CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .
ĐỂ VÀO DIỂN ĐÀN TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC , BẠN CẦN ĐĂNG KÝ TẠI ĐÂY .
CHÚC BẠN AN KHANG THỊNH VƯỢNG VÀ TINH TẤN TRÊN CON ĐƯỜNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC ........
TRUNG TÂM HUYỀN BÍ HỌC ĐÔNG TÂY
CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .
Bạn có muốn phản ứng với tin nhắn này? Vui lòng đăng ký diễn đàn trong một vài cú nhấp chuột hoặc đăng nhập để tiếp tục.

CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI .

Cùng tìm tòi, nghiên cứu, chia sẻ, thảo luận và thực hành các kỷ năng, kiến thức tâm linh để tạo hạnh phúc cho bản thân và tha nhân ..........
 
Trang ChínhPortalGalleryTìm kiếmĐăng kýĐăng Nhập
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
» Sách ÂM LUẬT VÔ TÌNH
ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeSat Nov 16, 2019 3:39 pm by phoenix030

»  Học tập Mật pháp có cần phải quán đỉnh?
ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeWed Jun 12, 2019 7:36 pm by dieutam333

» Cửa hàng văn hóa phẩm Phật giáo Phật Linh
ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeThu Jun 06, 2019 9:48 am by dieutam333

» Học đạo thầy chân chính có lấy tiền mình ko thầy?
ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeThu May 30, 2019 9:28 am by dieutam333

» Mua launchpad
ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeWed Feb 27, 2019 8:44 am by hanhmit

» tour du lịch Phú Quốc
ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeFri Feb 15, 2019 2:31 am by hanhmit

» căn hộ Hado Green Lane quận 8
ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeTue Feb 12, 2019 11:45 pm by hanhmit

» Dự án chung cư Thanh Hà
ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeSun Feb 10, 2019 12:14 am by hanhmit

» Thi công nội thất Đà Nẵng
ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeTue Jan 29, 2019 10:51 pm by hanhmit

Navigation
 Portal
 Diễn Đàn
 Thành viên
 Lý lịch
 Trợ giúp
 Tìm kiếm
Diễn Đàn
Affiliates
free forum


 

 ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp

Go down 
Tác giảThông điệp
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp Empty
Bài gửiTiêu đề: ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp   ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeSun Apr 03, 2011 5:25 pm


Đạo Vô Vi của Thầy Lương Sỉ Hằng về tu tập Xuất Hồn đả vang dậy một thời , nay có Ông Phạm Bá thấy được những khuyết điểm của phương pháp nầy , và đăng trên trang nhà http://www.daophatngaynay.com/viet/doi/020-daoxuathon.htm , hy vọng quý đọc giả sau khi đọc bài sưu tầm nầy trên internet , hảy góp ý hay bình luận về hiện tượng nầy thêm nhiều thông tin rộng rải , nó sẻ giúp ích thêm tài liệu tham khảo cho những hành giả tâm linh đang tu tập theo chiều hướng nầy ....

Những hành giả tâm linh nào đả có kinh nghiệm tu tập về thuật xuất hồn hảy chia sẻ kinh nghiệm tu tập và phương pháp tu tập với nhau để cùng tiến bộ và thành công hơn trong chiều hướng nầy ......

Những Sự Thật về Đạo Xuất Hồn
Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp
những sự thật ngay cả rất nhiều môn đồ kỳ cựu cũng không hề biết !
Phạm Bá
pham_ba@hotmail.com

Lời Thệ Nguyện
Tất cả các dữ kiện và chi tiết được ghi nhận đều có thực và chính xác 100%, do nhiều người mắt thấy, tai nghe, hoặc có ghi rõ trong các sách của đạo Vô Vi.
Nếu bản tường trình này đã được dựng đứng lên một cách bịa đặt, dối láo, vô căn cứ, tôi sẽ bị đời đời đọa Địa Ngục Cắt Lưỡi.
***
Đặc biệt cho LVM, người đã phát quẫn cắt gân máu tự vẫn "để được mau thành Phật, sớm đi độ chúng sanh", năm 1986 tại "Thiền Viện Hai Không", Oroville, California.
Cầu chúc em gặp được chánh pháp trong đời sau.
________________________________________
Bố Cáo Quan Trọng
Tôi đã được fortunecity.com thông báo là Web page "Những Sự Thật về Đạo Xuất Hồn" đăng trên fortunecity.com phải bị ngưng vì "vi phạm tác quyền của Vovi Association, Canada".
Tôi đã trình bày với fortunecity.com rằng bản tường trình của tôi nhắm mục đích đưa ra những sự thật về LSH và tổ chức này, cũng như những điều phi lý, không chứng minh được, hoặc hoàn toàn bịa đặt. Tôi liệt kê vắn tắt nhiều điều tiêu biểu để chứng minh.
Tôi cũng báo cho fortunecity.com biết tôi đã tiếp xúc với luật sư và được luật sư cho biết như sau :
Điều luật năm 1978 của luật pháp Hoa Kỳ về bản quyền và tác quyền cho phép việc trích dẫn, sao chép những đoạn văn trong các tác phẩm có tác quyền nếu người trích dẫn hoặc sao chép nhắm các mục đích sau đây:
1. Để học hỏi
2. Để nghiên cứu, sưu khảo
3. Để phê bình
3. Để bình luận
4. Để thông tin, tường trình
Các nhà giáo được quyền sao chép thành nhiều bản để dùng trong lớp học.
Việc sao chép chỉ bị xem là bất hợp pháp nếu được dùng vào mục đích thương mại, thí dụ như in lại toàn tác phẩm để bán lấy tiền.
("The 1978 copyright law permits copying parts of a copyrighted work for such purposes as cholarship, research, criticism, comment, or news reporting. Teachers are also permitted to make multiple copies of a work for classroom use. However, copying for commercial purposes, such as making reprints for resale, is illegal.")
Do đó, fortunecity.com đã đồng ý với lời yêu cầu của tôi, và cho phép tôi đăng lại bản tường trình "Những Sự Thật về Đạo Xuất Hồn" trên fortunecity.com.
Bản tường trình "Những Sự Thật về Đạo Xuất Hồn" của tôi hoàn toàn hợp pháp và hợp hiến Hoa Kỳ.
Là công dân Hoa Kỳ, chúng ta được luật pháp Hoa Kỳ bảo đảm quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận.
Nếu độc giả hoặc những ai phổ biến bản tường trình này bị bất cứ ai hăm dọa trực tiếp hay gián tiếp bằng bất cứ phương cách nào, xin độc giả lấy đủ các chi tiết tên họ, địa chỉ của người hăm doạ, ngày, giờ xảy ra sự hăm doạ, và báo ngay cho Police Department tại địa phương và FBI.
Nếu người hăm dọa thực hiện lén lút như gọi qua điện thoại công cộng, gởi thư nặc danh, nhắn người khác nói bóng gió, v.v., xin độc giả cũng báo cáo cho Police Department và FBI.
Khi chúng ta báo cáo các hành vi hăm dọa, phạm pháp, các tội ác, v.v., luật pháp Hoa Kỳ cho phép chúng ta được quyền:
- Cho biết tên họ, địa chỉ, và số điện thoại của mình để nhân viên công lực có thể tiếp xúc và thâu thập thêm chi tiết
- Hoặc báo cáo với tính cách nặc danh.
Địa chỉ, điện thọai và web site của FBI:
Federal Bureau of Investigation
J. Edgar Hoover Building
935 Pennsylvania Avenue, N.W.
Washington, D.C. 20535-0001
(202) 324-3000 begin_of_the_skype_highlighting              (202) 324-3000      end_of_the_skype_highlighting begin_of_the_skype_highlighting (202) 324-3000 end_of_the_skype_highlighting
http://www.fbi.gov/
Phạm Bá
Ngày 20 tháng 7 năm 2000
________________________________________

Các sách tham khảo
Do lời yêu cầu của một độc giả, thay vì để vào những trang cuối cùng, tôi liệt kê ra đây các sách Vô Vi tôi đã tham khảo cho bản tường trình này.
1. Tôi Tầm Đạo - Hồ Văn Em
2. Các quyển "Bé Tám Bàn Bạc Cùng Bạn Đạo Khắp Năm Châu" - Lương Sĩ Hằng
3. Các kỳ báo VoviLED - Lương Sĩ Hằng
4. Các quyển "Vấn Đạo" - Lương Sĩ Hằng
5. Tình yêu siêu thoát - Lương SĨ Hằng
6. Kinh A-Di-Đà Sớ Giải Và Phật Học Vấn Đáp - Đỗ Thuần Hậu
7. Phép Xuất Hồn - Đỗ Thuần Hậu
8. Tình Trong Bốn Bể - Đỗ Thuần Hậu
9. Đường Tu Siêu Thoát - Thiện Trung
và nhiều sách khác do nhà in Vô Vi tại Santa Ana, California, ấn hành. (Nhà in Vô Vi : 15081 Moran St. Suite J + K. Westm.iTel.: 714-891-0889 begin_of_the_skype_highlighting 714-891-0889 end_of_the_skype_highlighting)
http://www.buddhismtoday.com/viet/doi/020-daoxuathon.htm
- KỲ II -
8. Đạo xuất hồn in ghép các đồ hình luân xa của
đạo lão vào các sách xuất hồn và tự đề thêm
bốn chữ "Lục Tổ Huệ Năng"
________________________________________
Điều này cũng hoàn toàn bịp bợm một cách trắng trợn, và phạm thánh. Thân thế và pháp tu thiền của Lục Tổ Huệ Năng được ghi rõ trong quyển Kinh Pháp Bảo Đàn là những thời pháp do chính Lục Tổ thuyết giảng. Kinh Pháp Bảo Đàn không hề đá động đến luân xa, nhân điện, cũng không hề có một đồ hình nào kể cả cái gọi là đồ hình "Cửu Trùng Đài Pháp Linh Sơ" được đạo Vô Vi gán ghép với Lục Tổ như dưới đây.

