

[31] Bá Nhạc: họ Tôn, tên Dương, người thời Tần Mục Công, có tài coi tướng ngựa.

[32] Sở Khảo Liệt Vương (262 tr.T.L-238 tr.T.L). (Goldfish).

[33] Ý nói không làm tướng quốc.

[34] Hai hàng chúng tôi đặt trong dấu gạch này, rõ ràng là thừa, làm cho văn rườm ra và hoá non.

[35] Sở U Vương (237 tr.T.L-228 tr.T.L), tên Hãn.
CHƯƠNG V
TRIỆU SÁCH

Tổ tiên của Triệu họ Doanh, trước làm quan nước Tấn.

Nhà Chu, Uy Liệt Vương (425-401) phong cho tước hầu[1], từ đó Triệu thành một nước chư hầu, đô ở Hàm Đan (nay thuộc tỉnh Trực Lệ), tới đời Triệu Tương Tử dời đô qua Tấn Dương (Sơn Tây ngày nay). Truyền ngôi được 182 năm rồi bị Tần diệt. Thời Chiến Quốc cũng là một trong thất hùng.

Đất của Triệu nay nằm trên các tỉnh Hà Bắc, Sơn Tây và Hà Nam (phía bắc sông Hoàng Hà).
*
* *
TRIỆU I

2. TRÍ BÁ QUÁ THAM MÀ BỊ DIỆT
(Trí Bá suất Triệu, Hàn, Nguỵ)

Trí Bá thống lĩnh quân của ba nước Triệu, Hàn, Nguỵ, đánh hai họ Phạm và Trung Hàn và diệt được; vài năm sau, sai người qua Hàn đòi đất. Hàn Khang Tử định không cho, Đoàn Qui can:

- Không nên vậy. Trí Bá là con người ham lợi và hung bạo, hắn sai người lại đòi đất mà không cho thì hắn tất dấy binh đánh Hàn. Nhà vua nên cho hắn để hắn quen mùi, lại đòi đất của nước khác, nước khác không chịu, hắn tất đem binh đánh, như vậy Hàn tránh được hoạ mà đợi xem sự thể chuyển biến ra sao.

Khang Tử đáp:

- Hay!

Rồi sai sứ giả đem một ấp một vạn nóc nhà dâng Trí Bá. Trí Bá mừng, lại sai người đòi đất của Nguỵ. Nguỵ Tuyên Tử định không cho. Triệu Gia can:

- Hắn đòi đất của Hàn, Hàn cho; nay đòi đất của Ngụ, Nguỵ không cho thì Nguỵ ở trong lòng tự thị mình mạnh, mà ở ngoài là chọc giận Trí Bá; như vậy Trí Bá tất đem quân đánh Nguỵ! Không bằng cho hắn đi.

Tuyên Tử đáp:

- Phải.

Rồi sai người đem một ấp một vạn nhóc nhà cho Trí Bá. Trí Bá mừng, lại sai người qua Triệu; đòi đất Thái và Cao Lăng[2]. Triệu Tương Tử[3] không cho, Trí Bá bèn liên minh với Hàn, Nguỵ định đánh Triệu.

Triệu Tương Tử vời Trường Mạnh Đàm vô cho hay và bảo:

- Trí Bá là con người lá mặt lá trái, ba lần sai sứ giả đi đòi đất, Hàn, Nguỵ cho mà quả nhân không cho, thế nào hắn cũng đem binh qua đánh Triệu, chúng ta nên đề phòng bằng cách nào bây giờ?

Trương Mạnh Đàm đáp:

- Xưa Đổng Ất An Vu[4] là bề tôi của Giản Chúa[5]. Ông ta cai trị đất Tấn Dương, sau Doãn Trạch[6] theo chính sách của ông ta, tới nay đất đó còn giữ được chính giáo cũ, nhà vua nên thiên đô lại Tấn Dương.

Vua đáp:

- Phải.

Rồi sai Diên Lăng Vương thống lĩnh chiến xa và kị binh, tới Tấn Dương trước, còn mình theo sau. Tới nơi xem xét ngay thành quách, kho, phủ cùng lẫm lúa, rồi vời Trương Mạnh Đàm vô hỏi:

- Thành quách kiên cố, kho và phủ đủ dùng, lẫm đầy lúa, nhưng không có tên, làm sao bây giờ?

Trương Mạnh Đàm đáp:

- Tôi nghe nói Đổng Tử khi xây dựng Tấn Dương, tường các cung và dinh thự đều làm bằng các loại cây cỏ địch, cảo, hộ, sở[7], và đều cao trên một trượng. Nhà vua nên phá ra mà dùng.

Vua bèn đem những thứ cây cỏ đó ra dùng thử thì thấy dẫu đến tên bằng loại trúc quần lộ[8] cũng không cứng hơn được.

Lại bảo:

- Tên như vậy là có đủ rồi, nhưng đồng ít quá, làm sao bây giờ?

Trương mạnh Đàm đáp:

- Tôi nghe nói khi xây thành Tấn Dương, cột các phòng trong cung đều bằng đồng đã luyện, xin nhà vua phá ra mà dùng thì sẽ có dư đồng.

Vua đáp:

- Phải.

Thế là hiệu lệnh đã ban, các khí cụ phòng bị đã đủ. Binh ba nước tới thành Tấn Dương, quân Triệu nghênh chiến, ba tháng mà địch không phá được thành. Địch nghỉ tấn công mà bao vây, đào sông Tấn tháo nước vô thành. Vây tới ba năm. Trong thành dân phải làm ổ trên cây mà ở, treo nồi lên mà đun nấu, thức ăn gần hết, quân lính đau ốm.

Tương Tử bảo Trương Mạnh Đàm:

- Lương thực can, sức chống cự hết, sĩ và đại phu đau. Tôi không còn giữ thành được nữa, muốn xin hàng đây, ông nghĩ sao?

Trương Mạnh Đàm đáp:

- Tôi nghe nói: nước sắp diệt vong mà không bảo toàn được, thế muốn nguy mà không cứu được thì còn quí kẻ tài trí làm gì?[9] Nhà vua nên bỏ cái kế đó đi[10], đừng nói nữa. Tôi xin đi yết kiến vua Hàn và vua Nguỵ.

Tương Tử đáp:

- Vâng.

Trương Mạnh Đàm bèn lén yết kiến vua Hàn và vua Nguỵ, bảo:

- Tôi nghe nói môi hở thì răng lạnh. Nay Trí Bá đem quân của hai nước (Hàn, Nguỵ) mà đánh Triệu. Triệu sắp mất rồi. Triệu mất thì sẽ đến phiên nước của hai vua đấy.

Vua Hàn, vua Nguỵ đáp:

- Chúng tôi biết như vậy, Trí Bá là con người hung bạo, ít lòng nhân ái, nếu mưu kế của chúng tôi chưa kịp thực hành mà hắn biết được thì hoạ lớn cho chúng tôi. Tính sao bây giờ?

Trương Mạnh Đàm đáp:

- Mưu kế từ miệng hai vua phát ra, đi thẳng vào tai tôi, không ai biết được.

Vua Hàn và vua Nguỵ cùng với Trương Mạnh Đàm lén liên kết quân ba nước, hẹn nhau một ngày nào đó, đương đêm sẽ cho quân tới thành Tấn Dương. Trương Mạnh Đàm về báo với Tương Tử. Tương Tử vái Trương Mạnh Đàm hai vái. Rồi Trương Mạnh Đàm triều kiến Trí Bá, khi ra gặp Trí Quá ở ngoài viên môn[11]. Trí Quá vô yết kiến Trí Bá, bảo:

- E rằng hai vua Hàn, Nguỵ sẽ phản loạn.

Trí Bá hỏi:

- Sao biết?

Tôi gặp Trương Mạn Đàm ở viên môn, thấy hắn ý chí tự đắc, hành vi ngạo mạn.

- Không phải. Ta đã kết ước với hai vua Hàn, Nguỵ rồi; hễ phá Triệu xong thì chia đất làm ba phần đều nhau, ta thân thiết với hai vua đó, họ tất không lừa ta. Thôi đừng nói nữa.

Trí Quá ra, qua yết kiến hai vua Hàn, Nguỵ, rồi lại vô nói với Trí Bá:

- Hai vua Hàn, Nguỵ sắc diện và tâm y đều biến động, thế nào cũng phản bội nhà vua, nên sai người giết đi.

- Binh đóng ở Tấn Dương này đã ba năm. Chỉ trong sớm tối là phá được[12] mà hưởng lợi, lúc này mà còn đổi tâm là việc không thể có[13]. Thôi, ông đừng nói thêm một lời nào nữa.

- Nếu không giết họ thì nên thân thiện với họ.

- Thân thiện làm sao?

- Mưu thần của Nguỵ Hàn Tử là Triệu Gia, mưu thần của Khang Tử là Đoàn Qui, hai người đó đều có thể làm thay đổi mưu kế của chủ. Nhà vua kết ước với hai vua, hễ phá Triệu rồi thì nhà vua phong cho hai mưu thần đó mỗi người một huyện một vạn nhà. Như vậy lòng hai vua kia sẽ không thay đổi mà dục vọng của nhà vua sẽ đạt.

Trí Bá bảo:

- Phá Triệu rồi chia đất làm ba phần đều nhau, mà ta phải phong cho hai người đó mỗi người một huyện một vạn nhà, phần của ta nhỏ quá. Không được.

Trí Quá thấy vua không dùng mình, không nghe lời mình, ra về, đổi thành họ Phụ, rồi đi đâu mất biệt.

Trương Mạnh Đàm hay tin, vô yết kiến Trương Tử, bảo:

- Tôi gặp Trí Quá ở ngoài viên môn, hắn có vẻ nghi tôi, hắn vô yết kiến Trí Bá, rồi trở ra đổi tên họ. Tối nay mà không tấn công thì lỡ mất cơ hội.

Trương Tử đáp:

- Vâng.

Rồi sai Trương Mạnh Đàm yết kiến hai vua Hàn, Nguỵ, hẹn nhau đêm đó giết tên quan coi đập[14], mà cho nước ùa vào chỗ quân Trí Bá đóng. Quân Trí Bá lo việc cứu thuỷ mà hỗn loạn; Hàn, Nguỵ hai bên đánh vào hông, còn tướng sĩ của Tương Tử đánh phía trước, phá tan quân Trí Bá, cầm tù Trí Bá.

Trí Bá chết rồi, mất nước, đất bị chia[15], thiên hạ cười là tham lam vô độ. Vì không nghe lời Trí Quá nên mới bị diệt vong. Họ Trí bị diệt hết, duy có họ Phụ là còn.


-----------------
[1] Uy Liệt Vương (sách in sai thành Ung Liệt Vương): Năm 403, Chu Uy Liệt Vương phong hầu cho ba đại phu của nước Tấn là Triệu Tịch (tức Triệu Liệt hầu), Nguỵ Tư, Hàn Kiền.

[2] Hai đất đó, đều của Triệu nay thuộc tỉnh Sơn Tây.

[3] Triệu Tương Tử: tức Triệu Vô Tuất. (Goldfish).

[4] Đổng Ất An Vu : cũng gọi là Đỗng An Vu là gia thần của Triệu Giản Tử. Trong sách Hàn Phi, gọi là Đổng Vu.

[5] Tức Triệu Giản Tử, cha của Tương Tử.

[6] Doãn Trạch: cũng là gia thần của Triệu Giản Tử. Trong sách Quốc ngữ gọi là Doãn Đạc

[7] Những cây cỏ đó đều dùng làm tên.

[8] Một loại trúc rất tốt.

[9] Ý nói như vậy thì kẻ tài trí hoá vô dụng mất.

[10] Tức ý định đầu hàng.

[11] Viên môn là cửa ngoài các nha thự.

[12] Đến đây thì Trí Bá chưa hạ được thành Tấn Dương, mà đến cuối bài cũng không thấy nói thành Tấn Dương bị hạ, nhưng trong bài Tần I 5 (Trương Nghi thuyết Tần Huệ Vương) lại bảo: “Trí Bá thống suất ba nước, đánh Triệu Tương Tử ở Tấn Dương, khơi sông cho nước chảy vào Tấn Dương, ba năm, thành bị hạ”. (Goldfish).

[13] Ý nói vua Hàn và vua Nguỵ dại gì mà phản Trí Bá lúc này.

[14] Cái đập này ngăn nước sông Tấn để nước chảy vô thành Tấn Dương.

[15] Năm 453 tr.T.L, ba họ Triệu, Hàn, Ngụy chia nhau vùng đất của họ Trí. Nhà Tấn tuy vẫn còn nhưng không có quyền lực gì đối với ba nhà kia. Năm 403 tr.T.L, vua Chu Uy Liệt vương chính thức công nhận sự tồn tại của nước Triệu, Hàn, Ngụy bên cạnh nước Tấn như là các nước chư hầu của nhà Chu. Đến năm 376 tr.T.L, Triệu, Hàn, Ngụy lấy nốt phần đất còn lại của Tấn, nhà Tấn chính thức bị diệt. Do ba nước hình thành từ nước Tấn nên sử vẫn gọi chung Triệu, Hàn, Ngụy là Tam Tấn (theo http://vi.wikipedia.org/wiki/Tri%E1%...0%E1%BB%9Bc%29).
4. TRUYỆN DỰ NHƯỢNG
(Tấn Tất Dương chi tôn)

Cháu Tấn Tất Dương tên là Dự Nhương, mới đầu thờ hai họ Phạm và Trung Hàng, không được như ý, mới qua thờ Trí Bá, được Trí Bá rất quí. Đến khi Tam Tấn phân chia đất của họ Trí, Triệu Tương Tử rất oán Trí Bá, dùng đầu lâu của Trí Bá làm tô đựng rượu. Dự Nhượng trốn vào trong núi, bảo:

- Than ôi! “Kẻ sĩ hy sinh vì tri kỷ, đàn bà tô điểm vì người yêu”. Thế nào ta cũng báo thù cho họ Trí.

Rồi đổi họ, giả dạng làm người bị tội, vô cung quét dọn[1] cầu tiêu để có cơ hội đâm Tương Tử. Tương Tử vô cầu tiêu, thấy tâm xao động, bắt người quét dọn cầu tiêu ra tra hỏi thì là Dự Nhượng. Dự Nhượng đã mài nhọn cái “thiên”[2], đáp: “Muốn báo thù Trí Bá”.

Kẻ tả hữu muốn giết Dự Nhượng, Triệu Tương Tử can:

- Hắn là nghĩa sĩ, ta nên cẩn thận tránh hắn thôi. Vả lại Trí Bá chết, không có kẻ nối dõi, bề tôi thay con cháu của chủ mà báo thù cho chủ là người hiền trong thiên hạ.

Rồi tha Dự Nhượng.

Dự Nhượng lại sơn mình thành người cùi, cạo hết râu và lông mày, tự huỷ hoại thân thể để biến đổi dung mạo, giả trang làm kẻ ăn mày đi ăn xin. Vợ nhân không ra, bảo:

- Dong mạo thì khác chồng mình mà sao giọng nói thì rất giống?

Dự Nhượng nghe vậy bèn nuốt than để đổi giọng cho hoá khàn khàn. Một người bạn bảo Dự Nhượng:

- Việc anh làm đã rất khó khăn mà không công hiệu. Bảo rằng anh có chí thì đúng, còn bảo anh có trí thì không. Dùng tài của mình mà thờ Tương Tử thì Tương Tử tất thân tín anh, được thân tín rồi, mới thi hành việc anh muốn làm thì việc rất dễ mà công tất thành.