Tôi Tầm Đạo Tập I - II - IV; Hồ văn Em. Nhà in Vô Vi ấn hành năm 1994.
9. Đạo xuất hồn bịa đặt trắng trợn về
"lá thư fatima"
Quyển sách Tôi Tầm Đạo nói trên có ghi đầy đủ cách tu luyện của đạo Vô Vi, với các phần giải thích, Hỏi-Đáp, và các hình ảnh của LSH dạy đủ các cách thực hành, kể cả cách lạy "kính Vô Vi" : đứng thẳng, chắp tay, đưa hai tay quá đầu, cong người xá xuống, quì hai gối, chống hai bàn tay, chổng mông. Ngoài ra, sách cũng có ghi rõ những lời tiên tri, nguyên văn 100% kể cả các dấu, như sau :
1. Đức Mẹ có nói trong "Lá Thơ Fatiama!" "Đại Chiến thứ ba nhân loại 10 phần chết 9 còn 1". (Trang 133)
2. Đức Mẹ có nói trong Lá thơ FATIMA : "Chúa Kirixitô, Đức Mẹ Maria và Thánh Cả Giu Se có xác thân người Việt Nam". (Cùng trang 133)
3. Chị Lucie có nói trong "Lá Thơ Fatima" : Nước Việt Nam là Thánh Địa Jérusalem thứ 2. (Trang 134)
Ngoài những điều trên, sách này còn ghi nhiều điều tiên tri vớ vẩn khác. Những điều tiên tri về "Lá Thư Fatima" là bịa đặt rõ rệt hơn hết vì Đức Giáo Hoàng đã tiết lộ điều thứ ba vào khoảng đầu tháng 5, 2000, vừa qua. Cả 3 điều đều không có điều nào giống như những điều đạo Vô Vi đã tự bịa đặt ra và in rõ trên giấy trắng mựực đen.
Phải chăng mục đích của tất cả những lời "tiên tri" của đạo Vô Vi đều nhắm vào việc thuyết phục các môn đồ, để họ tin rằng LSH chính là đấng cứu tinh của nhân loại, và LSH chính là Đức Chúa Jê Su tái thế ?
(Nhiều môn đồ Vô Vi tụ họp chúc mừng sinh nhật LSH vào ngày 25 tháng 12 hằng năm--tức L Giáng Sinh-- trong khi ngày sinh thật của LSH là 13 tháng 11 !!!!)
10. Đạo xuất hồn lại phạm thánh :
Gán cho hai thiền sư Việt Nam tu đắc đạo
gần 400 năm trước là nhờ đã tu đạo xuất hồn
Năm 1995, trong một kỳ báo "Lá Thứ Vô Vi" xuất bản hằng tháng, đạo xuất hồn gán cho hai Thiền Sư Đạo Chân Vũ Khắc Minh và Đạo Tâm Vũ Khắc Trường là hai vị này đã tu đắc đạo, để xác lại cho đến ngày nay, là nhờ tu đạo xuất hồn Vô Vi. Điều này không những bịp bợm mà còn phạm thánh. Thiền Sư Đạo Chân sanh vào khoảng năm 1579, theo học với Hòa Thượng Đạo Long tại phủ Thiệu Thiên, nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Thiền Sư Đạo Tâm là cháu gọi Thiền Sư Đạo Chân bằng chú.
Đạo xuất hồn do ông Đỗ Thuần Hậu "chế biến" hoặc "phát minh" ra vào khoảng năm 1949 sau khi ông thọ giáo chút ít với các nhà sư tu luyện theo đạo Lão. Đạo xuất hồn ra đời sau hai vị Thiền Sư Đạo Chân và Đạo Tâm hơn 300 năm, nhưng đạo xuất hồn dám gán cho hai vị thánh tăng này là đã tu đạo xuất hồn.
11. LSH phán : Kinh nhà Phật
"tam sao thất bổn hết".
Điều này không những bịp bợm mà còn láo lếu, và là một sự lăng mạ vào mặt những học giả và tu sĩ Phật Giáo khắp thế giới. Xét về trình độ văn hoá, cho đến năm 1999 LSH vẫn còn cho rằng mây trên trời là do "hơi nóng bay lên mà thành" (Các em bé tiểu học tin rằng mây do hơi nước bay lên mà thành, và tôi cũng tin như vậy). Từ năm 1995, LSH đã ghi kiến thức kinh khiếp ấy xuống (VoViLED Weekly, tháng 10, 1995) cho môn đồ khắp nơi đem ra học tập trong các buổi họp hằng tuần. Ngoài ra, trong một cuộn băng video thúc dục môn đồ súc ruột liên tục, chỉ trong vòng 15, 20 phút đầu, LSH khoe đi khoe lại cái kiến thức mới toanh này có đến 3, 4 lần: "Ruột mình nó dài lắm, tới 200 thước lận!"
Đó là trình độ văn hoá của LSH, so với kiến thức của các nhà dịch Kinh điển nhà Phật, bất kể đông tây kim cổ, đều ở vào trình độ giáo sư hoặc giảng sư đại học. Việc phiên dịch kinh điển đòi hỏi dịch giả phải tra cứu nhiều nguồn gốc khác nhau, so sánh các ấn bản từ nhiều ngôn ngữ khác nhau, và là một công trình kéo dài có khi đến nhiều năm chứ không phải chỉ như dịch sách báo và tiểu thuyết.
LSH có lần bực bội gằn giọng :
- "Hành văn sai lạc ! Văn ngày xưa của người ta mà dịch theo văn bây giờ nên thành sai lạc hết."
Không phải chỉ có các bản dịch Việt Ngữ duy nhất trên hoàn cầu, mà khắp nơi từ Nhật Bản, Đại Hàn, Tích Lan, v.v., cho đến cả Anh, Pháp, Mỹ từ đầu thế kỷ XX cũng đã có nhiều dịch giả nghiêm túc nghiên cứu, phiên dịch kinh điển Phật Giáo, và chẳng có dịch giả nào thấy Phật giáo dạy xuất hồn !
Việc LSH loạn ngôn tuyên bố láo lếu rằng tất cả các kinh điển Phật Giáo--lưu hành hơn 2.500 năm nay trên khắp thế giới--đều "tam sao thất bổn hết, không thể tin được" tuy cho thấy ông ta bất chấp sự hiểu biết của tất cả mọi người, nhưng đã thành công trong hai việc :
1. Ngăn chặn môn đồ Vô Vi đọc kinh điển Phật Giáo
2. Dạy họ đừng tin những điều đức Phật đã răn dạy về các tà đạo.
Tuy thực chất là vậy, hiện nay trên tất cả các phương tiện truyền thông, LSH vẫn tiếp tục lạm dụng những danh từ của nhà Phật để mập mờ dẫn dụ những tín đồ Phật giáo tuy có nhiều thiện tâm nhưng kém hiểu biết. Những giáo điều của đạo Vô Vi và những lời dạy của LSH nay được gọi là "Chân Kinh". Người kém hiểu biết cầm đọc những quyển sách giáo điều và "Chân Kinh" ấy, được ấn loát tốn kém, đẹp đẽ, trình bày tao nhã, với những lời lẽ chân thành, từ bi, bác ái, tin Trời, kính Phật..., không thể nào ngờ được sự thực lại hoàn toàn khác hẳn.
Mọi người đều kính Phật, tin nhân quả, tin từ bi, bác ái, nên mới vào đạo Vô Vi. Các phí tổn ấn hành sách, băng, CD của đạo Vô Vi đều do tiền của và công sức của các môn đồ đóng góp lại. Có ai ngờ những sách, băng, CD đẹp đẽ ấy chỉ nhắm lôi cuốn những người nhẹ dạ vào, để rồi sau khi luyện thử 5, 6 tháng, chính mình cũng tin những lời phỉ báng Phật-Pháp-Tăng của LSH hồi nào không hay !!!
12. Ai muốn vào đạo Vô Vi cũng được ?
Như đã đề cập, không phải ai muốn vào đạo Vô Vi cũng được. Tình trạng đạo này ngày nay đã hoàn toàn khác với tình trạng 10, 20 năm trước. Bởi có quá nhiều môn đồ đặt ra các câu hỏi hóc búa, chống đối và từ bỏ đạo Vô Vi, LSH đã ra lệnh làm thẻ hội viên, ai muốn vào đạo Vô Vi phải được 2 hội viên bảo lãnh. LSH nêu ra các lý do:
"Thẻ hội viên thông thường là để đáp ứng cho sự đòi hỏi trật tự của chánh phủ địa phương. Một hội thành lập được giấy phép đều phải đệ trình số hội viên, đó là trật tự chung của bất cứ chế độ nào trên mặt đất này." (VoViLED, 6/2/96.)
Chánh phủ Hoa Kỳ nào đòi hỏi các hội đoàn phải "đệ trình" số hội viên ? Vậy ra các "Hội Ái Hữu Vô Vi" tại Hoa Kỳ và khắp các nước đã hiện hữu và hoạt động bất hợp pháp từ mười mấy năm trước năm 1996 ???
Ngoài thẻ hội viên trong túi, môn đồ Vô Vi ngày nay còn phải có thêm phù hiệu đeo trên ngực. Mục đích của các việc này không có gì khác hơn nhằm ngăn chặn "người ngoài". "Người ngoài" là tất cả những ai chưa hề bị điển và hồn vía mê hoặc. "Người ngoài" là những kẻ thường nêu lên những câu chất vấn hóc búa nhất, vạch bày những sự thật phũ phàng nhất mà LSH và các môn đồ không muốn nghe chút nào !
LSH còn chánh thức loan báo rằng ngoài việc bắt buộc phải làm thẻ hội viên, "phải kiểm soát chặt chẽ các đơn xin gia nhập" và "mọi chi tiết cá nhân của hội viên phải hoàn toàn được lưu giữ kỹ lưỡng." (VVLED 8/8/96)
Phải chăng vì có quá nhiều môn đồ Vô Vi thức tỉnh, bỏ ra, nên LSH đã và đang áp dụng tất cả những phương sách bưng bít, nhồi sọ, và dối gạt để cầm giữ các môn đồ còn lại ? Với việc làm thẻ hội viên và kiểm soát nhân sự một cách chặt chẽ cho đến từng chi tiết cá nhân, đạo xuất hồn đang mau chóng biến thành một hội kín dưới sự lãnh đạo của LSH.
13. "Học Bài" tại Las Vegas,
tại Atlantic City, trên du thuyền !
Một trong những động từ được LSH và môn đồ dùng rất thường là "học bài", với ý nghĩa thầy trò "giáng lâm xuống đây" để học các bài học do Thượng Đế đã sắp sẵn cho từng người.
Nhiều tôn giáo trên thế giới cũng có quan niệm tương tự. Quả thực có hay không một ông Thượng Đế, hay bà Thượng Đế, hay đấng Thượng Đế ? Ngài cùng các nhân viên (tức Phật, Tiên, Thánh, Thần, v.v., theo hệ thống quân giai của đạo xuất hồn) bỏ công sức sắp xếp từng "bài học" cho từng người trong số trên 6 tỉ người địa cầu ? Và mỗi người có mấy ngàn, hoặc mấy trăm ngàn bài học trong suốt cuộc đời mình ? Chúng ta hãy gác qua một bên vấn nạn này. Dẫu sao, nhân sinh quan này khả dĩ chấp nhận được, bởi nó giúp cho những người có niềm tin tưởng đó bằng lòng và an phận với những gì mình có và gặp phải trong cuộc đời vui ít buồn nhiều này. Dù sướng hay khổ, dù may hay rủi, dù vinh hay nhục, tất cả đều là những bài học để "thăng hoa".
Mỗi khi nghe nói có ai đó về Việt Nam mấy tháng, các môn đồ Vô V i ra điều hiểu biết, gật gù nói với nhau rằng "Về bển học bài lẹ lắm." Câu này có ý nói bên ấy nhiều cảnh khổ, lắm kẻ gian, "học bài" liên miên tất phải "tiến hoá" lẹ. Tuy nhiên, đó chỉ là điều LSH muốn môn đồ hiểu và hành, riêng LSH lại sử dụng chiêu thức ấy một cách hoàn toàn khác hẳn ! LSH đi sòng bài Las Vegas, LSH đi đại du thuyền, chưa đủ, LSH còn dợt nghề... roulette tại gia ! LSH đi vòng quanh các tiểu bang Hoa Kỳ và bất cứ quốc gia nào có môn đồ mong được gặp Ông Tám để may ra được Ông Tám ban cho tí "điển". Cái địa chỉ tại Canada chỉ là nơi bà LSH tức bà Tám cư ngụ. Tiền đâu ra để LSH mua vé Boeing bay liên miên và sống trong các khách sạn 5 sao, các môn đồ Vô Vi và các hội trưởng "Hội Ái Hữu Vô Vi" khắp nơi biết rành hơn ai hết.
Gần như suốt năm, LSH sống thoải mái trong những khách sạn sang trọng. Các thành phố hoa lệ, đô thị hoa đăng đều được LSH lai vảng, có thể nói nhiều lần hơn bất cứ người Việt Nam nào có dư tiền của và thời giờ để ở không ăn chơi. LSH dạy đệ tử : "Phải đi khắp nơi để học hỏi những kỳ quan của thế giới. " Phật Sống Di Lặc cũng phải "học bài", và học như thế đó !
14. "Khu này điển trược quá !"
Những người tu Tiên, luyện xuất hồn, khai mở luân xa, vận hành hoả hầu, v.v., thường tìm nơi non cao nước nhược, xa lánh phố chợ ồn náo. Do đã có "cốt tiên" lại thêm nhiều năm tịch cốc, chỉ ăn hoa quả, uống rượu bồ đào, đánh cờ, chẳng lao động chân tay chi mệt nhọc thân xác, nên họ có dáng vẻ thanh nhã "tiên phong đạo cốt", phi phàm. Cực chẳng đã có việc họ mới phải xuống núi. Dẫu không vượt thoát vòng luân hồi, lưới sanh tử, nhưng cũng đặng một quãng đời coi bộ thanh thoát, xa vòng thế tục bon chen.
Đạo Vô Vi tiếng là có năm ba chỗ gọi tên "Thiền Viện" trên non cao, thực tế chỉ là nơi vài "tu sinh" trú ngụ, mạnh ai nấy luyện xuất hồn, mạnh ai nấy ăn, ngủ gì đó tuỳ ý thoả thích. Ít hôm lại xách xe xuống núi la cà trong các khu phố tiệm, thương xá xa hoa. Các "tu sinh" nam khi trở lên chở về cả kết bia uống cho "thanh nhẹ".
Đức Thầy không ở các "Thiền Viện" trên đồi cao vắng vẻ, buồn chán chết, tuy rằng nơi nào cũng có một cái cốc dành riêng cho Đức Thầy. Đức Thầy luôn luôn bận rộn du lịch năm châu, bốn biển, độ đời ở các nơi có đèn nê-ông muôn màu sáng chói, như sòng bài Las Vegas, Atlantic City, Hawaii, Sidney, Hong Kong, Tokyo, Bangkok, Bahama, v.v. và v.v.
Một sự kiện xảy ra thường nhật đối với những người tu đạo Vô Vi là khi vào những chỗ đông người như khu hội hè, phố chợ tấp nập, hoặc ngay cả các các khu tiểu thương, họ liền ra vẻ thánh thiện, than rằng "Khu này điển nặng quá, trược quá" làm cho họ cảm thấy khó chịu. YÙ họ muốn nói trong những khu thương mại ấy con người vận dụng các mánh khoé bất lương, vô lương tâm để thâu lợi, do đó điển của tập thể đó rất "trược". Tuy nhiên, có một điều trái ngược rất lạ: từ những người mới mê mẩn điển hồn, điển vía, cho đến những người tự khoe công phu xuất hồn đã rất cao cường, tất cả khi theo Phật Tám la cà các sòng bạc tại Las Veas và các khu ăn chơi của tiểu bang Nevada, chẳng thấy ai than van gì ráo về điển trược với điển nặng !!!
Thành phố Las Vegas nói riêng và tiểu bang Nevada nói chung là nơi con người chìm đắm trong thú bài bạc, đỏ đen, may rủi, và cũng là vượng địa của các cơ sở bịp bợm, lừa đảo tinh vi. Các màn gái đẹp nhảy múa điêu luyện, bày ngực, khoe giò, chật ních khách xem dẫu giá vé rất cao. Nhan nhản các dịch vụ thoả mãn dục tính nam nữ. Thú đỏ đen biến thành một thói quen hằng ngày của người địa phương. Các bà nội trợ dù trẻ hay già, đi chợ trả tiền xong còn dư năm mười đồng liền sà ngay vào mấy cái máy bài bạc đặt ngay trong chợ !
Biết bao nhiêu gia đình Mỹ và Việt đã và đang tan vỡ, mất nhà, mất cơ sở thương mại chỉ vì những đam mê trác táng không ai thắc mắc tại tiểu bang Nevada này. Nguồn lợi chính của tiểu bang là thuế thâu từ các sòng bài-mỗi sòng vài chục triệu đô la thuế mỗi năm-và thuế thâu từ các khu mãi dâm hợp pháp. Chính người Mỹ còn gọi Las Vegas là "Thành Phố Tội Lỗi" (The Sin City), nhưng "đức thầy" LSH và các đệ tử lớn bé chẳng ai than "điển nặng, điển trược" gì ráo trọi. Ngược lại, cú mỗi khi vào các khu phố tiệm tiểu thương làm ăn cò con, chật vật của đồng hương thì lại xệ mép chê "điển ở đây trược quá. "
Ăn chơi, hưởng thụ, đỏ đen, LSH gọi là "học bài". Sau đây là những lời nguyï biện LSH đem ra dạy đệ tử để giải thích cho máu bài bạc, đỏ đen của ông ta.
15. LSH Phân trần và giải thích máu bài bạc
Trong các truyện Tàu, những người tu Tiên sống trên non cao, ở không đánh cờ tướng đấu trí tiêu khiển với nhau, mỗi ván năm bảy ngày, hoặc đôi ba tuần l. Phật Sống LSH dĩ nhiên không phải là Tiên, nên Phật Sống thích chơi roulette thay vì cờ tướng không ăn tiền và rất nhức đầu.
Phật Sống LSH phán:
- "Đừng tưởng cái bàn roulette là trò chơi cờ bạc tầm thường ! 36 cái ô nhỏ đó là thế giới bên kia nó áp dụng cái âm dương ngũ hành để tranh dành con người của thế giới này ! "
Một câu hỏi tự đặt, tự đáp của LSH được phổ biến bằng đủ mọi phương tiện, kể cả trên hệ thống điện toán InterNet:
- "Vì sao Bé Tám đi casino?" [các sòng bài]
Áp dụng ngón nghề nguyï biện của... các em bé, Bé Tám phán:
- "Thưa, Bé Tám đi casino là để thử coi mình có thắng nổi sức quyến rũ của nó hay không !"
LSH bắt đầu la cà các sòng bài Las Vegas ngay từ những năm đầu thập niên 1980. Các đệ tử ùn ùn kéo theo, thầy đặt Tài thì trò cũng đặt Tài, thầy thẩy xuống Xỉu thì trò cũng thẩy xuống Xỉu !
Phải chăng "Đức Thầy giáng lâm" xuống thế gian này đã gần tàn một kiếp người nhưng vẫn chưa "thuộc bài" cho lắm, nên phải "học bài" chăm chỉ như thế đó ở Las Vegas ???
Một câu Hỏi-Đáp khác cũng do LSH tự đặt, và cũng nhắm biện hộ một cách què quặt cho việc đã xưng là Phật Sống mà lại đi đỏ đen:
- "Bé gần sòng bạc hàng ngày Bé học được những gì ?"
- "Thưa,..., cảm thấy đời là tạm, được mất cũng chả đi đến đâu... Bé rất may mắn là Bé không tiền, dù có ra vô sòng bạc cũng không sao... "
Không tiền thì vào những chỗ của những người có dư tiền và dư thời giờ ấy để làm gì ??? Ông Phật hết chuyện làm hay sao mà phải la cà vào các sòng bài quốc tế ??? Hay phải chăng LSH thua hết tiền, và than van như vậy để môn đồ dâng cúng thêm tiền ? Xin các bạn đạo Vô Vi tại Nevada được tháp tùng "Đức Thầy" cho mọi người biết ??? Cứ cái kiểu tự phân trần, nguyï biện một cách khôi hài đến đáng thương hại như vậy mà vẫn có đệ tử tin và tới lui, mời thỉnh, dâng đô la cho LSH thì quả là cái "ngải điển" của đạo Vô Vi rất linh !
Ngày 13/6/1993, LSH hạ bút viết lời lời châu ngọc thường nhật để môn đồ khắp nơi học tập cuối tuần:
Hỏi: Làm người có gì lạ tại mặt đất này ?
Đáp: Thưa, làm người không khác gì hòn bi của bàn Roulette, hên xui vô thường, rơi vào số nào thì phải chịu số đó, khi được khi mất....
Té ra, theo loại đạo lý xuất hồn Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp, không phải con người ăn hiền ở lành, tu nhân, tích đức thì được thác sanh vào chỗ yên bình, sung túc, khá giả. Trái lại, tất cả chỉ là trò may ăn rủi chịu như cái bàn roulette mà thôi !
Một môn đồ Vô Vi cũng báo cáo kết quả "học bài" như sau:
"Lúc chơi roulette tôi học được cái nguyên lý xoay chuyển tuần tự của vũ trụ, cũng như về tâm linh. Hết ngày rồi lại đến đêm, hết đêm rồi lại đến ngày, hết ăn thì thua, hết thua thì lại ăn. "
Đó cũng là chuyện cực kỳ khó tin nhưng có thực 1000%. Thầy trò đạo xuất hồn truyền nhau đạo lý cao siêu như thế đó ! Quái dị hơn nữa, các môn đồ Vô Vi đều biết rất rõ những chuyện như vậy, và họ không những chấp nhận hành vi bài bạc của LSH mà còn chấp nhận cả những lời biện hộ như thế, vẫn một lòng tôn thờ LSH, và tu luyện xuất hồn không thắc mắc !!!
Chớ có ai ngạc nghiên và thắc mắc nếu một ngày nào đó Phật Sống Di Lặc tức Thiền Sư LSH pháp danh Lương Vĩ Kiên cho bày cái bàn roulette lên sân khấu Đại Hội Vô Vi, quay rột rột để din bày "Phật Pháp Huyền Bí".
Thưa các bạn đạo Vô Vi, khi màn ấy đến, phải chăng các môn đồ già trẻ sẽ vẫn lăng xăng thâu băng cassette, quay video, chụp hình lia lịa để đem về nhà thờ thay vì thờ ảnh, tượng Phật Thích Ca và Bồ Tát Quan Âm ???
LSH thường phán rằng kẻ nào còn thắc mắc, hỏi này, hỏi nọ tức là kẻ ấy "điển chưa thông, còn kẹt." LSH cũng từng phán :
• "Bản chất lười biếng của con người còn thì sự thắc mắc không bao giờ tiêu tan cả !"
Vì vậy, đa số các môn đồ Vô Vi chỉ nín thinh, tin và làm những gì LSH muốn để khỏi bị tiếng lười biếng, và cũng để Phật Sống LSH khỏi phải đổ quạu liên miên vì phải trả lời các thắc mắc này nọ, rất khó trả lời cho xuôi thuận.
6. "Phật Sống" LSH luyện roulette tại gia
cho được minh mẫn thêm
Đi các sòng bài casino nhiều lần hằng năm nhưng chưa đã tỉ, mà đi mỗi ngày thì đâu có tiện, nên LSH mua một cái bàn roulette cỡ cái mâm để luyện tại nhà. LSH luyện rất chuyên cần, và đem cái bàn roulette đó theo bất cứ nơi nào. Năm 1995, LSH "giáng lâm" một thiền viện Vô Vi đôi ba đôi ba ngày để chủ toạ l kỷ niệm 10 năm thành lập thiền viện Vô Vi này. Có một ông mới vô đạo, tình cờ thấy LSH và một đệ tử thân tín đang châu hai cái đầu trọc, lộp độp với nhau trong cái cốc riêng của LSH có gắn máy lạnh. Ông bạn đạo này có tuổi mà không có "trí sáng suốt, thanh nhẹ", tưởng đâu Đức Thầy và đệ tử đang khỏ cờ tướng như mấy ông Tiên. Dè đâu một môn đồ khác rành chuyện hơn, giải thích rằng:
- "Đâu phải cờ tướng, thầy chơi roulette đó mà ! "
Âng này quá mức thực thà :
- "Chắc thầy chơi cho đỡ buồn ngủ ! Hồi này thầy than buồn ngủ hoài !"
- "Không phải ! Thầy nói chơi cái đó mở trí lắm, làm đầu óc minh mẫn thêm!"
Mọi đóng góp ý kiến, dữ kiện, tin tức, kinh nghiệm xin gởi cho : pham_ba@hotmail.com