Dự Nhượng cười, đáp:

- Như vậy thì là vì báo thù cho người tri kỷ trước mà hại người tri kỷ sau, vì vua cũ mà giết vua mới, làm loạn cái nghĩa vua tôi đến vậy là cùng cực. Chí hướng của tôi là muốn làm sáng cái nghĩa vụ vua tôi, chứ không phải là muốn lựa việc dễ mà làm. Vả lại đã làm lễ tương kiến[3] mà thờ người ta mà lại còn muốn giết người ta thì là ăn ở hai lòng với người ta. Tôi sở dĩ lựa việc khó mà làm là cũng muốn cho những kẻ bề tôi trong thiên hạ sau này mà có ăn ở hai lòng với vua thì phải xấu hổ.

Ít hôm sau, Tương Tử có việc phải đi tuần thú, Dự Nhượng nép ở dưới một chiếc cầu mà Tương Tử sẽ qua. Tương Tử tới cầu thì con ngựa bỗng hoảng, Tương Tử bảo:

- Tất có Dự Nhượng núp đâu đây.

Sai người tra vấn[4], quả nhiên là Dự Nhượng. Tương Tử bèn vạch mặt Dự Nhượng, kể tội:

- Ngươi từng thờ hai họ Phạm và Trung Hàng đấy chứ? Trí Bá diệt họ Phạm và Trung Hàng mà ngươi không báo thù vua, lại làm lễ tương kiến thờ Trí Bá. Trí Bá chết, sao ngươi riêng quyết tâm phục thù cho Trí Bá như vậy?

Dự Nhượng đáp:

- Thôi thờ hai họ Phạm và Trung Hàng, Phạm và Trung Hàng coi tôi như mọi người thường, cho nên tôi lấy tư cách của mọi người thường mà đáp lại. Trí Bá coi tôi như bậc quốc sĩ, cho nên tôi lấy tư cách quốc sĩ đáp lại.

Tương Tử, bùi ngùi, sa lệ, than:

- Ôi! Ông Dự! Ông vì Trí Bá mà hành động như vậy cũng là đủ rồi! Mà tôi tha ông một lần như vậy cũng là đủ rồi! Ông tự xử lấy đi[5], tôi không tha ông nữa đâu.

Rồi sai lính vây Dự Nhượng. Dự Nhượng đáp:

- Tôi nghe nói bậc minh quân không che lấp lòng trung nghĩa của người, mà bực trung thần không tiếc chết, miễn là thành danh. Ngài trước đã khoan dung phóng thích tôi, trong thiên hạ không ai không khen ngài hiền; việc hôm nay, tôi đành chịu tội chết, chỉ xin ngài cho tôi mượn chiếc áo của ngài để tôi đâm vào, như vậy chết sẽ không hận. Tôi chỉ xin bày tỏ nguyện vọng như vậy, còn thì tuỳ lượng ngài.

Tương Tử trọng nghĩa khí đó, sai người cầm áo của mình đưa cho Dự Nhượng. Dự Nhượng tuốt gươm ra, nhảy lên ba lần kêu trời chứng giám, vừa đâm áo vừa nói:

- Ha, có thể báo thù Trí Bá được rồi.

Rồi đâm cổ tự tử. Hôm mất, kẻ sĩ nước Triệu không ai là không nhỏ lệ.

8. TÔ TẦN THUYẾT LÍ ĐOÁI
(Tô Tần thuế Lí Đoái)

Tô Tần thuyết Lí Đoái rằng:

- Tô Tần ở Lạc Dương (…)[6], nhà nghèo, cha mẹ già, không có xe tồi ngựa hèn, không có xe bánh bằng gỗ dâu, tráp đương bằng sậy, nên đùi quấn xà cạp, chân đi dép cỏ, đội sách, đeo đãy, giẫm cát, dầm sương, qua sông Chương, chân thành chai, trăm ngày mới ngừng[7], tới cửa ngoài, xin được yết kiến ngài mà đàm đạo việc thiên hạ.

Lí Đái đáp:

- Tiên sinh đem lời ma quỉ kể với tôi thì được, còn nhân sự thì Đáo tôi biết hết cả rồi.

Tô Tần đáp:

Tôi vốn có ý đem lời ma quỉ kể với ngài đây, không phải kể những lời của người sống đâu.

Lý Đoái bèn cho yết kiến.

Tô Tần bảo:

- Ngày tôi lại đây, trời đã tối mà còn ở ngoài cửa thành, kiếm một chiếc chiếu để nằm cũng không có, phải vô tá túc một trại ruộng. Bên cạnh trại có một bụi cây lớn. Nửa đêm, một hình bằng đất cải nhau với một hình bằng gỗ, bảo: “Mày không bằng tao. Tao là đất, dù có gặp gió lớn, mưa dầm, tao có bị rã thì cũng trở về với đất. Còn mày, nếu không phải là rễ thì là cành cây, mày mà gặp gió lớn mưa dầm thì trôi vào sông Chương rồi phiêu bạt qua đông, tới bể, không biết ngừng ở đâu”.

Tôi trộm nghĩ rằng hình bằng đất thắng hình bằng gỗ. Nay ngài giết chúa và diệt dòng dõi của chúa[8], địa vị của người trong thiên hạ nguy như trứng để đầu đẳng[9], ngài nghe kế của tôi thì sống, không nghe thì chết.

Lí Đoái đáp:

- Xin tiên sinh về nghỉ, ngày mai lại vô yết kiến Đoái tôi.

Tô Tần ra. Kẻ tả hữu của Lí Đoái bảo Lí Đoái:

- Tôi trộm nghĩ, chúa công và ông Tô bàn bạc với nhau thì tài biện bác của ông Tô hơn chúa công. Chúa công có chịu theo kế của ông Tô không?

Lí Đoái đáp:

- Không.

- Chúa công đã không chịu theo thì xin bịt kỹ hai lỗ tai lại, đừng nghe ông Tô nói nữa.

Hôm sau Tô Tần lại vô yết kiến, đàm đạo suốt ngày rồi đi. Kẻ tả hữu của Lí Đoái tiễn Tô Tần ra cổng. Tô Tần hỏi người đó:

- Hôm qua lời bàn bạc của tôi thô bạo mà chúa công của ông động lòng; hôm nay lời của tôi tinh tế mà chúa công của ông không động lòng là tại sao?

- Là vì kế hoạch của tiên sinh lớn mà mục đích của tiên sinh lại cao, chúa công tôi không dùng được, cho nên tôi xin người bịt hai tai lại, không nghe lời tiên sinh bàn bạc. Nhưng ngày mai, tiên sinh cứ lại, tôi sinh chúa công tôi trọng thưởng tiên sinh.

Hôm sau, Tô Tần lại vô, vỗ tay bàn bạc. Lí Đoái tặng Tô Tần một viên ngọc châu minh nguyệt[10], một viên ngọc Hoà thị[11], một chiếc áo bằng da điêu đen và trăm nén vàng. Tô Tần có số đó chi dùng, mà qua phía tây vô nước Tần.


---------------
[1] Nguyên văn là đồ xí 塗廁. Các nhà nho nước ta thời trước và cả Diệp Ngọc Lân đều giàng là quét, dọn cầu tiêu. Crump dịch là trát cầu tiêu. Chữ đồ nghĩa là bùn, nhớp, tô màu lên vật khác, lấp chỗ hở. Vậy hiểu theo nghĩa nào cũng được.

[2] Nguyên văn là nhẫn kỳ hãn 刃其扞. Hứa Khiếu Thiên giảng nhẫn là chặt, hãn là mũi nhọn của cây thương, (cũng gọi là đạc 鐸, nhưng trong Từ Hải về chữ đạc không thấy ghi nghĩa này). Diệp Ngọc Lân dịch nhẫn kỳ hãn là để lộ binh khí ra (lộ xuất binh khí) thì sai quá. Crump trên đã dịch đồ là trát, nên dịch hãn là cái bay, và nhẫn kỳ hãn là mài nhọn cái bay thành lưỡi dao. Nhưng tra Từ Hải, Từ Nguyên chúng tôi không thấy hãn có nghĩa là cái bay. Chỉ thấy trong Từ Hải có chữ thiên 扦 (rất giống chữ hãn) nghĩa là một vật dải, nhọn hình như lá tre để nạo những vật dơ. Chúng tôi đoán có lẽ là chữ thiên nên dịch: “đã mài nhọn cái thiên”.

[3] Nguyên văn: uỷ chí là giao lễ vật. Hồi xưa khi mới tương kiến, thường có vật tặng nhau; kẻ sĩ muốn xin làm bề tôi một người quyền quí nào cũng mang theo lễ vật.

[4] Nguyên văn là vấn 問. Crump dịch là tìm kiếm.

[5] Nguyên văn: Tử tự vi kế, Crump dịch là: Ông tất phải biết rằng…

[6] Nguyên văn: thừa hiên xa (ngồi xe có hiên, xe của đại phu), chúng tôi ngờ rằng dư. Crump cũng không dịch ba chữ đó. Muốn dịch từng chữ cho đủ thì có thể dịch là: Ở Lạc Dương người ta đi xe sang trọng, mà Tô Tần nhà nghèo…

[7] Nguyên văn: “nhật bách nhi xá”, chúng tôi dịch như vậy không chắc đúng. Crump bỏ không dịch.

[8] Trong bài Tần III 9 (Phạm Tuy dâng thư lên Tần Chiêu Vương), bảo: “Lý Đoái chuyên quyền ở Triệu, bắt vua ăn bớt đi, trăm ngày rồi chết vì đói”. Theo Sử ký của Tư Mã Thiên thì “Lý Đoái cai trị nước Triệu, giam Chủ Phụ ở Sa Khâu được một trăm ngày thì Chủ Phụ chết đói” (http://maxreading.com/sach-hay/su-ky...ruyen-453.html). Còn theo Đông Châu liệt quốc thì vị Chủ Phụ (đời sau gọi là Thái thượng hoàng) đó là Triệu Vũ Vương; ông truyền ngôi cho con là Hà (tức Triệu Huệ Vương, lúc đó tuổi còn nhỏ) và phong Lý Đoái làm thái phó. Lý Đoái làm phản, giam Chủ Phụ ở Sa Khâu hơn một tháng, Chủ Phụ bị đói mà chết. Sau khi chôn cha, Triệu Huệ Vương cử Lý Đoái làm Đại tư khấu. (http://dactrung.net/NoiDung.aspx?m=tr&id=14514). Ở đây bảo Lý Đoái “giết chúa”, ta có thể hiểu Lý Đoái giết Triệu Vũ Vương, nhưng bảo Lý Đoái “diệt dòng dõi chúa” thì tôi không hiểu nổi. Tôi cũng không hiểu tại sao, đoạn dưới, kẻ tả hữu của Lý Đoái lại gọi Lý Đoái là chúa công? (Goldfish).

[9] Dịch đúng nguyên văn: trứng chất đống (thế nào trừng trên ngọn cũng rớt xuống và vỡ tan).

[10] Minh nguyệt: thứ ngọc châu ban đêm chiếu sáng dịu như ánh trăng.

[11] Ngọc Hoà: là thứ ngọc quí ở nước Sở, do người họ Hoà kiếm được, dâng lên Lệ Vương. Một người thợ ngọc bảo Lệ Vương: “Đá đấy, không phải là ngọc”. Lệ Vương nổi giận, sai chặt chân trái của người họ Hoà. Người này lại dâng ngọc cho Vũ Vương, cũng vì lẽ trên, bị chặt trân bên phải nữa. Khi Văn Vương lên ngôi, họ Hoà cầm viên ngọc mà khóc ở chân núi tại Sở, luôn ba ngày ba đêm, tới hết nước mắt rồi ra máu. Văn Vương sai người hỏi duyên cớ; đáp rằng: “Không buồn vì chặt chân, mà buồn vì ngọc quí mà cho là đá, kẻ trong sạch mà cho là nói láo”. Văn Vương cho người coi kỹ lại viên ngọc, quả là quí, bèn gọi viên ngọc đó là viên ngọc Hoà thị (họ Hoà).
Ở trong bài này, không phải là viên ngọc ấy, mà chỉ là một thứ ngọc quí thôi.

TRIỆU II

2. TÔ TẦN THUYẾT TRIỆU TÚC HẦU[1] THEO HỢP TUNG
(Tô Tần tòng Yên chi Triệu)

Tô Tần từ Yên qua Triệu để khởi xướng cho chính sách hợp tung, bảo vua Triệu:

- Trong thiên hạ, bậc nhân tướng khanh thần đến kẻ sĩ áo vải, không ai không phục hành vi, nghĩa khí của đại vương là cao cả, đã từ lâu không ai không mong được trước mặt đại vương bày tỏ hết lòng trung và xin đại vương dạy bảo cho. Nhưng vì Phụng Dương Quân[2] ghen ghét kẻ hiền năng mà đại vương lại không được chuyên quyền, cho nên những khách ở nước ngoài và những kẻ du thuyết không dám tới trước mặt đại vương để bày tỏ hết lòng trung. Phụng Dương Quân đã chết, đại vương từ nay trở đi được tiếp xúc với nhân dân, cho nên tôi mới dám tới dâng ý nông cạn và hết sức bày tỏ lòng trung ngu muội. Tôi vì đại vương mà mưu tính, nghĩ rằng không gì bằng dùng chính sách an dân, đừng “hữu vi”[3] bày đặt việc này việc khác. Gốc của sự an dân ở chỗ chọn nước mà giao hảo; khéo chọn nước mà giao hảo thì dân được an nhàn, không khéo chọn nước mà giao hảo thì suốt đời lao đao.

Tôi xin bàn cái hoạ của nước ngoài. Tề và Tần là hai địch thủ lớn của Triệu, mà dân Triệu không được an nhàn. Dựa và Tần mà đánh Tề thì dân không được an nhàn, dựa vào Tề mà đánh Tần thì dân cũng không được an nhàn. Cho nên tính chuyện với vua nước khác để đánh nước ngoài, thì lời nói thường vội vàng mà đoạn tuyệt tình ban giao của người[4], xin đại vương thận trọng đừng thốt ra những lời đó. Xin đại vương cho bọn tả hữu lui ra để tôi phân biệt hai chính sách âm dương[5].

Nếu đại vương quả thật theo mưu kế của tôi thì nước Yên tất cống hiến những đất có dạ, áo lông, chó ngựa; Tề tất dâng những đất có cá, muối ở bờ biển; Sở tất dâng đất miền Vân, Mộng, có quất, bưởi; Hàn, Nguỵ đều dâng những ấp mà thuế má dùng vào việc tắm gội; thân thích cha anh đại vương đều được những đất phong hầu. Việc cắt đất và thu tài hoá vật như vậy, ngũ bá hồi xưa chịu hy sinh tướng sĩ mà làm cho được; để cho thân thích được phong hầu, vua Thang, vua Vũ thời xưa phải giết Kiệt, Trụ mà tranh lấy đất. Nay đại vương chỉ cần rủ áo chắp tay[6] mà được cả hai[7], đó là điều tôi vì đại vương mà mong mỏi.

Đại vương mà thân thiện với Tần thì Tần tất xâm lược Hàn, Nguỵ; thân thiện với Tề thì Tề tất xâm lược Sở, Nguỵ. Nguỵ suy yếu thất phải cắt đất Hà Ngoại, Hàn suy yếu rồi thì tất phải dâng đất Nghi Dương, Nghi Dương dâng rồi thì Thượng Quận[8] bị cách tuyệt. Hà Ngoại cắt rồi thì đường nghẽn[9]; Sở suy yếu rồi thì không còn ai cứu viện nữa. Ba kế sách đó không thể không tính cho kỹ[10].