________________________________________
Thư độc giả II
Sau các lá thư đã đăng kỳ trước, tôi còn nhận được một số thư khác hỏi xin text file để phổ biến. Ngoài ra, còn có vài thư của các môn đồ Vô Vi. Tôi xin trích đăng dưới đây để độc giả thấy cách suy luận tiêu biểu của các môn đồ Vô Vi đã bị "điển" mê hoặc : ôm chặt hồn vía, phủ nhận lý trí, thô lỗ, khinh mạn, sân hận.
Hi anh Ba
doc web page cua anh that la chuyen vui cho vovi, vi lau ngay chang ai biet vovi, nho anh ma moi nguoi se tim hieu ve vovi hon, rat tiec la anh nghien cuu vovi phap, va da theo doi tu lau, de thong tin nhung anh da thieu xot o cho la tai sao anh khong thu hanh thien cua phap nay xem co gi la khong???.. that ra anh cung chi la loai nguoi chet nhat ma thoi, vi anh chang chung minh duoc gi, tau qua nhap ma, hay xuat hon deu la cach suy nghi cua anh ma thoi, chi lam tro cuoi cho ban dao vovi...
............................
Vai loi cho anh lam phuc.
===============
Phạm Bá viết :
Mời bạn đón xem các kỳ sau, còn nhiều chuyện vui hơn nữa.
Trong vòng 20 năm qua đã có nhiều bài đăng trên các báo và tạp chí hải ngoại về đạo xuất hồn. Tôi không phải là người đầu tiên làm việc này, mà chỉ là người đầu tiên đưa lên internet, và tôi trình bày đầy đủ hơn hết.
Sự thực là tôi cũng đã luyện xuất hồn thử rồi. Chẳng phải vì tôi ngu đần, đã biết đó là con đường tà mà còn liều mạng thử làm chi, cũng chẳng phải tôi muốn xuất hồn đi Las Vegas chơi cho đỡ tốn tiền mua vé máy bay. Tôi có đủ lý trí vững mạnh và chánh định nhà Phật để giữ mình và nhận thấy rõ những tác hại lần hồi của cách luyện này. Sau đó, tôi ngưng luyện ngay và đúc kết bản tường trình này.
==============
Một môn đồ Vô Vi khác yêu cầu tôi đừng đăng thư của anh, nên tôi không đăng nguyên văn ở đây. Anh không trả lời được các câu hỏi của tôi mà chỉ nổi sân. Tôi viết cho anh như sau :
"Tôi thấy anh nổi sân rất d dàng, y như LSH vậy. LSH nổi sân rất nhiều lần mỗi ngày, toàn vì những chuyện rất lặt vặt. Những lúc đó, mặt ông ta sưng tròn lên, đỏ gay. Theo anh, đó là một ông Phật sống hay sao ? Và phải chăng anh đã học được tánh nổi sân và lỗ mãng này của LSH ???"
Môn đồ này đáp lại rằng "... đó là sân thanh tịnh của các vị Phật..." và anh tội nghiệp cho sự ngu tối của tôi, anh... khóc "hu hu hu" !!!!
===================
Một độc giả khác viết :
Pha^`n Hai cu?a ta^.p ta`i lie^.u dda~ pho+i ba`y ddu+o+.c nhu+~ng su+. tha^.t ga^y su+?ng so^'t, nha^'t la` su+. kie^.n Pha^.t Ta'm ghie^`n roulette va` tu+. bie^.n ho^. mo^.t ca'ch lo^' bi.ch. To^i dda~ quye^'t ddi.nh ngu+ng mo.i ta^.p luye^.n cu~ng nhu+ cha^'m du+'t mo.i lie^n he^. vo+'i to^? chu+'c Vo^ Vi kho^ng mo^.t chu't nga^`n nga.i .
To^i cu~ng xin o^ng gu+?i cho to^i text file dde^? tie^.n pho^? bie^'n giu'p nhu+~ng ngu+o+`i ba.n ddang co`n bi. vu+o+'ng ma('c , chu+a tha^'y ddu+o+.c su+. tha^.t cu?a Vo^ Vi nhu+ ba?n tha^n to^i trong tho+`i gian qua.
Một lần nữa, tôi xin cảm tạ tất cả các độc giả kể trên.
- Kỳ III -
17. những trò tiên tri
"đời hạ ngươn chấm dứt năm 2000"
-oOo-
Sau khi lật quyển "Kinh A Di Đà Giảng Giải" của Tổ Sư Xuất Hồn ĐTH, xem phần ông giảng nghĩa Ma-Ha-Ca-Diếp (Mahacasyapa) là "Con Ma Ca Hát Lá Gan" cho vui, rồi xem kỹ phần ông luận lòng vòng và dông dài về "thượng ngươn, trung ngươn, hạ ngươn", tôi thấy ngay là... bố làm toán số học cộng trừ trật lất !
1. Cụ ĐTH xác định mỗi Ngươn là 600 năm. Thượng Ngươn là đời xưa xa lắc, đến Trung Ngươn, và Hạ Ngươn là đời hiện tại.
2. Theo chu trình chuyển vận, thời hiện tại sẽ chấm dứt và Thượng Ngươn của chu trình mới sẽ bắt đầu.
3. Nguyên văn của cụ ĐTH: "Năm nay là 1966,..., tính còn lại 34 năm thì đúng 2000 năm,..., thì Thượng Ngươn bắt đầu năm 2001."
4. Vậy năm 200 dương lịch đã là năm... "khai thiên lập địa" (vì 3 ngươn là 3 x 600 năm = 1800 năm; 2000 - 1800 = 200).
5. Nhưng cũng theo chính lời của cụ ĐTH ngay sau đó:""Kể từ khai thiên lập địa đến nay đã 2000 năm rồi."
6. Nếu chúng ta tính sát rạt "đến nay" có nghĩa năm 1966 là năm cụ viết lời ấy, thì 1966 - 2000 = - 34, tức năm 34 trước DL, là năm..."khai thiên lập địa". Nếu hiểu xí xoá rằng cụ nói "đến nay" có nghĩa năm 2000, thì vũ trụ đã khởi đầu từ năm... 0 Dương Lịch.
7. Kết luận: 600 năm x 3 = 1800 năm = 2000 năm = tuổi của quả địa cầu này (hoặc tuổi của thiên địa, càn khôn, vũ trụ, tùy ý cụ).
Đó là khả năng làm toán số học của Tổ Sư đạo xuất hồn. Trước khi luyện xuất hồn cụ đã từng làm thầy thuốc Bắc, thuốc Nam, coi quẻ, thợ sơn, dạy học chữ Việt và chữ Pháp. Sau khi tự chế biến và luyện xuất hồn "thành công", cụ làm toán cộng như thế đó, và giảng nghĩa Ma-Ha-Ca-Diếp tức là Con Ma Ca Hát Lá Gan!
Rập khuôn tổ sư ĐTH, Phật Tám LSH thỉnh thoảng lờ đi điều tiên tri tận thế năm 2000, và nhắc đến năm 2001là năm tận thế, một "ngươn" mới bắt đầu. Tuy vậy, nhiều môn đồ đạo Vô Vi vẫn tin tận thế năm 2000, và đã đình hoãn các việc làm ăn buôn bán lớn, chờ qua năm 2000 xem sao rồi hậu tính ! Có lẽ nay họ lại phải chờ cho hết năm 2001 cho chắc, và có thể năm 2002, 2003, 2004....
Xin độc giả chớ quên rằng cho đến nay vẫn chưa có nhà tiên tri nào trên thế giới nói trúng về cái gọi là "ngày tận thế", và điều tiên tri của tổ sư ĐTH rằng sẽ tận thế năm 2001 đã căn cứ trên vũ trụ được thành lập cách nay chỉ có... 2000 năm. (Lịch sử nước Việt Nam mà thôi đã có trên... 4000 năm.)
Nhìn chung, sau nhiều lần trong mấy mươi năm qua tiên tri trớt huớt về ngày tận thế, nhiều nhà tiên tri trên thế giới trong những năm qua đã "tiên tri" rằng năm 2000 sẽ là năm xảy ra những chuyện kinh thiên, động địa, "nát xác, tan hồn", tận thế. Những chuyện ấy đáng lẽ đã phải xảy ra vào những năm nào là 1960, nào là 1970, nào là 1980--khi chiến tranh lạnh Nga-Mỹ vẫn còn âm ỉ--nào là 1990, trật luôn, và gần nhất, phải là năm 2000! Dĩ nhiên các nhà tiên tri ấy luôn luôn có khả năng đưa ra hằng lố lý do để dẫn đến kết luận năm đó đó sẽ là năm tận thế.
Tôi còn nhớ những năm trước 1960, trên thế giới đã có những người suốt ngày cầm bảng đi lòng vòng ngoài đường cho mọi người biết phải mau mau sám hối, xưng tội, vì năm 1980 sẽ là năm tận thế. Không kể những kẻ chủ mưu trục lợi qua tôn giáo và thương mại, lý do chánh của những tiên tri kiểu này là lý do tâm thần. Đối với những người quẫn trí, tâm bịnh, hoặc quê mùa, kém học, kỳ gian 20 năm về tương lai là một thời gian dài đằng đẵng. Nhìn về tương lai mù mịt, không biết chiều hướng kinh tế, quân sự, phong hoá của con người trên thế giới sẽ đi đến đâu, họ đâm ra lo âu, sợ sệt. Cộng thêm vào đó một ngàn mấy trăm năm đã qua sau lưng, và những lụt lội, động đất, hoả tai, chiến tranh đang được hệ thống truyền thông văn minh loan báo tin tức đi khắp nơi..., coi bộ trái đất đã đủ tuổi thọ rồi! Lại cộng với câu đó, nằm ở trang đó, sách đó, kinh đó, thì trái đất sẽ phải bị huỷ diệt vào năm... 1960 mất tiêu rồi!
Nhiều năm nay đạo xuất hồn sử dụng tất cả đến 4 lưỡi để phát ngôn việc tiên tri về năm 2000 (hoặc 2001) hầu thoả mãn lòng thành mê tín của môn đồ :
1. Lưỡi thứ nhất : "Âng Tám cho biết cứ lo tu đi, đừng bận tâm đến thời cuộc sẽ xảy tới làm chi." (Nói là nói vậy, nhưng ai cũng biết LSH vẫn thích chơi trò thỉnh thoảng "tiết lộ thiên cơ tí ti tí ti" cho đệ tử hồi hộp và nể sợ.)
2. Lưỡi thứ hai : Phụ lục dài 10 (mười) trang về Hội Long Hoa năm 2000, căn cứ trên mấy chục tôn giáo, lời của ông nọ, bà kia, Tu Sĩ Xanh, Bà Đỏ, Cô Vàng, Chị Lucie, Đức Mô Ha Mết, v.v. và v.v.
Dĩ nhiên, Phật Thích Ca và Tổ Đạt Ma cũng được kéo vào vì các Ngài có uy tín rất lớn ! Cách dẫn chứng và giảng giải vẫn y theo công thức Vô Vi thường lệ : Phật có nói đến ba chữ "thời mạt pháp", tức là "mạt thế", tức là "đời cuối cùng" tức là..."năm 2000".
3. Lưỡi thứ ba : Dùng chữ "đổi đời" thay vì chữ "tận thế". Vừa đặt Tài vừa đặt Xỉu, trật làm sao được! Trật cái này thì trúng cái kia, nhưng chính cái lưỡi thứ ba này đã phô bày sự đoán mò, nói dựa, và lúng túng của đạo xuất hồn trên mặt tiên tri, một trong các mặt ăn khách nhất. Đổi đời khác xa tận thế. Hai việc này chẳng có liên hệ gì với nhau!
Tuy nhiên, vụ "đổi đời" tang thương và khốc liệt nhất cho dân Việt Nam ta vào tháng 4 năm 1975 đã chẳng được Tổ Sư, hoặc Đức Thầy, hoặc các ngài có "điển" đá động gì đến. Phải chăng thuở ấy các đức thầy tin sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ hơn tin "điển" của Thượng Đế ???!!!
Tổ sư ĐTH và LSH cũng hoàn toàn mù tịt về một cuộc đổi đời khác, thầm lặng, không bom đạn, nhưng chấn động địa cầu sau đó hơn 10 năm : sự tan rã của Cộng Sản Liên Bang Sô Viết và Cộng Sản Đông Âu.
4. Lưỡi thứ tư: Khoảng 8 năm trước đây, có lần Phật Tám đã tiết lộ bí mật thiên cơ, cho biết trận Đại Hồng Thủy sắp tới sẽ ngập đến thềm cốc của Phật Tám tại Thiền Viện 00, trên độ cao 600m (nơi năm thì mười họa ngài mới "giáng lâm" đôi ba ngày). Thì ra Phật Tám đã biết trước mà vẫn phán bảo môn đồ nai lưng đóng góp đô la, mua cả một cánh rừng hoang dã trên ấy, rồi xúm nhau hùng hục khai hoang, khổ sở như tù lao động, xây cất chỗ đất cao, cảnh đẹp cho Phật Tám vài năm quang lâm ít ngày, ăn ngủ, và luyện roulette !
Cứ theo cách suy luận của LSH và các môn đồ, rất có thể môn đồ Vô Vi tin rằng đức thầy đã thể hiện lòng từ ái của người cha cao cả, thương yêu đàn con khờ dại. Đức thầy chỉ muốn giúp cho các môn đồ Vô Vi yêu quí... trả nghiệp cho sớm, để khi cơn hồng thuỷ tận thế ấy đến ai cũng được "thanh nhẹ", d dàng cho đức thày vớt lên khỏi cơn Hồng Thủy ấy chăng?
Trong quyển "Bé Tám Bàn Bạc Cùng Bạn Đạo Khắp Năm Châu, Tập V", trang 131, ngày 12/121993, Bé Tám cũng đặt ra câu Hỏi-Đáp về năm 2001 nguyên văn như dưới đây. Mỗi câu giải đáp đều có kèm theo 4 câu "kệ".
Hỏi: Đúng theo lời sấm truyền, đến năm 2001 cả thế giới đều loạn lạc và thay đổi tình thế, Bé nghĩ sao về việc nầy?
Đáp: Thưa, mọi việc sẽ được đổi mới,sau sự chết chóc khủng khiếp khắp các nơi, nhơn sinh mới có cơ hội thức tâm, và sẽ tin nơi Trời Phật nhiều hơn, bắt buộc phải trải qua một cuộc thiên cơ thay đổi, loài người bắt buộc phải chấp nhận mà tiến hóa, tùy theo duyên nghiệp của mọi giống dân.
Kệ: Thiên nhiên quán độ mỗi phần
Tùy duyên tiến hóa chuyên cần
Thực hành là chánh tuỳ duyên thức
Thế giới nhơn tình tạo nghĩa ân.
Vừa mới "Âng Tám cho biết cứ lo tu đi, đừng bận tâm đến thời cuộc sẽ xảy tới làm chi", qua đây đã "chết chóc khủng khiếp khắp các nơi"!!!
Thêm một điểm phụ thuộc : năm 2001 chưa đến nhưng Phật Tám đã tự tiện phát ngôn "Đúng theo lời sám truyề.n.."
Đó là 4 ngọn lưỡi do đạo xuất hồn đã và đang sử dụng vào vấn đề tiên tri. Đức Phật Thích Ca răn cấm Phật Tử không được xem thiên văn, bói toán. Các Tổ Thiền Tông và các Thiền Sư cũng rất hiếm khi nói chuyện tiên tri thế sự, chính trị. Lý do rất thực tế: những việc ấy chẳng có ích dụng chi cho mục tiêu tối hậu của người học là khám phá ra cội gốc của luân hồi, sanh tử, nhận rõ chỗ không sanh diệt, và sau đó nỗ lực siêu việt sanh tử, thoát vòng luân hồi.
Mục tiêu của Phật Tám tức Thiền Sư LSH có hơi khác. Đã có nhiều môn đồ chán ngấy cái trò xuất hồn lên Thiên Đình, xuống Địa Ngục của Phật Tám, họ bước lên sân khấu giữa thanh thiên bạch nhật nói vào mặt Phật Tám cho tất cả cùng nghe trước khi giã từ đạo hồn hồn vía. Do đó, Phật Tám có nhiều món để kềm giữ các đệ tử còn lại. D nhất và có lẽ hiệu quả nhất là trò "tiên tri" vặt. Phật Tám thích làm cho các đệ tử tròn mắt, vểnh tai, tim ngừng đập, óc trải ra, sẵn sàng ghi nhận các điều Tám tiên tri. Rồi lời nào trúng thì già trẻ loan truyền một cách khẩu phục, tâm phục. Câu nào lãng xẹt thì ai nấy êm ru! Trò này không khác chi thầy bói và người đi coi bói. Toàn những chuyện lặt vặt thường nhật. Hơn nữa, một khi đệ tử đã thấm nhuần điển, hồn, và vía, bất cứ lời gì đức thầy Tám phát ra cũng được họ đón nhận như các lời tiên tri. Có môn đồ lên sân khấu tán tụng:
- "Đức Thầy nói cái gì là trúng cái nấy! Thầy nói thằng A. về Việt Nam coi chừng lúc qua bỏ vợ, y chang! Thầy nói tôi về bển đừng có ăn nhậu nghe mảy! Tôi về bển, bạn bè mời quá, tôi nể tình ăn một miếng gan, nhai nhai, nhằn ra một cái lưỡi câu! Thầy hay thiệt!"
Hai mươi mấy năm qua, đã có đến hàng trăm ngàn Việt Kiều tha hương về thăm quê nhà. Những chuyện về bên ấy rồi có vợ bé, những chuyện hưởng thụ rẻ rề, sửa nhà cửa tốn hằng chục ngàn đô, tiêu chảy té de ở bển, v.v., có gì là mới lạ?
Cứ bói những sự việc khơi khơi, tổng quát như vậy, trúng 50% số thân chủ là cũng có tiếng rồi!
Tôi nhận thấy có hai sự kiện song hành rõ rệt:
• Trình độ suy lý thấp kém
• Cố tật ham thích biết chuyện vị lai vặt và những chuyện ngoài tầm với của mình
Không phải tất cả các môn đồ Vô Vi đều kém học. Nhiều môn đồ có trình độ văn hóa cao, nhưng sau khi bị điển mê hoặc, hai sự kiện song hành trên vô tinh trói họ chặt thêm vào cơn mê hồn vía. Thầy bói khắp nơi lắm người nói quá khứ, vị lai trúng hơn 80% là chuyện thường, trong khi Phật Sống tiên tri mãi bao nhiêu năm nay, buồn thay, vẫn không vượt qua khỏi chỉ số 5 ăn 5 thua !
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp   ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeSun Apr 03, 2011 5:26 pm