Tần đem quân chiếm Chỉ Đạo[11] thì Nam Dương biến động, rồi cướp nước Hàn, vây nước Chu mà Triệu tự nhiên tan rã. Tần mà chiếm cứ nước Vệ, được đất Kỳ thì nước Tề tất triều kiến Tần. Tần đã tới Sơn Đông rồi thì tất đem quân nhắm nước Triệu; quân Tần qua sông Hoàng Hà, vượt khỏi Lâm Chương, chiếm Phiên Ngô thì tất đem quân đánh nhau với Tề ở dưới chân thành Hàm Đan; đó là điều tôi lo giùm cho đại vương.

Đương lúc này, các nước ở Sơn Đông, không nước nào mạnh bằng Triệu, đất Triệu rộng hai ngàn dặm, binh giáp được vài chục vạn, chiến xa được ngàn cỗ, chiến mã được vạn con, lúa chi dùng được mười năm. Phía Tây có Thường Sơn, phía nam có Hà Chương[12], phía đông có Thành Hà, phía bắc có nước Yên. Yên là một nước yếu, không đáng lo. Trong thiên hạ Tần không hận nước nào bằng Triệu, mà Tần không dám cử binh đánh Triệu là vì sao? Là vì sợ có Hàn, Nguỵ đánh lén phía sau Tần. Như vậy thì Hàn, Nguỵ là cái phên che phía nam của Triệu. Nhưng nếu Tần đánh Hàn, Nguỵ thì tình hình sẽ khác; không có núi cao sông rộng ngăn cách, cứ lần lần tàm thực cho tới khi tới kinh đô mới ngừng; Hàn, Nguỵ không chống được Tần tất xin thờ Tần. Hàn, Nguỵ thờ Tần rồi, Triệu không có Hàn, Nguỵ ngăn cách với Tần nữa mà hoạ sẽ tới Triệu; đó là điều tôi lo giùm đại vương.

Tôi nghe nói vua Nghiêu không có được ba trăm mẫu ruộng, vua Thuấn không có được một tấc đất mà làm chủ được thiên hạ; vua Vũ không có trăm người theo mà làm vua chư hầu, quân lính không quá ba ngàn người, chiến xa không quá ba trăm cỗ mà vua Thang, vua Võ lên ngôi thiên tử, chính là nhờ hiểu được các đạo cường thịnh. Cho nên bậc minh quân, ở ngoài thì lượng sức mạnh yếu của địch, ở trong thì xét sĩ tốt nhiều ít, có hiền tài hay không, không đợi quân mình với quân địch giao chiến mà cái cơ thắng bại tồn vong đã thấy rõ từ trước ở trong lòng rồi, đâu có bị lời đại chúng làm mê muội, mà quyết đoán một cách hồ đồ.

Tôi xin trộm đem địa đồ trong thiên hạ ra xét, đất của chư hầu rộng gấp năm Tần, tôi phỏng tính binh sĩ của chư hầu nhiều gấp mười Tần. Sáu nước[13] đoàn kết làm một, quay về phía tây đánh Tần thì Tần tất mất. Nay sáu nước để cho Tần đánh tan, hướng về phía Tần mà thờ Tần, làm bề tôi cho Tần. Phá tan nước người với bị nước người phá tan, người làm bề tôi mình với mình làm bề tôi người, hai cái đó khác nhau xa. Bọn người chủ trương liên hoành kia đều muốn cắt đất của chư hầu để cầu hoà với Tần. Họ cầu hoà với Tần thì có thể xây cất đài cao, sửa sang cung đẹp, nghe tiếng sáo, tiếng (đàn) sắt, nếm những món thơm ngon, phía trước có xe ngựa, phía sau có sân đài, có người đẹp cười duyên, nhưng rồi khi có cái hoạ vì Tần thi bỏ mặc vua. Thế cho nên bọn chủ trương liên hoành kia ngày đêm đem cái quyền uy của Tần doạ các chư hầu để chư hầu cắt đất cho Tần, xin đại vương nghĩ kỹ về điều đó.

Tôi nghe rằng bậc minh quân không do dự, không nghe lời gièm pha, mà gạt bỏ những lời không chứng cứ, lấp cái cửa bè đảng, cho nên thần xin trung thành dâng lên đại vương cái kế làm cho vua được tôn quí, đất được mở rộng, binh được hùng cường. Tôi trộm vì đại vương mưu tính thì không gì bằng sáu nước Hàn, Nguỵ, Tề, Sở, Yên, Triệu hợp tung thân thiện với nhau để chống cự với Tần; khiến cho các vị tướng quốc, tướng soái trong thiên hạ đều họp nhau ở trên bờ sông Viên, các nước trao đổi con tin với nhau, giết ngựa trắng, cùng thề với nhau rằng: “Tần mà đánh Sở thì Tề, Nguỵ sẽ đem binh tinh nhuệ ra giúp Sở, Hàn sẽ cắt đứt đường vận lương của Tần, Triệu sẽ đem quân qua sông Hà Chương, Yên sẽ giữ phía bắc miền Thường Sơn. Tần mà đánh Hàn, Nguỵ thì Sở sẽ cắt đứt phía sau của Tần, Tề sẽ đem binh tinh nhuệ ra giúp Hàn, Nguỵ. Triệu sẽ đem quân qua Hà Chương, Yên sẽ giữ miền Vân Trung. Tần mà đánh Tề thì Sở sẽ cắt đứt phía sau của Tần, Hàn sẽ giữ thành Cao, Nguỵ sẽ chặn ở Ngọ Đạo, Triệu sẽ đem quân qua sông Hà Chương, đóng ở Bắc Quan, Yên sẽ đem quân tinh nhuệ ra giúp Tề. Tần mà đánh Yên thì Triệu sẽ giữ Thường Sơn, Sở sẽ đem quân đóng ở Vũ Quan, Tề sẽ đem quân qua Bột Hải, Hàn và Nguỵ sẽ đem quân tinh nhuệ để giúp Yên. Tần mà đánh Triệu thì Hàn sẽ đem quân đóng ở Nghi Dương, Sở đem quân đóng ở Vũ Quan, Nguỵ sẽ đem quân đóng ở Hà Ngoại, Tề sẽ đem quân qua bột Hải, Yên sẽ đem quân tinh nhuệ ra giúp Triệu. Nước chư hầu nào bội ước trước thì năm nước kia sẽ cùng đem quân đánh”. Sáu nước hợp tung, thân thiện với nhau để chống cự Tần thì Tần không dám đem quân khỏi cửa Hàm Cốc mà đánh phá Sơn Đông, như vậy nghiệp bá của đại vương sẽ thành.

Vua Triệu đáp:

- Quả nhân nhỏ tuổi, cầm quyền mới ít ngày, chưa từng nghe kế hoạch trường cửu để trị nước; nay quí khách có ý bảo vệ thiên hạ, an định chư hầu, quả nhân xin kính cẩn đem nước Triệu ra theo kế hoạch của quí khách.

Rồi phong Tô Tần làm Vũ An Quân, tặng trăm cổ xe trang sức đẹp đẽ, ngàn nén vàng, trăm đôi bạch ngọc, ngàn tấm gấm vóc để Tô Tần đi liên hợp các chư hầu.

3. TRƯƠNG NGHI THUYẾT TRIỆU VŨ LINH VƯƠNG[14] THEO LIÊN HOÀNH
(Trương Nghi vi Tần liên hoành)

Trương Nghi vì Tần chủ trương kế hoạch liên hoành, bảo vua Triệu:

- Vua Tần của tệ quốc, sai tôi mạo muội dâng thư lên quan ngự sử của đại vương[15]. Đại vương thống lĩnh thiên hạ để chống Tần, quân Tần không dám ra khỏi cửa Hàm Cốc đã mười lăm năm rồi. Uy quyền của đại vương đã lan ra khắp miền Sơn Đông. Trong thiên hạ: tệ quốc sợ sệt, cúi nép, chỉnh đốn binh khí, huấn luyện binh sĩ, sửa sang chiến xa, luyện tập kỵ xạ, gắng sức cày ruộng, trữ lúa, bảo vệ biên cảnh bốn bề, ở trong cảnh lo sầu, sợ sệt đó không dám vọng động, chỉ vì đại vương có ý trách lỗi Tần vậy.

Nay, Tần vì thấy uy lực đại vương phía tây chiếm Ba Thục, nước Hán Trung[16], phía đông thu phục Đông Chu, Tây Chu mà dời chín đỉnh, giữ bến Bạch Mã, cho nên tuy ở nơi hẻo lánh, xa xôi, mà lòng oán hận sầu muộn đã từ lâu rồi. Nay vua Tần tới đem binh giáp tồi tàn đóng ở Thằng Trì, định qua Hà Chương, chiếm cứ Phiên Ngô, nghinh chiến với Triệu ở dưới chân thành Hàm Đan. Định tới ngày Giáp Tí[17], giao chiến với Triệu, để noi gương (Chu Võ Vương), diệt Ân Trụ thời xưa, nên sai tôi cung kính lại báo trước cho kẻ tả hữu của đại vương hay.

Đại thể, đại vương sở dĩ tin chính sách hợp tung là trông cậy ở Tô Tần quyến rũ, mê hoặc, làm cho họ tin phải là trái, trái là phải. Nhưng Tô Tần muốn phản phúc nước Tề mà không được[18], khiến cho chính mình bị xé xác ở chợ nước Tề. Vậy thiên hạ không thể hợp nhất được, lẽ ấy đã rõ.

Nay Sở với Tần là hai nước anh em, Hàn và Nguỵ đã là những nước phiên thuộc ở phía đông. Tề đã dâng Tần những đất có muối, cá, như vậy là chặt mất cánh tay phải của Triệu rồi. Người đã mất cánh tay phải mà còn mong chiến đấu với kẻ khác, đảng đã tan mà mình cô lập, như vậy thì làm sao khỏi nguy được?

Nay Tần phái ba vị tướng thống suất quân sĩ: một đạo quân chẹn lấp Ngọ Đạo[19], rồi bảo Tề đem quân qua Thanh Hà[20] đóng ở phía đông Hàm Đan; một đạo đóng ở Thành Cao, đốc suất quân Hàn, Nguỵ mà đóng ở Hà Ngoại; một đạo đóng quân ở Thằng Trì, cùng hẹn với nhau rằng: “Bốn nước liên kết như một để đánh Triệu, phá được Triệu rồi thì chia Triệu làm bốn phần”. Vì vậy tôi không dám giấu giếm tình ý, xin báo trước với người tả hữu của đại vương.

Tôi trộm vì đại vương mưu tính, không gì bằng hẹn với Tần ở Thằng Trì, hội kiến nhau rồi kết thân với nhau. Tôi xin án binh, không tấn công, xin đại vương quyết định đi.

Vua Triệu đáp:

- Sinh thời của tiên vương[21], Phụng Dương Quân làm tướng quốc, chuyên quyền, che lấp chí tiên vương, độc đoán việc nước. Quả nhân lúc đó ở trong cung, thuộc quyền quan sư phó, không được mưu tính việc nước. Khi tiên vương bỏ quần thần mà qui tiên, quả nhân tuổi còn nhỏ, tới nay coi việc tế tự chưa được bao ngày[22], nhưng lòng riêng vẫn trộn nghi ngờ, cho rằng kế hợp tung chống Tần không phải là cái lợi trường cửu của nước; cho nên đã có ý thay đổi kế hoạch, cắt đất để tạ tội cũ mà xin thờ Tần; đương cho sửa soan xe để qua Tần thì vừa được tin sứ giả mang chiếu lệnh sáng suốt của vua Tần.

Rồi cho đánh trăm[23] cổ xe, tới Thằng Trì triều kiến vua Tần, cắt đất Hà Giang để thờ Tần.

------------
[1] Triệu Túc Hầu (349 tr.T.L-326 tr.T.L). (Goldfish).

[2] Phụng Dương Quân là em vua Triệu. Mới đầu, Tô Tần tới Triệu, không được Phụng Dương Quân niềm nở tiếp, nên bỏ qua Yên, nay mới trở lại Triệu.

[3] “Hữu vi” ở đây có nghĩa là “nhiểu sự”.

[4] Chỉ những người theo chính sách liên hoành.

[5] Tức chính sách hợp tung và liên hoành, hai chinh sách trái ngược nhau như âm với dương.

[6] Ý nói ngồi không, không phải khó nhọc.

[7] Tức vua Triệu được chiếm thêm đất của các nước kia, mà thân thích vua Triệu lại được đất phong nữa.

[8] Có lẽ lầm, là Thượng Đảng thì phải hơn vì Thượng Đảng ở gần Nghi Dương, chỉ cách một con sông, còn Thượng Quận thì ở cách xa lắm.

[9] Ý nói: Nguỵ suy rồi, phải cắt đất ở Hà Ngoại cho Tần và con đường tới Thượng Quân sẽ bị nghẽn.

[10] Đoạn này lý luận không minh bạch. Chủ ý Tô Tần là ngăn Triệu liên hợp với Tần mà sao lại kể cái hại liên hợp với Tề? Mà ba kế hoạch đó là những kế hoạch nào?

[11] Chỉ Đạo nay ở Thiểm Tây.

[12] Hà Chương không rõ là một hay hai con sông, Từ Hải không có Hà Chương, chỉ có Chương Giang và Chương Hà.

[13] Tức: Hàn, Nguỵ, Tề, Sở, Yên, Triệu.

[14] Triệu Vũ Linh Vương (325 tr.T.L-299 tr.T.L), vị vua Triệu đầu tiên xưng Vương. (Goldfish).

[15] Lời khiêm tốn: không dám dâng thẳng lên vua Triệu mà dâng lên quan ngự sử.

[16] Vậy là Triệu đã chiếm Sở mà uy hiếp Ba Thục ư? Hay là nước khác chiếm mà Trương Nghi trách như vậy vì Triệu là tung trưởng?

[17] Ngày Giáp Tí là ngày Chu Võ Vương đánh bại vua Trụ.

[18] Coi bài Sở I 17.

[19] Ngọ Đạo: là tên đất ở phía đông nước Triệu, phía tây nước Tề.

[20] Thanh Hà: nay ở Trực Lệ, qua khỏi Thanh Hà thì tới phía phía đông Hàm Đan.

[21] Tức Triệu Túc Hầu. (Goldfish).

[22] Ý nói: cầm quyền chưa được bao lâu.

[23] Các bản trên mạng chép là: ba trăm (tam bách 三百)
4. VŨ LINH VƯƠNG MUỐN BẬN HỒ PHỤC
(Vũ Linh Vương bình trú nhàn cư)

Vũ Linh Vương gặp lúc ban ngày ngồi không. Phi Nghĩa ngồi hầu, tâu:

- Đại vương có nghĩ đến việc đời biến hoá, đến việc sử dụng vũ khí binh lính, hay nhớ đến sự nghiệp của Giản Tử, Tương Tử[1] để lại, tính đến cái lợi về phía Hồ, Địch[2] không?