Lại hố "thiên cơ bất khả lậu !"
Một câu hỏi lớn ai cũng thắc mắc đã hơn 20 năm qua là : "Bao giờ chế độ Cộng Sản Việt Nam sụp đổ ?" Bị đệ tử theo hỏi câu này tháng nọ qua năm kia, LSH mở miệng tiên tri ẩu mấy lần đều trật lất hết mấy lần. Đặc biệt là những năm sôi nổi kháng chiến ma, rồi vận động này tưng bừng, tổ chức kia rần rộ, phong chức ban tước cho nhau sửa soạn... kéo về, LSH những tưởng "thiên cơ" đã đến nơi, ai dè Phật Tám cũng bị "thiên cơ" gạt luôn. (Khoảng năm 1983-84, tình hình sôi động đến nỗi một tay bịp khác là "Giáo Chủ Pháp Hoa" đã ưu ái hỏi một đệ tử có tuổi và có bằng tiến sĩ kinh tế rằng, "Âng có muốn năm sau về nước làm Thủ Tướng cho tôi không ?")
Sau khi Cộng Sản Liên Xô và Cộng Sản Đông Âu sụp đổ, LSH lại nhấp nhỏm tiên tri cho số phần của CSVN. Các năm 1993-94, LSH cho môn đồ biết CSVN sẽ sụp đổ năm 1995. Do đó, LSH đã dự trù và phán từ trước rằng đại hội Vô Vi thường niên năm 1996 sẽ được tổ chức tại Việt Nam.
Đó là khẩu phán, còn trên giấy trắng mực đen, ngày 23/8/1993, LSH viết:
"Hỏi: Bé được ngủ một đêm thẳng giấc, Bé có khoẻ không? [Câu hỏi ngây ngô như hằng ngàn câu tương tự, nhưng ở đây Phật Tám xì ra tí thiên cơ.]
Đáp: Thưa, Bé rất khoẻ sau khi ngủ ngon, Bé nhớ lại những cảnh đau thương của nhân loại, qua cuộc thay đổi thiên cơ đã qua và sắp tới, Bé rất cảm động, nắm viết rơi lệ, không biết tả sao cho hết, như gia đình phân tán bởi chế độ độc tài và kinh tế bất ổn đã tạo ra thương tâm không ít trong cảnh phù sanh này."
Rồi mùa Xuân lặng lẽ qua đi, mùa Hạ nhè nhẹ đến, rồi mùa Thu tàn khói mây, và mùa Đông sang lạnh lẽo... Rõ ràng Phật Tám lại hố một cú nặng nữa, nhưng Phật Tám nào chịu thua, lại trơ trẽn phán "thiên cơ chưa tới". Các môn đồ đáng thương lại lóng ngóng chờ đợi một lúc nào đó đức thầy sẽ tiết lậu thiên cơ nữa!!!
Cứ thế, miếng mồi "thiên cơ bất khả lậu" nhưng "có thể lậu tí ti", và lại trật lất, cứ tái đi, din lại không ngừng.
Một cao đồ xuất hồn trổ tài tiên tri
Năm 1980, một môn đồ Vô Vi lấy hiệu H.N., xuất bản quyển "Thiền Định Theo Pháp Lý Vô Vi: Một Báu Vật Của Thời Đại". Theo quyển sách dày 200 trang này, HN luyện "chánh pháp" xuất hồn từ năm 1974, và đến năm 1980-82 hoàn tất 200 trang ấy để "đền ơn Trời Phật". HN dành ra 10 trang để nói về những điều hiểu lầm của Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo vì thiếu... tu luyện xuất hồn.
Trong lời giới thiệu đầu sách, HN ghi rõ rằng pháp môn xuất hồn "chính là pháp môn tu tập mà khi xưa Phật Thích Ca và Chúa Jê Su đã dạy riêng cho một số đệ tử". Cũng như tổ sư và đức thầy, HN không cho biết đã căn cứ vào đâu để lập ngôn như vậy.
Tác giả cũng cho biết "Hai tháng trước Sài Gòn thất thủ Ngài [LSH] đã cho chúng tôi biết trước, nhưng ngài nguyền ở lại để cứu độ đồng bào đau khổ bằng cách châm cứu cho những người bệnh hoạn, ...", và truyền bá "pháp môn thiền định này".
Câu trên din tả hai sự kiện: (1) LSH nói trước Sài Gòn sẽ mất, lúc đó đã là tháng 3/75; và (2) LSH châm cứu. Cả hai sự kiện này đều vô giá trị vì các lý do sau đây:
1. Nhiều nhật báo tại Sài Gòn đã nói bóng gió về việc mất miền Nam từ 6 tháng trước ngày 30/4/75. Trong chế độ kiểm duyệt báo chí, văn hoá, và thông tin bấy giờ, khi các dấu hiệu ấy được đưa lên báo chúng ta phải hiểu tình thế đã quá rõ rệt. Ngoài ra, các dấu hiệu ấy cũng không có gì là bí mật với việc Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ quân sự đến mức tàn mạt cả năm trước đó, đưa miền Nam vào thế phải giao chiến với hai tay bị trói sau lưng. Nhiều tỉ phú và triệu phú tại Sài Gòn đã đưa trọn đại gia đình của họ ra ngoại quốc cả năm trời trước ngày 30/4/75. Khoảng cuối năm 1974, một nhật báo chạy một cột ngắn nơi trang tư với tiêu đề in đậm : "Ngoại Trưởng Lắm đã lo xong cho gia đình." Cột báo này nói huyïch tẹt: "Ngoại Trưởng Lắm đã cho cả gia đình đáp chuyến bay __ngày__ qua Luân Đôn". Những người có trong tay các tạp chí nhập lậu Time, Newsweek, Paris Match, hoặc có con em du học ngoại quốc cũng đều biết rõ số phận của miền Nam.
Người ta không cần phải luyện hồn vía vài ba năm liền thành Phật để mãi đến tháng 3/75 mới biết là Sài Gòn sẽ thất thủ.
2. Sự kiện LSH nguyền ở lại châm cứu cho những người bệnh hoạn trái ngược với nhiều sách Vô Vi khác cho biết LSH chỉ mới học châm cứu trong tù CS, năm 1977. Vậy thầy sạo rồi quên, hay trò sạo ? (Đó là tôi giả sử việc LSH đã "nguyền ở lại" là có thực, và sau đó lại... vượt biển tìm tự do.)
Trong các trang cuối cùng của quyển sách "Báu Vật" ấy, cao đồ xuất hồn HN cũng xuất đầu lộ diện trổ nghề tiên tri để cứu đời. Sau khi dẫn lời Thượng Đế phán truyền đủ điều huyền bí, HN cũng năng nổ khuyên mọi người phải lo tu xuất hồn gấp rút cho kịp "có đủ duyên phước mà trở về Việt Nam trước khi thế chiến nguyên tử xảy ra." Tài năng tiên tri HN mới xuất hiện trong làng xuất hồn bấy giờ vừa hăm he vừa tiên tri, rất oai vệ và rất đúng công thức :
- "Không phải bình an rồi muốn về thì về. Cũng không phải có tiền tàu là về được. Không phải d dàng như thế... Thế chiến nguyên tử sẽ din ra rất bất ngờ, trong khoảng thập niên 1985-1995."
HN được các bạn đạo xuất hồn tại Melbourne, Úc Châu trọng vọng hết mình, hùn tiền để tái bản "Báu Vật" ấy năm 1990, 5 năm trước ngày hạn cuối cùng của ngài HN là trái đất sẽ bị bom nguyên tử nổ cho tiêu tùng !
Đức thầy LSH thì tiên tri thầy trò sẽ kéo nhau về họp Đại Hội Vô Vi tại Việt Nam năm 1995, và cao đồ HN tiên tri thế chiến nguyên tử sẽ xảy ra chậm lắm cũng vào năm 1995.
Hiện nay, môn đồ Vô Vi vẫn chưa chịu thức tỉnh với các trò tiên tri nhờ xuất hồn, xuất vía và nhờ "điển" .
18. Một trường hợp đắc đạo Vô Vi điển hình
Cuối năm 1995, nhà in Vô Vi xuất hành một tập sách nhỏ dày gần 70 trang, kể lại trường hợp "đắc đạo, siêu thoát" của cụ bà LTN. Chẳng có gì là vui sướng nếu tu hành đã đắc đạo mà cứ phải nay xuất hồn đi tìm người này hỏi chuyện gia đạo, mai đi tìm người nọ hỏi chuyện tương lai, không khác đi coi bói quẻ, bói bài, coi mu rùa, coi chân gà... Nhưng thực tế cho thấy đạo xuất hồn đã, đang, và sẽ còn sản xuất những môn đồ "đắc đạo" như vậy.
Cụ LTN bắt đầu luyện xuất hồn năm 1965 tại Việt Nam khi cụ đã được 71 tuổi thọ. Đến năm thứ ba, cụ bắt đầu thấy ánh sáng, và bắt đầu "xuất hồn". Trong những lần xuất hồn kế tiếp, cụ bắt đầu thấy những cảnh, vật, cây cối, bông hoa, người, v.v., chẳng có liên hệ hay nghĩa lý gì rõ ràng. Sau đó cụ lần lượt thấy những người thân thích đã qua đời từ lâu. Dĩ nhiên cụ gặp "âng Tám LSH" và "Đức Ông Tư ĐTH" (đã qua đời). Cụ gặp Thánh Quan Đế tức Quan Vân Trường đời Tam Quốc bên Tàu, gặp cả... Thái tử Na Tra là nhân vật giả tưởng trong truyện Phong Thần, và nhiều người tự xưng (lại cũng tự xưng nữa đây!) là Phật Tổ, Phật Thích Ca, Phật Tổ Như Lai, Phật Quan Âm, Phật Mẫu, Lý Thái Bạch, v.v.
Có lần cụ gặp một người đàn bà tự xưng Phật Mẫu, rưới nước cam lồ xung quanh cụ, nói rằng cho cụ "trẻ đẹp lại". Năm ấy cụ đã... 80 tuổi thọ rồi ! Rõ ràng nỗi ám ảnh muốn trẻ đẹp lại của các môn đồ Vô Vi trong trường hợp này vẫn đeo dính cứng cho đến khi đã 80 tuổi và đã... đắc đạo!
Trong một lần xuất hồn khác, cụ gặp một ông già đầu trọc ngồi bên gốc cây, tự xưng "Phật Tổ Như Lai" (lại cũng tự xưng) và làm phép cho cụ "khoẻ mạnh để mà tu." Oái oăm làm sao, suốt sáu năm liền sau đó cụ lại... đau ốm, bệnh hoạn liên miên.
Cụ Bà LTN hỏi cách tu hành nhưng... không được tiết lộ cho biết !
Cụ LTN tiếp tục xuất hồn. Gặp một ông già râu tóc bạc phơ, cụ xá ông và xin ông chỉ dạy cách tu hành. Ông già đáp :
- "Tu hành khó lắm! Thiên cơ bất khả lậu."
Cũng "thiên cơ bất khả lậu" nữa ??? Cách tu hành mà cũng bí mật... thiên đình hay sao ??? Đợi tới chừng tận thª mới tiết lộ cách tu, lúc đó con người ta chết ráo hết còn gì ???!!!
Hơn nữa, chẳng phải cụ LTN đã và đang tu hành rất "thành tựu" đó hay sao? Còn phải xuất hồn đi hỏi cách tu hành gì nữa ??? Chính pháp môn xuất hồn cụ luyện cũng đã biến LSH thành Phật Sống đủ mọi danh hiệu, và nay chính cụ đã đắc đạo, vậy còn phải hỏi cách tu hành là sao ???
Tôi nhận thấy cụ LTN là một môn đồ tiêu biểu cho tất cả môn đồ Vô Vi. Ngoài nỗi ám ảnh muốn được trẻ lại, đẹp ra, còn thêm nỗi ám ảnh ham thích được biết những chuyện vị lai. Tổ sư ĐTH trong quá khứ, và LSH trong hiện tại, cả hai đều thỉnh thoảng đem hai miếng mồi đó ra đánh bóng để nuôi giữ niềm tin và bảo trì sự qui phục của đệ tử.
Cứ ít lâu các ngài lại xì ra tí ti, tiên tri một vài câu úp mở những chuyện hoàn toàn ngoài tầm với của mình, những chuyện có liên hệ đến thời cuộc, hội Long Hoa, tận thế, v.v. rồi các ngài đợi cho đệ tử giương to mắt, vểnh tai, hỏi tới. Các ngài chỉ chờ có thế, phán ngay : "thiên cơ bất khả lậu." Các đệ tử đành tiu nghỉu, nén lòng, hy vọng lần tới gặp lại, các đức ông Tư, đức ông Tám sẽ xì thêm ra chút nữa.
Hậu quả thực đáng thương cho các nạn nhân là con mồi vẫn còn đuổi theo những miếng mồi ảo ảnh ấy cho đến lúc chết, và chắc chắn sẽ còn theo đuổi mãi trong nhiều kiếp làm người kế tiếp, nếu còn được tái sanh làm người.
Cụ Bà LTN hỏi cháu ngoại thi có đậu được không...
Cụ có thằng cháu ngoại thi Tú Tài I, theo lời yêu cầu của nó, cụ... xuất hồn đi Lăng Ông tại Bà Chiểu, Gia Định (tức Lăng Tả Quân Lê Văn Duyệt), hỏi dò Đức Tả Quân xem cháu cụ sẽ đậu hay rớt. Năm sau, nó thi Tú Tài II, cụ cũng phải chiều cháu, xuất hồn đi hỏi nữa ! Lần đầu, câu trả lời là "Đậu !", lần sau câu trả lời là "Nó phải rán tu nhân tích đức và rán học thêm thì mới đậu." Thằng cháu cụ đậu cả hai lần. (Lần sau cụ theo lời Tả Quân dạy, mướn thầy giáo kèm thêm cho cháu tại nhà.)
Ngang đây chúng ta hãy giả sử có một cụ già khác thương cháu, nhưng cụ không biết gì về xuất vía, xuất hồn. Cụ này chỉ có cách dằn túi áo bà ba ít chục bạc, đội cái nón lá cũ đã rách và mốc lên đầu, ra chợ Bà Chiểu tìm thầy bói. Ông thầy bói sẽ nói như thế nào ? Các thầy bói suốt Đông, Tây, Cổ, Kim, Âu, Á, tay nào cũng có thừa khôn ngoan để thừa tiếp các bà các cô với câu căn bản vỡ lòng như ở trên :
- "Phải rán tu nhân tích đức và rán học thêm!"
Nói câu này là thượng sách. Nếu thí sinh đậu thì mình được tiếng bói tài; nếu thí sinh rớt thì lỗi hoàn toàn nơi thí sinh tu nhơn, tích đức và học thêm chưa đủ ! Nơi đây, tôi không bài bác Đức Tả Quân nếu như quả đó chính là... ngài, phải rán chiều cụ, nói đôi lời cho cụ... đi phứt, đừng làm phiền vặt nữa ! Tôi chỉ nêu ra cho người đọc và nhất là các môn đồ Vô Vi thấy rằng căn cứ vào những chuyện thuộc loại bói toán vặt như thế, và ngay cả tiên tri trúng các biến cố quan trọng đi nữa, để xác định mức độ tu hành hay linh thánh của một ai đó là hoàn toàn sai lạc.
Lý do đơn giản là yêu quỉ cũng có khả năng nói trúng một số sự việc trong tương lai. Chúng có thể dựa (nhập) vào người trần thế khi chúng biết người này tháng năm ráo riết dốc tâm mong cầu những việc đó. Chúng cho nạn nhân nói trúng một vài điều xa gần, và lần hồi sai sử nạn nhân làm những việc theo ý chúng muốn ngõ hầu chúng có thể hưởng thụ khoái lạc qua trung gian thân xác nạn nhân.
Các loài yêu quỉ ấy đã mất xác thân nhưng vẫn còn nặng các tham dục phàm tục một cách mạnh mẽ, và các tham dục này đòi hỏi phải có các cảm quan của xác thân. Do không có phước duyên được trở lại làm người, lại bị đọa làm quỷ bởi các nghiệp lực và tham dục, chúng chỉ có thể dùng phương cách dựa nhập người trần thế để có cơ hội thoả mãn các đòi hỏi tham dục ấy. Các tham dục phàm tục này có đủ loại, từ việc tình dục nam nữ, rượu thịt, ma tuý, .., cho đến cảm giác tự cao, tự mãn, tự đắc khi được người ta nể sợ, tôn kính, l lạy lọp mọp dưới chân mình.
Trở lại với cụ bà LTN, trong rất nhiều lần xuất hồn tới lui Lăng Ông, có một lần cụ trở lại để hỏi nữa nhưng... không còn thấy cảnh trí lăng thường nhật đâu, chỉ thấy hắt hiu một... rừng tòng ! Buồn làm sao !
Và cụ lại đi tìm Tả Quân Lê Văn Duyệt để hỏi xem việc đi Mỹ du học của một người cháu khác có được hay không.
Rồi ít tuần sau cụ trở lại hỏi việc thăng quan tiến chức của một cháu khác.
Đến năm 1975, thời cuộc đổi thay, kẻ ở rừng nay vào dinh thự đài các, người phố thị nay kéo nhau ra ruộng, lên ngàn. Cụ lại xuất hồn đi hỏi Tả Quân chừng nào cháu cụ đi học tập cải tạo được thả về.
Tôi đọc chuyện đắc đạo xuất hồn của cụ, mà thương cụ vô vàn !
Cụ LTN được Thượng Đế... tăng thọ
Đến năm 1982, tính ra cụ luyện đạo xuất hồn đã được 17 năm trời, và tuổi hạc đã 88. Đầu năm, cụ xuất hồn bay lên khỏi... chín tầng trời, gặp một ông tự xưng là Thượng Đế. Ông Thượng Đế này phán rằng:
- "Ta là Thượng Đế, xuống tăng thọ cho con !"
Phán xong, Thượng Đế biến mất. 10 tháng sau đó cụ LTN... từ trần !
Chúng ta còn nhớ, trong một lần trước, Phật Tổ Như Lai nào đó đã làm phép cho cụ được "khoẻ mạnh mà tu" và sau đó cụ đổ bệnh liên miên 6 năm liền. Nay được Thượng Đế tăng thọ, và cụ sống thêm được chỉ có 10 tháng. Qua cuộc hội ngộ với Thượng Đế của cụ LTN, chúng ta được biết chút ít về những việc làm chẳng mấy khi được tiết lộ của Thượng Đế quyền năng tối thượng. Thượng Đế bỏ ngang công việc quản trị cả vũ trụ, Ngài cũng bỏ mặc biết bao nhiêu người Việt Nam vượt biển chìm ghe chết thảm thương vào những năm ấy. Hình như Thượng Đế này cũng chẳng quan tâm gì đến đám con dân miền Nam Việt Nam, vào thời điểm 1982, vẫn còn đang mạng vong, yểu tử vì đủ mọi lý do, tại khắp mọi nơi thành thị, thôn quê, rừng rú, ruộng rẫy, trại tù. Thượng Đế riêng tìm một cụ già đã thọ 88 tuổi để tăng tuổi thọ cho cụ ! Và với sự kiện cụ sống thêm được có 9, 10 tháng trần gian thì không biết cụ, con cháu cụ, và người đọc có phần... thất vọng hay không ?
Tuy nhiên, chúng ta hãy xét xem trong 10 tháng được tăng thọ đó, cụ đã làm gì ? Thượng Đế đã đặc cách gia hạn cho cụ thêm 10 tháng ấy, tất phải có lý do rất chánh đáng. Cụ có thực hiện công tác, Phật sự, hay sự việc chi to tát đem lợi ích lớn lao cho đạo pháp, cho nhân loại, cho chúng sinh muôn loài, hay ít ra là cho riêng các bạn đạo Vô Vi của cụ hay không ?
Không ! Cụ lại tiếp tục thấy ông nọ ở tầng trời thứ 4 tự xưng là Phật Thích-Ca ; ông kia ở tầng trời thứ 5 tự xưng là Lục Tổ Huệ Năng ; ông khác ở tầng trời thứ 3, bới tóc, mặc áo đen ngắn, biến tới biến lui cho đến khi cụ phải xá tạ lỗi và chịu tin ông ta là Phật Bà Quan Âm !!!
Tôi thấy thương cụ như thương chính mẹ tôi, như thương bất cứ một bà mẹ Việt Nam nào. Suốt đời, các cụ lo cho các con, rồi lo cho các cháu nội, cháu ngoại. Những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời cụ LTN, cụ lại phải ngồi xe xích lô trở lại Lăng Ông, xuất hồn, gặp Tả Quân, và cật vấn:
- "Hôm trước Đức Ông có nói thằng cháu tôi đi cải tạo sẽ về trong vài ba tháng, mà sao đến nay chưa thấy về ?"
Chuyện đắc đạo của cụ LTN dài dòng, lẩm cẩm, khôi hài, và tôi đã phải bỏ qua rất nhiều chi tiết lăng nhăng khác.
Phần cuối của tập sách gần 70 trang này kết luận : cụ LTN đã "liu đạo". Tu đạo xuất hồn đắc đạo, liu đạo là như thế đó ! Ôi ! Không đáng để các môn đồ Vô Vi dừng lại, thử suy ngẫm cho kỹ hay sao ?
Những Thiền đường Vô Vi và Thiền viện Vô Vi :
Thiền định hay học tập, tẩy não ?
Mọi đóng góp ý kiến, dữ kiện, kinh nghiệm, xin gởi cho : pham_ba@hotmail.com
________________________________________
Thư độc giả
Độc giả LTL viết:
.... Tôi cũng đang suy xét những lý do tại sao họ có thể làm ngơ trước sự thật có bằng chứng để tin một cách ngây ngô vào những điều bịa đặt thô thiển đến độ một học sinh tiểu học cũng nhận ra được.
Mong rằng ông Phạm Bá sẽ có những phân tích về thái độ này trong những phần kế tiếp của tập tài liệu.
Phạm Bá viết:
Tôi có phân tích và sẽ đúc kết về vấn đề chối bỏ lý trí này. Khi bản tường trình đã đưa ra hết tất cả những dữ kiện, tôi xin dành việc phán đoán sau cùng cho độc giả.
Độc giả NMH viết:
.... Con người như vậy, cách tu hành như vậy mà tôi không hiểu tại sao ông ấy dụ được nhiều người quá, mà một số đông lại là những người trí thức chứ đâu phải là thất học...? Bởi vậy tôi mới nghĩ, con người ta chỉ cần bỏ tiền ra và chịu khó học một thời gian sẽ trở thành một "trí thức" d dàng... nhưng đổ hết đi và hy sinh hết tài sản cũng chưa chắc mua được cái gọi là "ý thức".... Học cao mà không có ý thức thì cũng uổng công cha mẹ, công thầy....!!
- đây tôi có một người quen, cùng quê, cũng là người khoa bảng hồi xưa nhưng cả hai vợ chồng đều đem hết mình phụng sự cho ông LSH và hết lòng lo cho cái gọi là thiền đường của ông ấy ở đây... Có một lần người đó tới thăm tôi và có khoe là đã xuất hồn được, tôi cười không nói gì, thì anh ta khoe tiếp rằng xuất hồn về Việt Nam gặp bà chị của anh ta rồi hai chị em nói chuyện ở sau vườn chuối.... Thú thật tôi không dám cười ra tiếng e mích lòng nhưng anh ta thì có vẻ hãnh diện lắm.... ra cái điều ta đây tu đã thành đạo...!!?? Chuyện đó tôi tưởng tượng cũng ra chớ cần gì phải xuất hồn lúc nữa đêm nữa hôm...? Vì chuyện đó đâu có thật....!!
Rồi tôi có tới nhà thăm một người quen, hai mẹ con đều tu theo phái vô vi của ông LSH. Tuần nào cũng đi thiền và khoe là đã thấy một.....đốm sáng rồi.... Bị bịp mà không biết....!! Tôi cam đoan, bất cứ người nào mhắm kín hai con mắt lại rồi lấy hai ngón tay kéo hai mí mắt trên ra thì sẽ thấy sáng liền, lý do là nếu kéo ra thì mí mắt trên sẽ bị chằn mõng thì thấy sáng hơn một chút chớ có gì đâu.....?? Khi nói chuyện thì cả hai mẹ con... một điều "Thầy" nói như vầy, hai điều "Thầy" nói như kia.... Trên bàn thờ cha thì phía trên cái hình của cha là hình của ông LSH rồi thắp nhang nghi ngút.. Trong khi nói chuyện thì cứ khoe "Thầy" tiên tri thế này... "Thầy" tiên tri thế kia..., mà có bao giờ trúng đâu ? Chỉ ăn ốc nói mò..
Bẳng đi một thời gian, hồi năm ngoái tôi có ghé lại thăm hai mẹ con thì bà mẹ đã tỉnh, tố ông LSH đủ thứ chuyện :
- Từ Mỹ qua Úc không ở thiền đường mà ở hotel 5 sao mà dưới lầu là sòng bạc Casino nổi tiếng ở đây.
- Ai tới tìm thầy thì tìm lẩn quẩn ở các sòng bạc dưới lầu !
- Thầy khoe là "thầy" đánh cho biết, "thầy" chẳng bao giờ thua, Chẳng những vậy mà "thầy" muốn ăn bao nhiêu cũng được và ăn đủ số là "thầy" nghĩ chơi...!!
- Ai tìm găp "thầy" đang chơi thì thường thấy "thầy" chìa ra một xấp bạc và nói là "thầy" vừa ăn được !!?? Có Trời mà biết ? "Thầy" phán rằng nếu "thầy" cần hai ngàn thì "thầy" xuống dưới (tức là xuống lầu vào sòng bạc) lấy 2000, nếu "thầy" cần 5000 thì "thầy" xuống dưới lấy đủ 5000 rồi "thầy" nghĩ thôi chớ không lấy hơn !....