Vũ Linh Vương đáp:

- Một ông vua nối nghiệp không quên công đức của tiên vương, đó là cái đạo của người làm vua; trao đổi ý tưởng và chứng minh để làm sáng tỏ cái sở trường của vua mình, đó là phép bàn luận của người làm tôi. Vì vậy mà bậc minh quân khi ngồi không thì có bổn phận dạy dân để dắt dẫn dân cho công việc trị nước được tiện lợi, khi hành động thì có bổn phận làm sáng tỏ một phần trong trăm phần sự nghiệp của các tiên vương đời trước. Làm bề tôi, lúc khốn cùng thì giữ cái lễ từ nhượng với người trên, lúc hiển đạt thì lập cái công cứu dân giúp nước. Vua tôi khác nhau ở hai chỗ đó. Nay ta muốn kế tục sự nghiệp của Tương Vương, mở mang đất đai của rợ Hồ, rợ Địch mà trọn đời không thành công. Địch quốc yếu thì ta dùng ít binh lực mà công hiệu nhiều, có thể không bắt dân chúng hết sức lao khổ mà hưởng được công lao của cổ nhân. Hễ có cái công lao xuất thế thì tất chịu tai tiếng là không theo thế tục; hễ có những tư tưởng độc đáo, sáng suốt tất làm cho người đời lo ngại. Nay ta muốn bận y phục của người Hồ, dùng cách cỡi ngựa bắn tên của họ để dạy dân, nhưng như vậy tất bị người đời dị nghị.

Phi Nghĩa đáp:

- Tôi nghe nói: “Sự tình mà còn nghi hoặc thì không thành công, hành động mà còn nghi hoặc thì không thành danh”. Đại vương nếu muốn có những tư tưởng khác đời thì xin đừng chú ý tới lời dị nghị của thiên hạ. “Người bàn đến cái đức cao siêu thì không hợp với thế tục; người nào lập công lớn thì không tính với thường nhân”. Xưa vua Thuấn múa mà Hữu Miêu đầu hàng[3]; vua Vũ loã lồ vào một nước có tục khoả thân[4], hai người đó đâu phải là túng dục cầu vui, mà muốn luận đức và lập công vậy. “Kẻ ngu, việc thành rồi mà vẫn còn tối tăm chưa thấy; người khôn thì đã thấy trước từ khi việc chưa manh nha”. Xin đại vương cứ thi hành ý của mình.

Vũ Linh Vương nói:

- Quả nhân không chê y phục Hồ, chỉ sợ thiên hạ cười chê thôi. Thấy kẻ cuồng vui nhộn, bậc trí giả thương cho họ; thấy kẻ ngu cười giỡn bậc hiền giả buồn cho họ. Nếu có người theo ta thì sự bận Hồ phục có kết quả tốt, chưa biết tới đâu. Dù người đời sau chê cười ta thì ta cũng không thể vì vậy mà bỏ đất Trung Sơn của rợ Hồ.

Vũ Linh Vương bèn bận Hồ phục, sai Vương Tôn Tiết bảo công tử Thành:

- Quả nhân bận Hồ phục sắp lâm triều đây, muốn chú cũng bận Hò phục như ta. Ở trong nhà nghe lời cha mẹ, ở triều đình nghe lời vua, đó là cái đạo từ xưa đến nay; con không trái ý cha mẹ, bề tôi không trái ý vua, đó là cái phép chung của các tiên vương. Nay quả nhân đã ra lệnh đổi y phục, nếu chú không tin thì sợ thiên hạ dị nghị. Trị nước phải có phép thường, là lấy lợi dân làm gốc, trị dân có phép nhất định, là trước hết lệnh ban ra phải thi hành. Cho nên muốn làm sáng cái đức thì phải giảng giải cho bọn ti tiểu hiểu rõ, muốn thi hành chính sách thì phải làm sao cho bọn quyền quí đều tin theo. Ta có cái ý bận Hồ phục không phải là để túng dục cầu vui; lý do là ta muốn làm nên sự nghiệp; việc nên công thành rồi thì sau mới thấy được cái đức của ta. Ta sợ chú không tuân lệnh, cho nên phải nói rõ để chú biết mà phán đoán. Ta nghe nói rằng việc nào có lợi cho nước thì không phải là việc bậy, mà nhân danh quí thích mà làm thì không bị mang tiếng, cho nên ta muốn mượn tiếng tăm đạo nghĩa của chú để lập cái công nghiệp do Hồ phục gây nên, và sai Tiết lại yết kiến chú, xin chú bận Hồ phục.

Công tử Thành lại hai lạy, đáp:

- Tôi đã được nghe nói nhà vua bận Hồ phục, nhưng vì đau, không đi được, nên không tới sớm được, nay nhà vua ra lệnh, tôi xin đem hết lòng trung thành ngu muội ra bày tỏ. Tôi nghe nói Trung Quốc là nước của những người thông minh tài trí, chỗ tụ họp của tài sản vật dụng, là đất được các vị hi
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

CHIẾN QUỐC SÁCH Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH   CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Dec 01, 2010 4:52 pm

Rồi tới nhà Công Thúc Thành, đích thân giảng giải:

- Y phục cốt sao cho tiện sử dụng; lễ pháp cốt sao cho tiện việc thi hành. Vì vậy mà thánh nhân xem xét dân tình trong miền để hợp với phong tục, tuỳ sự tình mà đặt lễ pháp, cốt lợi cho dân mà ích cho nước. Cắt tóc xâm mình là phong tục dân Âu Việt[5]; nhuộm răng, sơn đầu, dùng da cá niêm lớn làm nón, may vá cực xấu xí, đó là phong tục dân Đại Ngô, lễ phục tuy khác nhau mà đều là tiện lợi cả. Vì vậy mà miền khác nhau thì cách dùng cũng đổi, khác sự tình mà lễ pháp cũng biến. Cho nên thánh nhân chỉ cầu lợi dân, cách dùng bất tất phải nhất luật; chỉ cần tiện việc, bất tất lễ pháp phải giống nhau. Những người học nho cùng học một thầy mà lễ chế khác nhau. Trung Quốc cùng một phong tục mà giáo hoá khác nhau, như vậy thì nói chi đến miền sơn cốc, cốt tiện thì thôi. Cho nên tới lui biến hoá dù bậc trí giả cũng không thể cứ giữ một lối được, về cách phục sức ở các miền, dù thánh hiền cũng không thể bắt đều như nhau được. Phong tục miền xa xôi có nhiều cái lạ, cái học thuyết tà khúc thường ham tranh biện; không biết thì vẫn nghi ngờ, thấy khác mình mà mình không chê, đó mới là công tâm cầu thiện. Lời của khanh là theo thói tục, lời của ta là muốn sửa phong tục. Nước ta phía đông có sông Hà, sông Bạc Lạc[6], chung dòng với nước Trung Sơn, nước Tề mà chúng ta không biết dùng thuyền; từ Thường Sơn cho tới miền Đại, Thượng Đảng, cùng chung biên giới với miền Đông Hồ của Yên, phía tây có miền Lâu Phiền, giáp ranh với Tần, Hàn mà không có đủ lính kỵ biết bắn. Cho nên quả nhân mới đóng thuyền, chiêu mộ những người dân ở miền sông nước để giữ sông Hà, sông Bạc Lạc, thay đổi y phục, dạy cưỡi ngựa bắn tên để phòng bị biên giới Tam Hồ, Lâu Phiền, Tần, Hàn.

Vả lại trước kia Giản Vương không chen miền hiểm yếu từ Tấn Dương đến Thượng Đảng[7], Tương Vương thôn tính Nhung, Đại rồi muốn đánh các rợ Hồ, điều đó dù kẻ ngu cũng thấy rõ. Hồi trước Trung Sơn cậy có Tề mạnh, đem quân xâm lược nước ta, bắt trói dân ta, dẫn nước vô để vây thành Hạo, nếu thần xã tắc không phù hộ thì thành Hạo khó mà giữ được, cho nên tiên vương phẫn uất về việc đó, hận đó đến nay chưa được báo. Nay đổi y phục, bận đồ lính kỵ bắn tên, cái lợi gần là hoàn bị được sự phòng vệ Thượng Đảng, cái lợi xa là báo được cái hận Trung Sơn, mà chú cứ theo cái tục Trung Quốc, làm trái ý Giản Vương, Tương Vương, ghét cái tên biến đổi y phục, mà quên cái nhục nước, quả nhân có ngờ đâu chú lại như vậy.

Công tử Thành lại hai lạy, dập đầu đáp:

- Tôi ngu muội, không hiểu được mưu kế của đại vương, cho nên chỉ bàn về thế tục. Nay đại vương muốn nối ý của Giản Vương, Tương Vương để theo chí của tiên vương, tôi đâu dám không tuân lệnh.

Nói xong, lại hai lạy. Vũ Linh Vương cấp cho Hồ phục.
*

Triệu Văn tiến lên can:

- Dân cày thì phải khó nhọc để nuôi người quân tử[8], đó là lẽ thường trong việc trị nước; kẻ ngu thì bày tỏ ý kiến và bậc trí giả bàn luận, phê bình, đó là cái đạo của việc dạy dỗ. Bề tôi không giấu lòng trung, vua chúa không che lấp lời phải, đó là cái phúc của nước. Tôi tuy ngu, xin tỏ hết lòng trung.

Vũ Linh Vương đáp:

- Suy nghĩ không phải là làm loạn, trung trực không phải là có tội, ngươi cứ nói.

Triệu Văn đáp:

- Thời nào kỷ cương ấy; y phục có phép tắc, đó là sự chế định của lễ; sửa phép mà không lầm, đó là nghĩa vụ của dân. Ba cái đó là lời dạy bảo của thánh nhân thời xưa. Nay đại vương bỏ ba cái đó mà theo y phục của người phương xa, sửa đổi giáo huấn của cổ nhân, biến cải đạo của cổ nhân, cho nên tôi xin đại vương nghĩ kỹ lại.

Vũ Linh Vương đáp:

- Lời ngươi nói đó là lời thế tục. Hạng thường dân thì chìm đắm trong thế tục, hạng có học thì chìm đắm ở điều học được (ở sách vở); hai hạng đó chỉ để dùng làm quan tốt, theo chính lệnh, không có thể nhìn xa bàn sâu được. Đời Tam đại y phục không giống nhau mà đều là vương cả, đời Ngủ Bá giáo huấn không giống nhau mà giỏi trị nước cả; bậc trí giả lập ra giáo huấn mà kẻ ngu bị bó chặt vào giáo huấn; bậc hiền giả bàn về phong tục mà kẻ bất tiếu thì câu nệ. Hạng dân theo tục về y phục, không thể tỏ hết lòng với họ được; hạng dân câu nệ về phong tục, không thể tỏ hết ý với họ được. Cho nên thời thế phải cùng với phong tục mà biến hoá, lễ cũng phải biến theo, đó là cái đạo của thánh nhân. Theo lời dạy bảo mà hành động, theo phép chứ không được riêng tư, đó là nghĩa vụ của dân. Người biết đọc, có thể tuỳ sự học mà biến đổi, người hiểu được sự biến hoá của lễ thì có thể tuỳ thời thay đổi; cho nên kẻ biết học (học để cho mình tiến ích) thì không trông đợi ở người, người qui định luật lệ cho đời nay thì không theo cổ. Ngươi nên hiểu điều đó.

Triệu Tạo can rằng:

- Giấu lòng trung mà không tận lực thì thuộc vào hạng gian tà, vì tư lợi mà làm hại nước thì thuộc vào hạng đạo tặc. Phạm tội gian thì phải chết, làm hại nước thì phải giết của họ. Hai cái đó là hình pháp rõ ràng của bực tiên thánh, và là cái tội lớn của kẻ bề tôi. Tôi tuy ngu, xin tỏ hết lòng trung mà không trốn tử tội.

Vũ Linh Vương đáp:

- Bề tôi bày tỏ hết ý mà không kiêng nể là trung, vua không che lấp lời của bề tôi là sáng suốt. Trung thần không tránh cái nguy, minh quân không cự người nói thẳng, ngươi cứ nói.

Triệu Tạo đáp:

- Tôi nghe nói bực thánh nhân không thay đổi thiên tính của dân khi dạy dỗ, bậc trí giả không biến cải phong tục khi hành động; tuỳ theo thiên tính của dân mà dạy thì không mệt mà thành công, căn cứ vào phong tục mà hành động thì suy nghĩ mau mà dễ thấy. Nay đai vương đổi cũ mà không theo tục, bận Hồ phục mà chẳng kể gì đến thế tục, đó không phải là để dạy dân và giữ được lễ. Vả lại ăn mặc kỳ dị thì lòng sinh ra phóng đãng, phong tục rắc rối thì làm cho dân sinh loạn. Cho nên người trị nước không theo y phục kỳ dị, rắc rối; người Trung Quốc thì không có hành động giống với man di, vì cái đó không phải là để dạy dân và giữ lễ. Vả lại theo phép cũ thì không mắc lỗi, theo lễ tục thì không có tà tâm (không cong queo). Tôi xin đại vương nghĩ kỹ lại.

- Mỗi đời phong tục không giống nhau, thế thì biết theo thời cổ nào? Các vị đế vương không theo lễ của nhau, thế thì biết theo lễ nào? Phục Hi, Thần Nông dạy dân mà không dùng tử hình, hoàng đế Nghiêu, Thuấn dùng tử hình mà không giận lây. Đến đời Tam vương tuỳ thời mà định pháp lệnh, tuỳ việc mà đặt ra lễ, pháp lệnh chế độ đều tuỳ nghi cả, y phục khí giới đều tuỳ tiện cả. Cho nên muốn trị dân thì không nhất định phải theo đạo nào, muốn tiện lợi cho nước thì bất tất phải theo cổ. Bậc thánh nhân dựng nghiệp chẳng bắt chước nhau mà đều thành vương nghiệp; tới đời Hạ, đời Ân suy vi, không thay đổi lễ pháp mà bị diệt. Như vậy thì trái với cổ, chưa chắc đã đáng chê, mà theo cổ chưa đủ để khen. Vả lại y phục kỳ dị mà chí phóng đảng, là trường hợp nước Trâu, nước Lỗ, hai nước đó không có những hành động khác thường; phong tục rắc rối mà lòng dân biến đổi, là trường hợp nước Ngô, nước Việt, hai nước đó không có những dân tài giỏi. Thế cho nên thánh nhân thấy có ích thân thể thì dùng làm y phục, thấy tiện cho việc trị dân thì đem làm giáo dục, biết tiến lui thì coi là có lễ tiết. Chế định y phục là để sửa dân thường, không phải để xét bậc hiền giả, cho nên thánh nhân thông tục mà hiền giả thì tuỳ biến. Ngạn ngữ có câu: “Theo lời trong sách mà đánh xe thì là không hiểu thấu tình ý ngựa; theo thời xưa mà chế định thời này thì là không rõ sự biến đổi của sự tình”. Cho nên cái việc theo phép không đủ để hơn đời, cái học theo cổ không đủ để chế định thời nay. Thôi ngươi đừng phản đối ta nữa.

-----------------
[1] Giản Tử, Tương Tử trong bài này cũng gọi là Giản Chúa, Tương Chúa là hai vua nước Triệu thời trước.

[2] Hồ, Địch là các rợ phương bắc.

[3] Rợ Hữu Miêu là dòng dõi rợ Tam Miêu. Rợ Hữu Miêu không theo mệnh lệnh của vua Thuấn. Vua Thuấn sai ông Vũ đánh ba tuần mà Hữu Miêu vẫn chưa chịu quy phục. Vua Thuấn sai thu binh về, mở mang văn đức, cho múa mộc và quạt vả ở hai bên thếm, bảy tuần sau chúa Hữu Miêu quy phục.

[4] Theo sách Hậu Hán thư, Đông Di truyện, nước đó ở phía nam Trung Quốc, từ Chu Nho Quốc (?) đi thuyền về phía đông nam một năm mới tới. Sách Hoài Nam Tử chép rằng vua Vũ khi vô nước đó thì cởi bỏ hết y phục, khi ra khỏi nước đó thì lại bận y phục lại, như vậy để theo phong tục thổ dân.

[5] Âu Việt: tức từ miền từ Quảng Đông tới Bắc Việt.

[6] Sông Hà, sông Bạc Lạc: Có sách chấm câu là: có sông Hà, sông Bạc, sông Lạc; lại có sách chấm câu là: sông Hà Bạc, sông Lạc. Từ Hải không có Bạc Lạc, Bạc Thủ, Hà Bạc; chỉ có Lạc Thuỷ, nhưng ở Thiểm Tây. Chưa rõ ra sao.

[7] Sự kiện này chưa tra ra được.

[8] Quân tử: ở đây chỉ nhà cầm quyền.
TRIỆU III

1. TRIỆU XA GIẢNG GIẢI TẠI SAO PHẢI TĂNG BINH LỰC
(Triệu Huệ Văn Vương)

Năm thứ ba mươi đời Triệu Huệ Văn Vương[1] (con Vũ Linh), tướng quốc Đô Bình Quân Điền Đan[2] hỏi Triệu Xa:

- Không phải là tôi không khen binh pháp của tướng quân, chỉ có một điều không phục là tướng quân dùng nhiều quân quá. Dùng nhiều quân quá thì dân không thể làm ruộng được, lương thực xâu thuế không đủ cung cấp; như vậy là cái lẽ ngồi đấy mà tự phá mình, Đan tôi không làm vậy. Đan nghe nói bực đế vương dùng binh không quá ba vạn quân mà thiên hạ phải hàng phục. Nay tướng quân đòi có mười vạn, hai chục vạn rồi mới chịu dùng, đó là điều Đan tôi không phục.

Mã Phục[3] đáp:

- Ông không những không biết phép dùng binh mà lại còn không rõ thời thế nữa. Cây kiếm Can Tướng[4] nước Ngô dùng thử để chặt thịt thì chặt đứt được đầu bò, đầu ngựa; dùng thử để chặt đồ kim thuộc thì chặt đứt được mâm và chậu; nhưng dằn nó vào cây cột mà bẻ thì nó gẫy làm ba, chém nó vào mỏm đá thì nó bể ra làm trăm mảnh. Nay mà dùng ba vạn quân mà chống với binh các cường quốc thì không khác gì dằn kiếm vào cột, đập kiếm vào đá. Vả lại cây kiếm Can Tướng nước Ngô khó có, sống nó không dày, mũi nó không nhọn, chỗ gần lưỡi nó không mỏng, mà lưỡi nó không mẻ; có đủ hai cái đó tồi mà thiếu cái vòng, cái chuôi, cái đốc, cái dây, thiếu những tiện lợi đó thì cầm kiếm mà đâm, đâm chưa vô sâu mà tay mình đã đứt. Ông không có hai chục vạn quân thì cũng như kiếm không có cái vòng, cái chuôi, cái đốc, cái dây, thiếu tất cả các tiện lợi; mà đem ba vạn quân đánh thiên hạ thì làm sao thành công được?

Vả lại xưa kia, khoảng trời đất trong bốn bể chia làm vạn nước; thành tuy lớn mà cao không quá ba trăm trượng, người tuy nhiều mà không quá ba ngàn nóc nhà. Như vậy mà gom ba vạn binh để đánh thì có gì là mà khó? Nay vạn nước hồi xưa gom lại còn bảy nước, nước nào cũng có mười vạn binh, ông đem ba vạn quân mà chống thì mất ngày giờ cầm cự nhau hằng mấy năm, rồi sẽ lâm vào cảnh nước Tề thôi[5]. Tề đem hai chục vạn quân dẹp nước Kinh, năm năm mới xong; Triệu đem hai chục vạn quân đánh Trung Sơn, năm năm mới về. Nay Tề và Hàn thế lực ngang nhau, vậy mà khi chiến tranh còn phải đem toàn lực ra đánh thành, vây thành, chứ đâu dám nói rằng: ta đem ba vạn quân ra cứu viện! Nay thành cao ngàn trượng, những ấp vạn nóc nhà ngó thấy nhau[6], mà chỉ đem ba vạn quân vây một cái thành cao ngàn trượng, bất quá chỉ vây được một góc; còn đánh nhau ở giữa đồng thì binh lính không đủ dùng. Ông tính dùng binh đó để đánh đâu đây?

Đô Bình Quân bùi ngùi thở dài, đáp:

- Đan tôi kiến thức không bằng ông.

9. VUA TRIỆU DO DỰ KHÔNG BIẾT NÊN CẮT ĐẤT CHO TẦN HAY KHÔNG
(Tần công Triệu ư Trường Bình)

Tần đánh Triệu ở Trường Bình, đại thắng, kéo binh về rồi sai người qua Triệu đòi dâng sáu thành để giảng hoà. Vua Triệu (Hiếu Thành Vương)[7] còn do dự, thì Lâu Hoãn[8] vừa ở Tần qua. Vua Triệu bàn tính với Lâu Hoãn:

- Cho Tần sáu thành thì sẽ ra sao? Mà không cho thì sẽ ra sao?

Lâu Hoãn nhúng nhường đáp:

- Điều đó tôi không thể biết được.

- Nhưng ông thử cho ý kiến đi.

- Nhà vua biết chuyện của Công Phủ Văn Bá không? Công Phủ Văn Bá làm quan ở Lỗ, đau rồi chết, mười sáu người đàn bà tự sát ở trong phòng để chết theo; bà mẹ hay chuyện đó, không hề khóc. Người vú nuôi bảo: “Người đâu con chết mà không khóc”. Bà mẹ đáp: “Khổng Tử là người hiền, bị đuổi ở Lỗ, thằng đó không theo Khổng Tử, nay nó chết mà mười sáu người đàn bà chết theo nó, thế là nó bạc bẽo với bề trên mà hậu hĩnh với đàn bà”. Vậy lời đó xuất phát từ miệng người mẹ thì mẹ là hiền, nếu xuất phát từ vợ thì người vợ không khỏi mang tiếng là ghen tuông. Cũng là một lời, người nói mà khác thì lòng người cũng khác. Nay tôi mới ở Tần qua, mà bảo không nên cắt đất cho Tần thì kế hoạch đó hỏng, mà bảo là nên cắt đất thì sợ nhà vua ngờ tôi là vì Tần, cho nên tôi không dám đáp. Tôi mà vì nhà vua mưu tính thì không vì bằng cho đi.

- Phải.

Ngu Khanh hay tin, vô yết kiến vua, vua kể lại lời của Lâu Hoãn. Ngu Khanh bảo:

- Đó là mượn cớ mà nói.

(Tần đã giải vây cho Hàm Đan, vua Triệu vô triều, sai Triệu Thích hứa thờ Tần và cắt đất sáu huyện để cầu hoà)[9].

Vua hỏi:

- Sao vậy?

- Tần đánh Triệu, nhà vua cho rằng vì mệt mỏi mà rút quân về, hay còn dư sức để tiến, nhưng vì quí mến nhà vua mà không tiếp tục đánh?

- Tần đánh ta, không còn dư sức, tất là mệt mỏi mà rút quân về.

- Tần dùng sức công phá mà không chiếm được, mệt mỏi mà phải quay về; nay nhà vua lại đem cái họ không chiếm nổi mà tặng họ, thế là giúp cho Tần mạnh mà đánh lại mình. Sang năm Tần sẽ tấn công nhà vua nữa, lúc đó vô phương cứu.

Vua kể lại lời của Ngu Khanh cho Lâu Hoãn hay. Lâu Hoãn bảo:

- Ngu Khanh biết rõ lực lượng của Tần không?

Nếu quả thực biết lực lượng của Tần không đủ thì dẫu chỉ là một hòn đất, cũng không cho. Đợi sang năm Tần lại tấn công, lúc đó nhà vua có thể không cắt đất để cầu hoà không?

Vua hỏi:

- Nghe lời ông mà cắt đất cho Tần, ông có thể cam đoan rằng sang năm Tần không tấn công ta nữa không?

Lâu Hoãn đáp:

- Điều đó tôi không dám cam đoan. Xưa kia, Tam Tấn giao thiệp với Tần, hai bên rất thân thiện. Nay Tần phóng thích cho Hàn, Nguỵ mà chỉ đánh nhà vua thì nhất định là nhà vua không thờ Tần như Hàn, Nguỵ thờ Tần. Muốn giải trừ cái hoạ vì trái ý Tần mà bị Tần đánh, thì mở cửa ải, lưu thông hoá tệ, cùng thân thiện với Tần như Hàn, Nguỵ. Sang năm, nếu nhà vua riêng không được Tần vừa lòng thì tất do nhà vua thờ Tần không bằng Hàn, Nguỵ thờ Tần. Điều đó, tôi không dám cam đoan.

Vua đem lời Lâu Hoãn nói với Ngu Khanh. Ngu Khanh bảo:

- Lâu Hoãn bảo: “Không cầu hoà thì sang năm Tần lại đánh và lúc đó nhà vua có thể không cắt đất cầu hoà được không?”. Mà nay cầu hoà thì Lâu Hoãn lại không cam đoan rằng sang năm Tần sẽ không đánh. Như vậy, cắt đất có ích gì? Sang năm lại bị đánh, lại phải cắt đất mình giữ không được để cầu hoà, đó là một cách tự tử, tốt hơn là không cầu hoà. Tuy Tần giỏi đánh nhưng không chiếm được sáu thành; Triệu tuy không giữ được nhưng không đến nổi mất cả sáu thành. Tần mệt mỏi mà rút quân về, tất phải giải binh; ta dùng năm thành mà thu lòng thiên hạ[10], để đánh Tần vì mệt mỏi mà giải binh, như vậy ta có mất thành cho thiên hạ nhưng lại được bù thường lại ở Tần, mà còn có lợi. So với cách ngồi yên cắt đất, tự làm cho mình yếu đi để cho Tần mạnh lên, thì cách nào hơn?

Lâu Hoãn bảo: “Tần thân thiện với Hàn, Nguỵ mà đánh Triệu, nguyên do tất phải là vì nhà vua thờ Tần không bằng Hàn, Nguỵ thờ Tần”. Kế ấy khiến cho nhà vua mỗi năm đem sáu thành dâng Tần, như vậy là ngồi đó mà trông thấy đất đai mất lần cho tới hết! Sang năm Tần lại đòi cắt đất, nhà vua sẽ cho không? Không cho thì mất toi công trước[11] mà lại gây hoạ với Tần; cho thì còn đất đâu mà cho? Tục ngữ có câu: “Kẻ mạnh thì giỏi tấn công, kẻ yếu thì không biết tự vệ”. Nay ngồi yên tuân lệnh Tần, Tần không làm mệt binh sĩ mà được nhiều đất, như vậy là làm cho Tần thêm mạnh mà Triệu thêm yếu. Tần đã mạnh lại làm cho nó mạnh thêm, Triệu đã yếu lại còn cắt đất cho nó yếu thêm. Cư như vậy, không biết tới đâu mà ngừng. Vả lại Tần là nước sài lang, không có lòng lễ nghĩa, đòi cắt đất hoài, mà đất của nhà vua thì có hạn. Đem số đất có hạn để cung cấp lòng yêu sách vô cùng, nước Triệu thế tất bị diệt vong mất. Cho nên tôi bảo lời của Lâu Hoãn là mượn cớ mà nói, nhà vua nhất định đừng cắt đất cho Tần.

- Phải.

Lâu Hoãn hay được, vô yết kiến vua, vua kể lại lời của Ngu Khanh, Lâu Hoãn bảo:

- Không phải vậy. Ngu Khanh chỉ biết một mà không biết hai. Tần với Triệu gây chiến nhau, mà thiên hạ đều vui là tại sao? Họ đều nói: “Ta sẽ nương thế kẻ mạnh mà xâm chiếm kẻ yếu”[12]. Nay quân Triệu bị khốn vì quân Tần thì những nước trong thiên hạ mừng kẻ thắng tất đều đứng về phe Tần. Cho nên không gì bằng gấp cắt đất cầu hoà để nghi gián thiên hạ, lấy lòng Tần. Không vậy thì thiên hạ sẽ nhân lúc Tần giận dữ mà Triệu thì khốn đốn, cùng nhau cắt xé Triệu. Triệu mất rồi thì còn mưu tính đánh Tần sao được nữa? Xin đại vương nghĩ vậy mà quyết đoán đi, đừng bàn gì thêm nữa.

Ngu Khanh hay được, lại vô yết kiến vua, bảo:

- Nguy mất! Lâu Tử làm tay sai cho Tần rồi! Binh Triệu mà bị khốn vì Tần, nay lại cắt đất cầu hoà thì lại càng làm cho thiên hạ thêm nghi, mà có làm vui lòng Tần được chỗ nào đâu? Như vậy chẳng phải là tuyên bố với thiên hạ rằng mình yếu ư? Vả lại khi tôi bảo đừng cho đất thì không phải chỉ là không cho đất mà thôi. Tần đòi sáu thành của nhà vua, nhà vua đem năm thành hối lộ nước Tề, Tề với Tần vốn thâm thù nhau, nay Tề được năm thành của nhà vua sẽ đem toàn lực qua phía tây mà đánh Tần. Tề sẽ nghe liền, không đợi nhà vua nói hết lời nữa. Như vậy nhà vua mất đất cho Tề mà được bù lại ở Tần, làm một việc mà kết thân được với ba nước[13] mà lại cùng với Tần đổi lẫn tình thế của nhau[14].

Vua Triệu đáp:

- Phải.

Rồi sai Ngu Khanh qua phía đông yết kiến vua Tề, bàn mưu đánh Tần. Ngu Khanh chưa về thì thì Tần sai sứ tới Triệu. Lâu Hoãn hay tin bỏ trốn.

--------------
[1] Triệu Huệ Văn Vương, còn gọi là Triệu Vương (298 tr.T.L-266 tr.T.L), tên là Hà.

[2] Đô Bình Quân: là tước phong cho Điền Đan.

[3] Mã Phục: là tước phong của Triệu Xa.

[4] Vợ chồng Can Tướng là người nước Ngô, chế được đôi kiếm rất tốt, câu “dương” gọi là Can Tướng, cây “âm” gọi là Mạc Da.

[5] Ám chỉ việc Tề đem mười vạn quân đánh nước Kinh. Có sách lại bảo ám chỉ việc Tề bị Yên Chiêu Vương đánh thua.

[6] Ý nói ấp nọ gần ấp kia, vì dân đã đông đúc.

[7] Triệu Hiếu Thành Vương (265 tr.T.L-245 tr.T.L). (Goldfish).

[8] Lâu Hoãn: có thời làm tể tướng ở Tần, đời Tần Chiêu Tương Vương (theo chú thích bài Tần IV 3). Trong bài này, có lẽ Lâu Hoãn chưa làm hoặc không còn làm tể tướng ở Tần nữa. (Goldfish).

[9] Câu này có vẻ như dư hoặc đặt không đúng chỗ (để đầu truyện phải hơn), nên chúng tôi cho vào trong ngoặc.

[10] Ý nói đem năm thành đó tặng cho nước khác để nước đó cùng với mình đánh Tần.

[11] Ý nói trước cắt đấng để được lòng Tần, nay Tần đòi nữa mà không cho thì sẽ mất lòng Tần, mà trước kia cắt đất hoá ra chẳng có lợi gì cả.

[12] Kẻ mạnh đây chỉ Tần.

[13] Tức Tề, Hàn, Nguỵ.

[14] Ý nói Tần đương mạnh sẽ hoá ra yếu còn Triệu đương yếu sẽ hoá mạnh.

12. LỖ TRỌNG LIÊN KHÔNG CHỊU TÔN VUA TẦN LÀM ĐẾ
(Tần vi Triệu chi Hàm Đan)

Tần vây thành Hàm Đan của Triệu. Vua Nguỵ là An Li Vương[1] sai tướng là Tấn Bỉ cứu Triệu. Tấn Bỉ sợ Tần, đóng quân ở Thanh Âm[2], không tiến nữa. Vua Triệu sai một khách tướng[3] là Tân Viên Diễn lén vào Hàm Đan, nhờ Bình Nguyên Quân tâu với vua Triệu:

- Tần sở dĩ gấp vây Triệu là vì trước kia tranh hùng với Tề Mẫn Vương để lên ngôi đế, sau Tần bỏ đế hiệu cũng là tại Tề[4]. Nay Tề yếu hơn hồi Mẫn Vương, chỉ có Tần là xưng hùng trong thiên hạ. Tần đánh Triệu không nhất định ham thành Hàm Đan đâu mà thâm ý là muốn làm hoàng đế. Nếu Triệu sai sứ sang tôn Tần làm đế, Tần tất mừng mà lui binh.

Bình Nguyên Quân âm thầm do dự, chưa quyết định ra sao. Lúc đó Lỗ Trọng Liên vừa qua Triệu, gặp lúc quân Tần vây Triệu, nghe nói tướng Nguỵ thuyết Triệu tôn Tần làm hoàng đế, bèn vô yết kiến Bình Nguyên Quân, hỏi:

- Sự thể tính ra sao?

Bình Nguyên Quân đáp:

- Thắng tôi đâu dám bàn về việc ấy! Cả trăm vạn quân Triệu thua trận ở ngoài, ngày nay Tần lại vô trong vây Hàm Đan, không có cách nào triệt họ được. Vua Nguỵ sai tướng là Tân Viên Diễn bảo Triệu tôn Tần làm hoàng đế, người đó hiện ở đây, Thắng tôi đâu dám bàn về việc ấy!

Lỗ Trọng Liên bảo:

Trước kia tôi cho ông là một vị công tử hiền năng trong thiên hạ, bây giờ tôi mới biết rằng ông không phải là một vị công tử hiền năng trong thiên hạ. Ông khách nước Lương là Tân Viên Diễn đó ở đâu? Tôi xin thay ông mà trách ông ta và bảo ông ta về nước đi.

- Thắng tôi xin mời ông ta lại yết kiến tiên sinh.

Nói xong Bình Nguyên Quân đi kiếm Tân Viên Diễn, bảo:

- Nước phía đông[5] có ông Lỗ Trọng Liên, ông ấy có mặt tại đây, Thắng tôi xin giới thiệu với tướng quân để hai người hội kiến.

Tân Viên Diễn bảo:

- Tôi nghe danh ông Lỗ Trọng Liên là bực cao sĩ nước Tề; Diễn là bề tôi, vua sai đi có nhiệm vụ riêng, nên tôi không muốn gặp ông Lỗ Trọng Liên.

Bình Nguyên Quân đáp:

- Thắng tôi đã lỡ tiết lộ việc đó rồi.

Tân Viên Diễn bèn nhận lời.

Lỗ Trọng Liên gặp Tân Viên Diễn mà không nói gì cả. Tân Viên Diễn hỏi:

- Theo tôi thấy, những ai vô trong cái thành bị vây này cũng là muốn cầu cạnh ông Bình Nguyên Quân một việc gì. Nay tôi thấy mặt ngọc của tiên sinh thì ra không phải có điều gì muốn cầu cạnh ông Bình Nguyên Quân hết; thế thì tại sao ở lâu trong cái thành bị vây này mà không đi?

Lỗ Trọng Liên đáp:

- Người đời cho rằng Bào Tiêu không khoan dung với mình mà đến nỗi chết, lời đó sai. Người thường không biết, cho rằng ông ấy chết chỉ vì cái thân của ông ấy (sự thực là ông ấy có hoài bảo khác) [6]. Tần kia là nước bỏ lễ nghĩa, trọng cái công chặt đầu người[7], dùng thủ đoạn mà sai khiến tướng sĩ, dùng chính sách nô lệ mà sai khiến dân chúng; nếu nó càn rỡ xưng đế, thậm chí thống trị thiên hạ[8], thì Liên tôi gieo mình xuống biển đông mà chết thôi, chứ không cam tâm làm dân của nó. Tôi sở dĩ lại yết kiến tướng quân là muốn giúp Triệu đấy.

- Tiên sinh giúp cách nào?

- Tôi sẽ khuyên Ngụy và Yên giúp Triệu, Tề và Sở vốn sẵn lòng giúp Triệu rồi.

- Nói về nước Yên thì tôi xin đồng ý với tiên sinh[9], còn nói về nước Lương thì tôi là người Lương đây, tiên sinh làm cách nào cho Lương giúp Triệu?

- Là vì nước Lương chưa thấy cái hại Tần xưng đế đấy, nếu Lương thấy được cái hại Tần xưng đế thì tất sẽ giúp Triệu.

Tần xưng đế thì hại ra sao?[10]

- Xưa Tề Uy Vương từng làm điều nhân nghĩa, thống lĩnh chư hầu lại triều kiến vua Chu. Thời đó nước Chu nghèo yếu, chư hầu không chịu triều kiến, chỉ có một mình Tề lại triều kiến. Hơn một năm sau, vua Chu Liệt Vương băng. Các chư hầu đều tới điếu tang, riêng Tề là tới trễ, vua Chu An Vương[11] giận, mắng Tề rằng: “Thiên tử băng cũng như trời sụp đất lở, vị thiên tử mới nối ngôi phải nằm trên chiếu cỏ, ở nhà lá[12]; ngươi, Điền Anh nước Tề, là bề tôi ở phía đông, tới trễ, đáng tội chết chém! Tề Uy Vương nổi giận mắng lại: “Hừ! hừ! Đồ con cái nữ tì kia!”. Vì vậy Chu An Vương bị thiên hạ cười chê. Thành thử hồi Chu Liệt Vương còn sống thì Tề Uy Vương lại triều kiến, khi Chu Liệt Vương mất thì lại chửi rủa Chu An Vương, là vì nhịn không được thói khắt khe của Chu An Vương. Các vị thiên tử vốn có thói đó, không có gì là lạ[13].

Tân Viên Diễn bảo:

- Tiên sinh không lẽ nào không thấy bọn đầy tớ kia! Mười người theo hầu một kẻ. Nào phải vì mình người đó sức không hơn, trí không bằng kẻ kia. Vì sợ đấy!

Lỗ Trọng Liên đáp:

- Vậy thì Lương đối với Tần như đầy tới đối với chủ sao?

- Chính vậy.

- Nếu vậy thì tôi sẽ khiến vua Tần đem vua Lương mà nấu nướng, làm mắm cho rồi!

Tân Viên Diễn tỏ vẻ không vui, than rằng:

- Ôi! Tiên sinh sao nói quá vậy! Tiên sinh làm sao có thể khiến vua Tần đem vua Lương nấu nướng, làm mắm được?

Lỗ Trọng Liên đáp:

- Có chứng cứ đấy, đợi tôi kể cho mà nghe! Xưa kia, Quỷ Hầu, Ngạc Hầu[14], Văn Vương làm chức tam công[15] cho vua Trụ. Quý Hầu có người con gái đẹp, đem dâng cho vua Trụ, vua Trụ không ưa nàng, đem Quý Hầu làm mắm, Ngạc Hầu vội biện hộ và can vua Trụ, mà bị vua Trụ xẻ thịt làm khô, Văn Vương hay tin, buồn rầu than thở, nên bị giam vào ngục Dữu Lí trăm ngày, suýt bị tội chết nữa. Thế thì vì đâu tôn người ta làm đế vương mà rồi bị người ta đem ra làm mắm, làm khô thịt?

Khi Tề Mẫn Vương muốn qua Lỗ, một người ở Di Duy[16] cầm roi ngựa theo hầu, hỏi người nước Lỗ: “Các ông dự bị gì để đãi vua nước ta”. Người nước Lỗ đáp: “Chúng tôi sẽ làm lễ mười bò, dê, lợn[17] để đãi vua nước ông”. Người ở Di Duy bảo: “Như vậy là ông theo cái lễ nào mà đãi vua nước ta vậy? Vua nước ta là thiên tử, thiên tử đi tuần thú thì chư hầu phải rời chính thất của mình, nộp khoá, chìa khoá, vén áo, ôm ghế[18], đứng ở dưới thềm, hầu cơm thiên tử, đợi thiên tử ăn xong rồi mới lui mà thính triều[19]. Người nước Lỗ nghe vậy, liệng chìa khoá đi, không chịu nộp. Tề Mẫn Vương không vô được nước Lỗ, định qua nước Tiết, phải mượn đường nước Trâu. Lúc đó vua nước Trâu mới băng. Mẫn Vương tính lại điếu tang. Người ở Di Duy nói với người kế vị nước Trâu: “Thiên tử tới điếu tang thì chủ nhân[20] phải quay lưng vào quan tài, đem linh vị đặt ở phía nam mà hướng về phía bắc, rồi sau thiên tử mới hướng về phía nam mà điếu[21]. Quần thần nước Trâu bảo: “Nếu phải như vậy thì chúng tôi xin dùng gươm tự sát”. Thế là Mẫn Vương không dám vô nước Trâu. Các bề tôi Trâu và Lỗ, hồi vua của họ còn sống, không được phụng sự cung dưỡng vua, khi vua họ mất không được làm lễ phạn hàm[22] mà vua Tề bắt họ phải dùng cái lễ thiên tử mà đãi vua Tề, họ còn không chịu thay[23]. Tần có vạn cỗ xe, Lương cũng có vạn cỗ xe, đều là những nước vạn thặng, đều xưng vương. Lương mới thấy Tần thắng một trận mà đã muốn phục tòng, tôn Tần làm đế, thế thì ra các vị đại thần Tam Tấn không bằng bọn nô tì của Trâu, Lỗ ư?

Vả lại Tần không bỏ cái dã tâm, một ngày kia mà xưng đế thì thay đổi hết các vị đại thần của các nước chư hầu. Họ sẽ triệt hết những người mà họ cho là bất tiếu, bổ nhiệm những kẻ mà họ cho là hiền năng, triệt hết những người họ ghét mà bổ nhiệm những kẻ họ yêu; họ lại sai con gái và hạng tì thiếp sàm nịnh, làm phi tần các vua chư hầu, vô ở trong cung nước Lương thì vua Lương làm sao mà ở yên được? Và tướng quân làm sao mà còn được sủng ái như trước nữa.

Tân Viên Diễn nghe xong, đứng dậy, vái hai vái, tạ lỗi:

- Trước tôi cho tiên sinh là hạng phàm nhân, nay tôi mới biết rằng tiên sinh là bậc sĩ trong thiên hạ! Tôi xin về đây, không dám bàn việc tôn Tần làm đế nữa.

Tướng Tần hay tin đó, bèn lui binh năm chục dặm. Vừa may gặp lúc công tử nước Nguỵ là Vô Kỵ[24] đoạt được binh của Tấn Bỉ[25], tới cứu Triệu, đánh Tần, Tần phải rút quân về.

Lúc đó, Bình Nguyên Quân muốn phong Lỗ Trọng Liên, Lỗ Trọng Liên ba lần từ chối, tới cùng không chịu nhận. Bình Nguyên Quân bèn bày rượu mời, đương lúc vui chén, đứng dậy lấy ngàn vàng tặng Lỗ Trọng Liên, Lỗ Trọng Liên cười đáp:

- Kẻ sĩ sở dĩ đáng quí trong thiên hạ là vì giải trừ được hoạn nạn, cởi bỏ được mối rối loạn mà không chịu nhận một chút báo đáp nào cả. Nếu nhận sự báo đáp thì thành con buôn rồi, Lỗ Trọng Liên tôi không nỡ làm như vậy.

Rồi từ biệt Bình Nguyên Quân, tới chết, không ai còn được thấy ông nữa.

15. COI QUỐC GIA KHÔNG BẰNG MỘT THƯỚC LỤA
(Kiến Tín Quân quí ư Triệu)

Kiến Tín Quân được vua Triệu (Hiếu Thành Vương) sủng ái. Công tử Nguỵ Mâu[26] qua Triệu, vua Triệu ra đón rồi trở về chỗ cũ ngồi, trước mặt có thước lụa mà ông bảo thợ dùng làm mão. Người thợ làm mão thấy khách tới bèn lui ra.

Vua Triệu bảo Nguỵ Mâu:

- Công tử ngồi xe chậm[27] tới thăm, quả nhân lấy làm hân hạnh, mong công tử chỉ cho cách trị nước.

Nguỵ Mâu đáp:

- Nếu đại vương biết quí nước của đại vương như thước lụa này thì nước của đại vương tất được thịnh trị!

Vua Triệu không vui, vẻ mặt bất bình, bảo:

- Tiên vương không biết rằng quả nhân bất tiếu nên mới giao xã tắc cho quả nhân, nhưng quả nhân đâu dám khinh nước Triệu đến vậy!

Nguỵ Mâu đáp:

- Xin đại vương đừng giận, để tôi xin giảng. Đại vương có thước lụa này sao không ra lệnh quan lang trung[28] đây cắt làm chiếc mão?

- Quan lang trung đâu biết làm mão.

- Làm mão mà hỏng thì có hại gì cho nước đại vương đâu, vậy mà đại vương phải đợi có thợ rồi mới sai làm. Còn việc nước thì cơ hồ như khác: xã tắc[29] hương tàn khói lạnh[30], tiên vương không được cúng tế[31] vì đại vương không giao việc nước cho người tài giỏi, lại giao cho kẻ trẻ và đẹp[32]. Vả lại, tiên đế của đại vương cưỡi đầu tê mà đánh xe ngựa[33] chiến đấu với Tần, Tần phải tránh, không dám đương đầu. Nay đại vương lông bông ngồi xe[34] Kiến Tín để chiến đấu với cường Tần, tôi e rằng Tần sẽ làm tan nát hông xe đại vương mất.

16. NẰM MỘNG THẤY VUA TÁO
(Vệ Linh Công cận Ung Thư)

Vệ Linh Công gần gũi bọn Ung Thư, Di Tử Hà[35]. Hai người đó chuyên quyền mà che lấp kẻ tả hữu của vua. Phục Đồ Trinh[36] nói với vua:

- Đêm qua tôi nằm mộng thấy vua.

Vua hỏi:

- Mộng ra sao?

- Mộng thấy vua Táo.

Vua giận, hầm hầm bảo:

- Ta nghe nói mộng thấy mặt trời thì là mộng thấy vua; nay ngươi nói mộng thấy Táo Quân mà lại bảo là mộng thấy vua. Giảng được thì tha, không giảng được thì bị tội chết!

Đáp:

- Mặt trời thì chiếu khắp thiên hạ, không vật gì che nổi; còn Táo Quân thì không vậy, có người đứng trước che khuất thì người đứng sau không sao thấy được. Nay tôi ngờ rằng có người che khuất đại vương, nên nằm mộng thấy vua Táo.

Vua bảo:

- Được!

Rồi đuổi bọn Ung Thư, Di Tử Hà mà dùng Tư Không Cẩu[37].

----------------
[1] An Li Vương 安 釐 王 (277 tr.T.L-243 tr.T.L). Sách in sai thành An Hi Vương. (Goldfish).

[2] Thanh Âm: trên mạng, một số bản chép là Thang Âm 湯陰, một số khác chép là Đãng Âm 蕩陰. Chắc sách in sai Thang Âm thành Thanh Âm. (Goldfish).

[3] Khách tướng: là một người nước khác, lại nước Nguỵ, được vua Nguỵ dùng làm tướng lãnh. Chữ khách đó cũng như chữ khách trong khách khanh. Nước Lương tức nước Nguỵ. Thời Nguỵ Huệ Vương, đổi tên nước là Lương.

[4] Tô Đại thuyết Tề Mẫn Vương bỏ đế hiệu, vì vậy Tần cũng bỏ đế hiệu.

[5] Tề ở phía đông, cho nên gọi như vậy.

[6] Bào Tiêu: là một ẩn sĩ đời Chu, chán đời, tự tử. Lỗ Trọng Liên đây muốn nói rằng: mình không rời thành bị vây này là vì không nghĩ tới thân mà có hoài bảo khác. Diệp Ngọc Lân và Crump đều dịch là: ngày nay người ta không hiểu tôi mà cho rằng tôi hành động là vì bản thân tôi.

[7] Theo phép luật của Tần, ai có công chém được đầu giặc thì được thăng một cấp.

[8] Crump dịch là: nếu kẻ càn rỡ đó được tôn làm đế mà những hành động quả quyết của hắn được làm mực thước trong thiên hạ.

[9] Crump dịch là: tôi đã có thể xin liên kết được rồi.

[10] Trong sách in là: “- Tần xưng đế thì có hại ra sao?”. Tôi nghĩ rằng người hỏi câu đó là Tân Viên Diễn, nên đã loại bỏ dấu gạch đầu dòng ( - ). (Goldfish).

[11] Tức con Chu Liệt Vương.

[12] Hồi đó, tục để đại tang như vậy.

[13] Trong đoạn này, Lỗ Trọng Liên muốn cho Tân Viên Diễn thấy rằng Tần mà làm thiên tử sẽ đối xử với chư hầu cũng khắc khe, vênh váo như vậy.

[14] Quỷ Hầu, Ngạc Hầu: đều là chư hầu của Chu.

[15] Tam công: ba chức quan lớn nhất thời đó: thái sư, thái phó, thái bảo.

[16] Di Duy: là tên đấy, nay ở Sơn Đông.

[17] Có sách giảng mười xe thái lao. [Nguyên văn: thập thái lao 十 太 牢. (Goldfish)].

[18] Ý nói phải hầu hạ như đầy tớ hầu hạ chủ.

[19] Thính triều: là vô triều nghe các quan tâu mọi việc.

[20] Chỉ vua kế vị.

[21] Theo nghi lễ thời đó, thiên tử trong các buổi lễ, đều ngồi quay mặt về phía nam, chư hầu quay mặt về phía bắc.

[22] Lễ phạn hàm: khi khâm liệm người chết, người ta cạy miệng ra bỏ ít hột gạo và vài viên ngọc vào. Tục đó, đến gần đây, người ta còn giữ.

[23] Ý nói các bề tôi của Trâu và Lỗ đó, tình đối với vua không thực là thân thiết, không nhất thiết là những cận thần, chỉ như hạng tôi tớ của vua, mà còn biết giữ thể diện cho vua, cho nước như vậy, huống hồ là vua Lương mà lại chịu nhục với vua Tần ư?

[24] Vô Kỵ: tức Tín Lăng Quân, con vua Nguỵ.

[25] Tấn Bỉ: sợ quân Tần, không dám tiến, Vô Kỵ giết Tấn Bỉ, chiếm lấy quân đem đánh Tần.

[26] Công tử của nước Nguỵ tên là Mâu.

[27] Nguyên văn: hậu xa là xe ở sau, nghĩa là xe đi chậm, sau những xe khác.

[28] Nguyên văn: tiền lang trung nghĩa là quan lang trung ở trước mặt

[29] Xã: là nền tế thần đật, tắc là nền tế thần nông.

[30] Nguyên văn: hư lệ: là trống rỗng, sụp đổ.

[31] Nguyên văn: huyết thực là ăn huyết; hồi xưa giết các bò, dê, lợn… lấy huyết tươi để cúng.

[32] Chỉ Kiến Tín Quân.

[33] Nguyên văn: dá tê thủ nhi tham mã phục, Nguỵ Mâu ở đây chơi chữ. Tê thủ có nghĩa là đầu con tê, lại có nghĩa là một chức quan lớn ở triều đình, đây ám chỉ Công Tôn Diễn; mã phục có nghĩa là ngựa và yên cương đóng vào ngựa, lại là tước phong của Triệu Sa (hoặc Triệu Quát) một vị tướng của Triệu thời trước. [Triệu Sa có lẽ là Triệu Xa 赵奢 (trong bài Triệu II 1), do sách in lầm mà thành Triệu Sa? (Goldfish)].

[34] Vì đã chơi chữ như trên, Nguỵ Mâu ở đây dùng chữ tiễn là ngồi chiếc xe của vua. Ngồi xe Kiến Tín là ngồi xe do Kiến Tín đánh.

[35] Ung Thư là sủng thần của Vệ Linh Công, Hán Thư chép là Ung Cử. Di Tử Hà là một tên kép thời đó, rất đẹp trai, cũng được Vệ Linh Công yêu.

[36] Phục Đồ Trinh: là người nước Vệ.

[37] Tư Không Cẩu: là người tên Cẩu, làm chức Tư Không. Có sách gọi là Sư Cẩu hoặc Tư Mã Cẩu.
[Bài này sao không cho vào Vệ sách mà lại đặt trong Triệu sách?
TRIỆU IV

1. TỀ THUYẾT TRIỆU NÊN THÂN THIỆN VỚI TỀ
(Vi Tề hiến thư Triệu Vương)

Có người thay vua Tề dâng thư lên vua Triệu (Hiếu Thành Vương), bảo vua Triệu:

- Tôi chỉ được yết kiến một lần là có thể khiến cho nhà vua ngồi đó mà hưởng được danh hiệu và đất đai trong thiên hạ[1], tôi trộm lấy làm lạ rằng sao mà nhà vua không thử cho tôi yết kiến, để cho tôi phải khốn cùng. Quần thần tất có nhiều người cho rằng tôi bất tài, cho nên nhà vua mới không cho tôi yết kiến. Những kẻ cho là bất tài, nguyên do không có gì lạ. Họ muốn dùng binh đội của nhà vua mà thực hiện lợi riêng của họ. Nếu không vậy thì là trong giao tình có chỗ thiên lệch. Nếu không vậy nữa thì là trí lực của họ không đủ. Nếu không vậy nữa thì là họ muốn đem cái trọng trách trong thiên hạ ra doạ nhà vua để nhà vua làm theo ý họ. Tôi cho rằng nước Tề chịu theo thờ nhà vua thì nhà vua có thể diệt được Yên, có thể diệt được Hàn, Nguỵ, có thể tấn công Tần, làm cho Tần cô lập. Tôi cho rằng Tề mà tặng nhà vua cái danh chí tôn thì nước nào dám không tặng nhà vua cái danh chí tôn? Tôi cho rằng Tề mà tặng nhà vua đất đai thì còn nước nào dám không tặng nhà vua đất đai? Tôi cho rằng Tề thay nhà vua cầu danh[2] với Yên và Hàn, Nguỵ thì nước nào mà dám chối từ? Cái tài của tôi coi việc trước cũng đủ thấy rồi. Tề có tôn trọng nhà vua rồi thì thiên hạ mới đều tôn trọng nhà vua; không có Tề thì thiên hạ đều khinh nhà vua. Tần mạnh như vậy, không có Tề giúp nên mới tôn trọng nhà vua; Yên, Nguỵ vì không có Tề giúp nên mới tôn trọng nhà vua. Nay nếu nhà vua không có Tề giúp thì làm sao mà không mất lòng tôn trọng của thiên hạ cho được? Cho nên những kẻ khuyên nhà vua nên tuyệt giao với Tề, nếu không phải là trí lực bất túc thì là có lòng bất trung. Nếu không phải vậy thì là muốn dùng binh đội của nhà vua mà thực hiện lợi riêng của họ. Nếu không phải vậy nữa thì là họ muốn đem cái trọng trách trong thiên hạ ra mà doạ nhà vua để nhà vua làm theo ý họ. Nếu không phải vậy nữa thì là chức vị của họ cao mà tài năng của họ thấp. Xin nhà vua suy nghĩ kỹ về cái lợi hại không được Tề giúp.

6. PHẠM TOẠ SUÝT BỊ NGU KHANH HÃM HẠI
(Ngu Khanh thỉnh Triệu Vương)

Ngu Khanh hỏi Triệu Vương:

- Lòng con người là muốn được người triều phục mình hay là muốn triều phục người?

Vua Triệu đáp:

- Ai cũng muốn được người triều phục mình chứ có lý gì lại muốn triều phục người.

Ngu Khanh bảo:

- Nguỵ làm minh chủ các nước hợp tung mà người chống đối là Phạm Toạ[3]. Nay nhà vua đem trăm dặm đất hoặc một ấp vạn nóc nhà dâng vua Ngụy để vua Nguỵ giết Phạm Toạ, Phạm Toạ chết rồi thì chức minh chủ các nước hợp tung sẽ dời về Triệu.

- Phải.

Rồi sai người đem trăm dặm đất dâng vua Nguỵ để xin giết Phạm Toạ. Vua Nguỵ bằng lòng, sai quan tư đồ giam Phạm Toạ nhưng chưa giết.

Phạm Toạ dâng thư lên vua Nguỵ, tâu:

- Tôi nghe vua Triệu dâng nhà vua trăm dặm đất, quả là lợi lớn, tôi xin trộm vì đại vương mừng về việc đó! Nhưng có điều này là trăm dặm đất đã không thể được mà kẻ bị giết cũng không sống lại được, mà đại vương tất bị thiên hạ chê cười. Tôi trộm nghĩ rằng dùng kẻ chết để cầu lợi thì không bằng dùng kẻ sống để cầu lợi.

Rồi gởi thư cho vị tướng quốc sau[4] là Tín Lăng Quân. Thư rằng:

- “Triệu và Nguỵ là hai nước ngang sức nhau. Vua Triệu gởi một bức thư ngắn tới[5]. Vua Nguỵ khinh suất định giết kẻ vô tội là Toạ tôi, Toạ tuy bất tiếu nhưng đã từng làm tướng quốc cho Nguỵ, đã từng vì Nguỵ mà mang tội với Triệu. Trong nước mà không biết dùng bề tôi thì ở nước ngoài, tuy có được đất cũng không giữ được. Ngày nay, người giữ được nước Nguỵ thì không ai bằng ông. Sau khi nhà vua nghe lời Triệu mà giết Toạ rồi, cường Tần tất đánh lén Triệu[6], phản đối sự cắt đất cho Nguỵ thì ông dùng kế gì mà ngăn Tần? Đó là nỗi lo của ông đấy”.

Tín Lăng Quân bảo: “Phải”. Rồi vội vô tâu với vua phóng thích Phạm Toạ.

12. PHÙNG KỴ YẾT KIẾN VUA TRIỆU
(Phùng Kỵ thỉnh kiến Triệu Vương)

Phùng Kỵ xin yết kiến vua Triệu (Hiếu Thành Vương), người hầu cho vô. Phùng Kỵ chấp tay, cuối đầu, muốn nói mà không dám. Vua hỏi tại sao. Đáp:

- Khách (của Phục Tử) dẫn người vào yết kiến Phục Tử, khi người đó ra rồi, khách hỏi Phục Tử người đó có lỗi gì không. Phục Tử đáp:

“- Khách của ông chỉ có ba lỗi: ngó tôi mà cười, như vậy là nhờn; đàm luận mà không tâng bốc, như vậy là bội nghịch; giao tình còn sơ mà lời thâm thiết, như vậy là loạn.

“Khách đáp:

“- Không phải vậy. Ngó người mà cười là có hoà khí; nói mà không thưa bẩm là lời bình thường, tự nhiên; giao tình còn sơ mà lời thâm thiết là có lòng trung. Xưa kia, vua Nghiêu gặp ông Thuấn ở chỗ nhà cỏ mái tranh, trải chiếu trên đất ruộng ở dưới bóng cây dâu, ngồi nói chuyện, tới khi bóng dâu ngả thì đã giao thiên hạ cho ông Thuấn rồi. Ông Y Doãn[7] phải bưng đỉnh, mâm để giúp vua Thang, lúc đó tên tuổi ông chưa ai biết mà được phong chức tam công. Nếu cứ giao tình còn sơ, không được nói lời thâm thiết thì ông Thuấn đâu được vua Nghiêu truyền cho thiên hạ mà ông Y Doãn đâu được phong chức tam công”.

Vua Triệu khen:

- Rất đúng.

Phùng Kỵ hỏi:

- Thế bây giờ kẻ ngoại thần[8] này, giao tình còn sơ muốn bàn việc thâm thiết, được không?

Vua đáp:

- Xin được nghe lời dạy bảo.

Như vậy rồi, Phùng Kỵ bèn đàm luận.

13. LỰA NGỰA VÀ LỰA TƯỚNG QUỐC
(Khách kiến Triệu Vương)

Có người khách (tức người ngoại quốc) vô yết kiến vua Triệu, hỏi vua Triệu:

- Tôi nghe nói nhà vua muốn sai người đi mua ngựa, có chăng?

Vua đáp:

- Có.

- Sao tới bây giờ vẫn chưa sai người ta đi?

- Chưa tìm được người biết coi tướng ngựa.

- Thế sao nhà vua không sai Kiến Tín Quân đi?

- Kiến Tín Quân bàn việc nước, vả lại không biết coi tướng ngựa.

- Thế sao nhà vua không sai bà Kỉ Cơ[9] đi?

- Kỉ Cơ là đàn bà, không biết coi tướng ngựa.

- Mua được ngựa tốt có ích gì cho nước không?

- Không ích gì cho nước.

- Mua phải ngựa xấu thì có hại gì cho nước không?

- Không hại gì cho nước.

- Vậy thì mua được ngựa tốt hoặc mua phải ngựa xấu cũng vậy thôi, không ích mà cũng không hại cho nước. Thế mà nhà vua muốn mua ngựa phải đợi được người giỏi coi tướng ngựa rồi mới sai đi. Nay trị thiên hạ, hành động mà thất đáng thì quốc gia nguy tan, xã tắc tro tàn khói lạnh[10], mà nhà vua không đợi tìm được người giỏi, đem giao phó cho Kiến Tín Quân là sao vậy?

Vua Triệu chưa biết đáp sao thì khách đã hỏi tiếp:

- Yên Quách có phép gọi là “tang ung”[11], nhà vua có biết không?

Vua đáp:

- Chưa hề nghe nói.

Bảo:

- “Tang ung” trỏ những bề tôi thân cận, sủng ái và những phu nhân, những con gái trẻ đẹp được vua yêu. Bọn đó đều khéo nhân lúc nhà vua say mê mà xin nhà vua điều mà họ muốn. Bọn họ mà đắc sủng ở trong thì đại thần làm trái phép ở ngoài. Cho nên mặt trời mặt trăng[12] sáng rỡ ở ngoài đấy mà ở trong có bệnh; cẩn thận đề phòng cái mình ghét mà bị tai hoạ về cái mình yêu.

14. LƯỢNG NGHỊ ĐI SỨ TẦN
(Tần công Nguỵ, thủ Ninh Ấp)

Tần đánh Nguỵ, chiếm Ninh Ấp[13], các nước chư hầu đều chúc mừng Tần. Vua Triệu sai sứ tới mừng, sứ ba lần đi về mà không được tiếp. Vua Triệu lo, bảo kẻ tả hữu:

- Tần mạnh mà lại được đất Ninh Ấp để khống chế Tề, Triệu. Các nước chư hầu đều chúc mừng. Ta sai người qua mừng mà riêng sứ của ta không được tiếp. Như vậy tất Tần đem quân đánh ta, biết làm sao bây giờ.

Kẻ tả hữu đáp:

- Sứ giả tới ba lần mà không được tiếp thì nhất định là vì người sai đi đó không khéo nói. Lượng Nghị là bậc biện sĩ, đại vương sao không thử dùng ông ta.

Thế là Lượng Nghị nhận mệnh ra đi. Tới Tần, dâng thư lên vua Tần (Chiêu Vương), thưa:

- Đại vương mở rộng đất tới Ninh Ấp, chư hầu đều chúc mừng; vua tệ quốc cũng trộm tự mừng, không dám thờ ơ, nên sai bầy tôi đem lễ vật lại, ba lần tới triều đình đại vương mà không được yết kiến. Nếu sứ giả vô tội thì xin đại vương đừng làm mất cái vui của họ, nếu sứ giả có tội thì xin đại vương cho biết.

Vua Tần sai người hồi đáp:

- Ta sai bảo điều gì, bất kỳ lớn nhỏ, phải nghe lời ta thì ta mới nhận thư và lễ vật, nếu không theo lời ta thì sứ giả về đi!

Lượng Nghị đáp:

- Hạ thần tới đây vốn là xin được vâng ý đại quốc, đâu có không dám theo; nếu đại vương có ban lệnh gì thì hạ thần xin phụng mệnh mà về phía tây[14], không dám trì nghỉ.

Vua Tần bèn tiếp sứ giả, bảo:

- Triệu Báo[15] và Bình Nguyên Quân mấy lần khinh lờn quả nhân. Nếu vua Triệu giết hai người đó thì êm; nếu không giết thì quả nhân xin thống lĩnh chư hầu mà đợi lệnh vua Triệu ở dưới chân thành Hàm Đan.

Lượng Nghị đáp:

- Triệu Báo và Bình Nguyện Quân là em ruột cùng mẹ của vua tệ quốc, cũng như Diệp Dương Quân và Kinh Dương Quân đối với đại vương vậy. Đại vương có tiếng là dùng hiếu mà trị thiên hạ, y phục thứ nào thích hợp với thân thể, món ăn thứ nào hợp với khẩu vị, đều chia sớt cho Diệp Dương Quân và Kinh Dương Quân. Xe ngựa, y phục của Diệp Dương Quân và Kinh Dương Quân đều là một thứ với xe ngựa, y phục của đại vương. Hạ thần nghe nói rằng “thấy có ổ chim bị phá, trứng chim bị đập bể thì phượng hoàng không bay ra; thấy có loài thú bị mổ thai, loài thú con bị thiêu đốt thì kỳ lân không hiện”; nay đại vương bảo hạ thần nhận mệnh đại vương về báo với tệ quốc thì vua tệ quốc sợ sệt, không dám không thi hành, nhưng như vậy chẳng làm thương tâm Diệp Dương Quân và Kinh Dương Quân ư?

Vua Tần bảo:

- Phải. Vậy thì đừng cho hai kẻ đó tham chính.

Lượng Nghị đáp:

- Vua tệ quốc có em ruột cùng mẹ mà không biết dạy dỗ để đắc tội với đại quốc, xin biếm truất hai ông đó, không tham chính nữa để hợp ý đại quốc.

Vua Tần hoan hỉ, nhận lễ vật và hậu đãi sứ giả.

18. XÚC CHIỆP THUYẾT THÁI HẬU NƯỚC TRIỆU
(Triệu thái hậu tân dụng sự)

Thái hậu nước Triệu mới cầm quyền, Tần đem quân tấn công liền. Triệu cầu cứu với Tề, Tề đáp: “Phải đưa Trường An Quân[16] qua đây làm con tin rồi mới xuất quân cứu viện”. Thái hậu không chịu, các quan đại thần cố khuyên. Thái hậu nói thẳng với kẻ tả hữu: “Ai còn nói đến chuyện đưa Trường An Quân đi làm con tin thì già này tất nhổ vào mặt!”.

Quan Tả sư là Xúc Chiệp[17], xin vào yết kiến, thái hậu có vẻ giận mà tiếp. Xúc Chiệp tiến vô, chậm chạp bước, tới trước thái hậu rồi tự tạ tội rằng:

- Lão thần có bệnh ở chân cho nên không bước nhanh được. Trộm phép thái hậu tự thứ cho tội đó. Sợ ngọc thể không biết có sao không, nên hôm nay xin vào hầu[18].

- Mỗi ngày ăn uống không giảm chứ?

- Chỉ nhờ cháu thôi.

- Chỉ nhờ cháo thôi.

- Lão thần gần không muốn ăn, phải gắng sức đi bộ mỗi ngày ba bốn dặm mới hơi thèm ăn, nhờ vậy thân thể được điều hòa.

- Già này không gắng được như vậy.

Sắc mặt Thái hậu đã hơi nguội. Quan Tả sư nói:

- Đứa con hèn của lão thần là Thu Kì còn nhỏ lắm mà chẳng có tài năng gì cả, nhưng thần suy yếu, nên yêu dấu nó, xin thái hậu cho nó sung vào đoàn thị vệ[19] cho đủ số[20] để nó bảo vệ vương cung, thần sợ sệt mà tâu thái hậu.

- Xin vâng. Tuổi nó bao nhiêu?

- Mười lăm. Tuy nó còn nhỏ, nhưng trong lúc thân thể chưa bị vùi lấp xuống hố, rãnh[21] lão thần xin đem nó phó thác thái hậu.

- Bậc trượng phu mà cũng yêu thương con nhỏ sao?

- Còn hơn đàn bà nữa.

- Hơn cả đàn bà? Lạ nhỉ![22]

- Lão thần trộm nghĩ bà lão[23] yêu Yên hậu[24] hơn yêu Trường An Quân.

- Ông lầm rồi. Kém xa Trường An Quân.

- Cha mẹ yêu con thì tính kế lâu dài cho con. Bà lão lúc tiễn chân Yên hậu, níu lấy gót mà khóc, nghĩ thương cho cảnh xa xôi, thực là xót xa vô cùng. Khi Yên hậu đã đi rồi, không phải là không nhớ, vì lúc tế tự bà lão đều có cầu chúc cho Yên hậu, cầu rằng: “Xin cho đừng trở về”. Như vậy há chẳng phải lo tính chuyện lâu dài, mong cho Yên hậu có con cháu nối nhau làm vua ở Yên sao?

- Phải.

- Nay xét trở lui lại ba đời trước, từ hồi nước Triệu thành nước Triệu, con cháu các vị vua Triệu được phong hầu mà kế tiếp nhau giữ ngôi tới nay còn ai không?

- Không còn.

- Chẳng riêng gì nước Triệu, các nước chư hầu khác cũng vậy, tới nay còn ai không?

- Già này không nghe nói.

- Như vậy mà xét, họa gần thì xảy trong đời mình, họa xa thì xảy trong đời con cháu. Có phải tại con cháu các bậc vua chúa đều bất tiếu cả đâu; chỉ tại ngôi cao mà không có công, bổng lộc hậu mà không phải khó nhọc, lại ôm vàng ngọc quá nhiều đấy thôi. Nay bà lão tôn quí cái vị của Trường An Quân, phong cho những đất phì nhiêu, lại cấp cho nhiều vàng ngọc mà không bảo Trường An Quân nhân lúc này lập chút công với nước, thì rồi một ngày kia, gò núi sụp đổ,[25] Trường An Quân biết lấy gì mà gởi thân ở nước Triệu? Lão thần cho rằng bà lão tính kế cho Trường An Quân quả là ngắn ngủi, vì vậy mà bảo yêu Trường An Quân không bằng yêu Yên hậu.

Thái hậu đáp:

- Phải. Tùy ông tính sao cho nó thì tính.

Thế là sửa soạn trăm cổ xe, đưa Trường An Quân qua làm con tin ở nước Tề, Tề mới xuất quân cứu Triệu.

Tử Nghi[26] nghe chuyện đó, nói: “Con bậc vua chúa, tinh thần cốt nhục kia, mà không thể cậy vào cái tước quí không công lao mà được, cậy vào cái bổng lộc không khó nhọc mà được, để giữ nổi những đồ vàng ngọc quí báu, huống chi là kẻ bề tôi!”.

--------------
[1] Ý nói là bá hay đế, đất đai các chư hầu thuộc về mình hết.

[2] Có lẽ muốn nói: Tề có thể bảo Yên, Nguỵ, Hàn tôn Triệu làm bá hay đế.

[3] Các bản đều chép: “nhi vi giả Phạm Toạ dã” và chúng tôi dịch đúng ra như vậy, nhưng thú thực không hiểu rõ ý ra sao. Phạm Toạ chống đối ai? Chống đối cái gì? Có sách (Bạch thoại Chiến Quốc độc bản của Quảng Ích thư cục – 1947) dịch ra bạch thoại là: chống đối nước Nguỵ, nghe không xuôi vì Phạm Toạ là người nước Nguỵ. Hay là chống đối chính sách hợp tung? Nhưng dù Phạm Toạ chống đối chính sách hợp tung thì giết Phạm Toạ rồi, vua Nguỵ vẫn có thể làm minh chủ các nước hợp tung, chứ sao chức đó lại dời về Triệu được? Hay Phạm Toạ chống Triệu?

[4] Có lẽ là Tín Lăng Quân thay Phạm Toạ mà làm tướng quốc cho Nguỵ.

[5] Nguyên văn: bức thư “dài một thước, một tấc”. Hồi đó chắc còn viết lên thanh tre.

[6] Chỗ này cũng tối nghĩa. Nhiều bản chép: “Cường Tần tập Triệu chi dục”. (Dịch từng chữ: Cường Tần đánh lén cái ý muốn của Triệu) và có bản chú thích rằng chữ “dục” (ý muốn) có nghĩa như chữ “tục” tức pháp chế cũ của Triệu. Chúng tôi đành theo hạ văn (phản đối sự Triệu cắt đất cho Nguỵ thì ông dùng kế gì mà ngăn Tần?) mà đoán ý tạm dịch ra như vậy.

[7] Y Doãn muốn gặp vua Thang mà không có cách nào xin yết kiến được, phải làm chức đầu bếp cho họ Tần, rồi mượn việc nấu nướng, gia vị mà khuyên vua Thang về cách trị nước.

[8] Bề tôi nước này tự xưng với vua nước khác là ngoại thần.

[9] Kỉ Cơ là một phi Tần được vua Triệu sủng ái.

[10] Nguyên văn: Thần xã tắc không được cúng tế nữa. Thần xã tắc là thần đất và thần lúa. Ý nói mất nước.

[11] Tang ung nghĩa là cây dâu bị sâu đục. Yên Quách cũng gọi là Quách Yển, Cô Yển hoặc Bốc Yển, một vị quan coi bói ở nước Triệu.

[12] Người ta thường ví vua như mặt trời. Câu này ám chỉ vua Triệu.

[13] Ninh Ấp: nay thuộc tỉnh Hà Nam.

[14] Về phía tây (tây hành) nghĩa là làm sao, chúng tôi không hiểu.

[15] Triệu Báo tức là Bình Dương Quân.

[16] Bình Nguyên Quân là con nhỏ của Triệu thái hậu, và là em của Hiếu Thành Vương. Triệu thái hậu là vợ của Huệ Văn Vương nước Triệu; khi chồng mất bà lên cầm quyền vì con còn nhỏ. Tần nhân dịp đó tấn công. Trường An là tên hiệu thái hậu phong cho.

[17] Xúc Chiệp là một vị lão thần của Triệu.

[18] Chữ 郄, Cổ Văn Quan chỉ chú thích là: “Như chữ khích 隙: là kẽ tường, chỗ hở: Xúc Chiệp không dám nói thẳng tên bệnh ra nên nói bóng như vậy”. - Cổ văn bình chú giải nghĩa: “Đọc là khước 却, nghĩa là chân không đi được. Xúc Chiệp cũng bệnh già với thái hậu, nay đau chân, e rằng thái hậu cũng đau, nên vào thăm”.

[19] Nguyên văn là hắc y: nhung phục đen, dùng để chỉ chức thị vệ.

[20] Lời nói nhũn: có ý bảo con trai mình không đáng được chức đó, vô làm cho đủ số lính thị vệ, chứ không được việc gì cả.

[21] Ý nói: vùi xuống huyệt.

[22] Theo Cổ văn bình chú thì câu này nghĩa là: đàn bà yêu con khác đàn ông và hơn đàn ông nhiều.

[23] Ta nhận thấy: giọng lúc này thân mật lắm rồi.

[24] Con gái của Triệu thái hậu, gả cho vua Yên.

[25] Ý nói: khi thái hậu trăm tuổi rồi.

[26] Tử Nghi: là một người hiền của nước Triệu.
CHƯƠNG VI
NGUỴ SÁCH

Thời Xuân Thu vua Tấn phong Tất Vạn ở Nguỵ, thành cũ nay thuộc tỉnh Sơn Tây, các đời sau làm đại phu ở Tấn. Đời Chu Uy Liệt Vương (425-401), Nguỵ và Triệu chia nước Tấn[1], đứng vào hàng chư hầu, đóng đô ở An Ấp (nay thuộc tỉnh Sơn Tây). Thời Chiến Quốc, Nguỵ là một trong thất hùng. Sau dời đô qua Đại Lương gọi là nước Lương. Cuối đời Chiến Quốc bị Tần diệt.

Nước Nguỵ nằm một phần trên tỉnh Hà Nam, một phần trên tỉnh Sơn Tây ngày nay.
*
* *
NGUỴ I

1. TRÍ BÁ VÌ THAM VÀ KIÊU MÀ MẤT NƯỚC
(Trí Bá sách địa ư Nguỵ Hoàn Tử)

Trí Bá đòi Nguỵ Hoàn Tử cắt đất cho mình, Nguỵ Hoàn Tử không cho. Nhiệm Chương[2] hỏi:

- Sao không cho?

Hoàn Tử đáp:

- Vô cố mà đòi đất, cho nên không cho.

- Hắn vô cố mà đòi đất thì các nước láng giềng sẽ sợ vì được rồi hắn lại muốn đòi nữa, không bao giờ cho là đủ, mà rồi thiên hạ sẽ hoảng. Nhà vua cứ cho đất đi, Trí Bá tất sẽ kiêu căng, kiêu căng thì sẽ khinh địch; các nước láng giềng hoảng sợ thì sẽ kết thân với nhau mà đợi quân của một nước khinh địch, mạng của Trí Bá không thọ được đâu! Chu Thư có câu: “Muốn hại nó thì tạm giúp nó; muốn chiếm lấy nó thì hãy tạm cho nó”. Nhà vua nên cho đi để Trí Bá hoá kiêu căng. Sao nhà vua lại bỏ lỡ c
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

CHIẾN QUỐC SÁCH Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH   CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitimeWed Dec 01, 2010 4:56 pm



Sưu tầm từ

goldfish

Đọc tiếp từ đây :

http://www.e-thuvien.com/forums/showthread.php?t=37383

Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




CHIẾN QUỐC SÁCH Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: CHIẾN QUỐC SÁCH   CHIẾN QUỐC SÁCH I_icon_minitime

Về Đầu Trang Go down
 
CHIẾN QUỐC SÁCH
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI . :: Your first category :: HỌC PHÁI TUNG HOÀNH - QUỶ CỐC TỬ :: BÀI VỞ VỀ PHÁI TUNG HOÀNH - QUỶ CỐC TỬ-
Chuyển đến