"Thầy" nói như vậy mà thiên hạ tin thì lạ thật (!) Mấy thằng Nhựt, Mỹ, Úc bỏ ra bạc tỉ để xây dựng lên cái casinô rồi bỏ tiền mướn người đứng đó để phát tiền khơi khơi cho "thầy", đúng là mấy thằng dại !!
- Hồi trước "Thầy" ăn chay trường, thời gian sau này "Thầy" đạt đạo rồi cho nên "thầy" ăn mặn (!) để... "độ" cho những con vật mà "thầy" ăn ! Tức là "thầy" ăn thịt con gì thì "thầy" có ý muốn... "độ" cho con đó...
.... Còn những chuyện anh kể về những người đi học bác sĩ sáu tháng khám bệnh bằng kính lúp soi tròng mắt tôi công nhận là có, cũng như chuyện súc ruột cũng có và uống thuốc lá cây..... cũng có.
Chuyện về "thầy" LSH còn nhiều như "chuyện dài nhân dân tự vệ" ngày xưa.... mà. ....
Phạm Bá viết:
- Đúng là "chuyện dài nhân dân tự vệ" như ông nhận xét. Tôi phải rút bớt và bỏ đi rất nhiều tình tiết trời ơi đất hỡi như chuyện nhiều nam môn đồ đi dự đại hội Vô Vi hằng năm, đem theo một hộp phấn thoa mặt của phụ nữ để thoa cho mặt nhìn có vẻ hồng hào nhờ... điển. Làm vậy cũng để khi quay video xong, chiếu ra không ai nói mặt mình không hồng, tức là... không có điển.
- Nhận định của ông về "trí thức" và "ý thức" rất xác thực. Nói chung, con số những người có trình độ học vấn cao nhưng lạc vào tà đạo khá nhiều, không riêng gì với đạo Vô Vi. Tôi nhận thấy bằng cấp văn hóa và khả năng nhận định về đạo pháp hoàn toàn tách biệt nhau. Học đường dạy chúng ta những kiến thức đã được chứng minh và công nhận trên khắp thế giới, còn các giáo chủ thì mạnh ai người nấy tự phổ biến giáo pháp của mình. Không có việc các giáo chủ hay Phật Sống thưa kiện nhau ai là... thiệt, ai là... giả mạo. Người ta tin, thích, và hạp giáo pháp nào thì theo giáo pháp ấy, vì vậy nếu lỡ bước, sa chân vào hang quỉ trong những bước đầu thì cứ thế lún dần, và lần hồi thành mê muội, cuồng tín hồi nào không hay.
Những kiến thức học đường tồn tại mãi và được phát triển không ngừng. Các tà đạo đều có thời cực thịnh, sau đó đều tự hủy hoại dần theo thời gian, chẳng chóng thì chầy. Lý do là các giáo chủ tà đạo trước sau gì cũng lộ bộ mặt thực vì chính mình vẫn còn bị các thói xấu tham-sân-si nổi dậy, và pháp môn tà mình đã hành không thể kềm chế nổi. Kẻ thì phạm vào luật pháp ; người thì dấu diếm dâm thú mãi cũng chán, đành công khai lấy vợ, lấy chồng ; kẻ đã hết lạc thú xác thịt thì chăm lo thoả mãn các lạc thú phàm tục khác như ăn uống, bài bạc, cao mạn, và nói thiên đàng, địa ngục, nói phét để được người nghe yêu mến, tôn kính.
- "Đốm sáng" có thể do như ông giải thích, cũng có thể do các xung động của thần kinh. Nhiều người còn thấy một cái mặt thoa môi son đỏ lòm, lờn vờn. Đạo xuất hồn gọi đốm sáng ấy là "mâu ni châu" và cái mặt thoa son phấn ấy là "bản lai diện mục" (đều là các danh từ của nhà Phật) và cũng theo họ, như vậy có nghĩa là đã có "ấn chứng" và "đắc đạo".
- Chuyện LSH nói muốn vào sòng bài lấy bao nhiêu cũng được, "chẳng bao giờ thua" : cũng chính LSH đã từng thú thực "cuộc đời cũng như cái bàn roulette, khi được khi thua" !!!
Một trong những cách phân trần thói mê bài bạc của LSH là chơi bạc "để lấy tiền gởi về cho các đệ tử nghèo ở Việt Nam". Trong kỳ này tôi có đề cập đến việc này, và tôi cũng đề nghị những cách hay hơn, thực tế hơn, ra nhiều tiền hơn, và hợp đạo lý làm người hơn.
Độc giả LL viết:
Tôi có nghiên cứu cách tập vô vi trong 3 năm, nhưng không tiếp tục vì có những điều nguy hại như sau :
1) Cách tập gọi là Soi hồn, pháp luân, thiền địinh, thực ra là cách luyện khí công của con nhà võ. Tôi có gặp 1 thầy Tàu (80 tuổii) luyện Thái cực quyền từ nhỏ. Ông ta bảo rằng, theo cách tôi nói về 3 pháp vô vi [răng kề răng, co lưỡi, thở bụng dẫn lên đầu, trụ ở đỉnh đầu, hay ở tam tinh], thì đó là cách điều khí trong thể xác con người (coi lại các sách dạy khí công của Việt, Tàu hay Anh-ngữ quả thật có chỉ như thế). Điều nguy hiểm là, nếu làm mà không có thầy theo dõi nghiêm nhặt, thì sau 1 thời gian hành giả sẽ bị nhức đầu thường xuyên, căng thẳng thần kinh và nhất là bị cao áp huyết, từ đó rất hay d nổi giận (Ông Tám bị hypertension rất cao và hay ... sì nẹt vô cớ lắm.)
2) Coi chừng nghe lời từ bỏ tất cả thế gian để chỉ theo ... vô vi mà thôi. Điều này làm gia đình tan nát, con cái lâm vào cảnh đau khổ (có biết bao nhiêu gia đình vô vi bị như thế, thực đáng tiếc). Nên nhớ tu theo Phật là để tất cả chúng sinh được hạnh phúc! Vợ con hay chồng con không phải là chúng sinh hay sao ? Khoan nói chánh tà, chưa tu tới đâu mà đã làm chính những người thân yêu quanh ta đau khổ trước tiên, tu theo vô vi như vậy đúng hay sai ?
Phạm Bá viết:
Tổ đạo xuất hồn là cụ Đỗ Thuần Hậu không hiểu cách luyện do cụ đã học từ các nhà sư tu theo đạo Lão, nên cụ tự sửa đổi. Vấn đề này sẽ được đề cập đến trong kỳ 5 của bản tường trình, phân tích về "Tẩu Hoả Nhập Ma".
Tôi xin cảm tạ quí độc giả đã gởi đến những lời góp ý. Tất cả rất cần thiết và hữu ích cho người đọc.
- KỲ IV -
"Sinh hoạt" tại các thiền đường Vô Vi :
những buổi học tập hằng tuần
________________________________________
Mỗi địa phương có một hay nhiều thiền đường Vô Vi tùy theo địa dư và nhân số. "Thiền đường" đây chỉ là tư gia của một môn đồ có phòng rộng hay chỗ trống đủ cho 5, 10 người cho đến vài mươi người đến tụ họp hằng tuần. Trước kia, việc tụ họp chỉ để tán gẫu rồi ngồi thiền chung với nhau, nhưng nhiều năm nay lại có thêm một tiết mục rất quan trọng: hội thảo, học tập những lời đã được "Thiền Sư Lương Sĩ Hằng" viết xuống mỗi ngày và phát đi trên Internet. Chỉ những môn đồ Vô Vi có... mật mã mới được download các bài học tập này để photocopy ra và phân phát tại "thiền đường".
Các môn đồ tại mỗi địa phương phải hội họp cuối tuần để học tập những chỉ thị và lời dạy mới nhất do LSH đã viết ra mỗi ngày trong suốt một tuần l trước đó. Những bài vở này lúc đầu được gọi là "Lá Thư Vô Vi", sau đó đổi thành " VoviLED Weekly", và nay là "Tuần Báo Phát Triển Điển Năng". Cách học tập như sau:
1. Chủ tịch "Hội Ái Hữu Vô Vi" cầm bản tin hằng tuần ấy đọc các chỉ thị và thông báo mới nhất của LSH.
2. Sau đó đến khoảng năm câu Hỏi-Đáp do LSH tự đặt ra, gọi là "Mục Bé Tám." Chủ tịch chỉ đọc từng câu hỏi trước, gấp giấy lại, rồi cả nhóm bàn tán với nhau. Ai muốn thì phát biểu ý kiến của mình để giải đáp câu hỏi đó. Nếu không ai có ý kiến, chủ tịch sẽ gọi tên một hai người, và chủ tịch cũng phải rán nặn óc ra câu trả lời.
3. Sau cùng, chủ tịch lại mở bài học ra đọc câu giải đáp của LSH. Cả nhóm lại bàn thảo, tán tụng lời dạy của LSH hay ho ra sao.
Như đã đề cập, một trong số các câu Hỏi-Đáp trong một bản tin "VoViLED Weekly" vào tháng 10, 1995, đã được đem ra học tập như sau :
- "Hỏi: Mây do đâu mà có ? "
Chủ tịch đọc câu hỏi ấy xong, mọi người yên lặng khá lâu, không biết vì câu hỏi quá ấu trĩ, hay quá khó. Không ai lên tiếng trả lời. Chủ tịch bèn gọi tên một người, và ông này phát biểu rằng "Mây do hơi nước bay lên tụ lại mà thành".
Không ai có ý kiến gì khác về vấn đề huyền bí quá mức ấy. Vậy, đã đến phiên chủ tịch đưa ra câu trả lời của chính mình. Bằng một giọng chắc nịt, tràn đầy tự tin của một bậc đàn anh lớn, một chủ tịch hội ái hữu Vô Vi địa phương, và dĩ nhiên, một cao đồ xuất hồn, chủ tịch nói:
- "Mây do khói bay lên mà thành ! Nhớ không ? Mình đốt rác đó, khói bay lên tụ lại thành mây ! "
Sau khi chờ ít phút cho cả nhóm gần 20 người suy ngẫm câu trả lời ấy của mình, chủ tịch mở bài học tập ra, và đọc câu trả lời của Đức Thầy, tức Phật Sống Di Lặc, tức Phật Vĩ Kiên, tức Thiền Sư LSH, tức Bé Tám, tức v.v. và v.v.:
- " Mây do hơi nóng bay lên thành. "
Tất cả vẫn lặng thinh suy ngẫm.
Một câu Hỏi-Đáp gần đây hơn, vào tháng 10 năm 1999, được LSH viết ra khi đang hưởng thụ tại Atlantic City, cũng là một nơi có sòng bạc lớn :
• "Hỏi : Dốc lòng tu tiến sẽ tiến bằng cách nào ? "
• " Đáp : Thưa dấn thân tu tiến bằng sự cảm thức sự vô cùng của Trời Phật, nhiên hậu mới gặt hái được sự thanh tịnh. "
Hai câu Hỏi-Đáp trên tiêu biểu cho những câu Hỏi vớ vẩn, và các môn đồ phải họp nhau ngồi nghe, mỗi người nặn đầu, nặn óc cho ra câu trả lời trước khi được đọc cho nghe câu Đáp cũng vớ vẩn không kém. Ngoài ra, hai câu trên cũng cho thấy LSH vẫn còn phải dùng "Trời Phật" để làm bình phong.
Các buổi học tập như thế kéo dài có đến ba tiếng đồng hồ. Cứ mỗi câu Hỏi-Đáp, kể cả câu "Mây do đâu mà thành ?" trên, đều có kèm theo 4 câu "kệ" nghe như vè. Nhiều năm sau này LSH làm kệ mỗi ngày, làm liên miên, có lẽ để chứng minh mình là Phật thứ thiệt. Bởi biết có nhiều người chán ngấy các buổi họp hành, học tập ấy, nên LSH đã đặt ra câu hỏi "Vì sao ai cũng mong đến ngày Chủ Nhật ? " và cũng tự LSH giải đáp rằng đến ngày đó môn đồ được họp nhau, "mau...giải nghiệp, điển mạnh thêm". Sự thật có mau giải nghiệp không ? Phần dưới đây sẽ cho chúng ta biết rõ về việc này.
Tài liệu học tập
Cứ cầm lên bất cứ một quyển nào trong số cả chục quyển " Bé Tám Bàn Bạc Cùng Bạn Đạo Khắp Năm Châu" do nhà sách Vô Vi ấn hành, người ta có thể thấy ngay câu nói "họp nhau mau giải nghiệp" trên là có thực hay cũng chỉ bố láo.
Tôi xin trích dẫn dưới đây 100 câu trong số khoảng 260 câu Hỏi-Đáp do LSH đặt ra mỗi ngày một câu, in thành " Bé Tám..., Tập V" . Xin người đọc lưu ý vài điểm sau:
1. Có hai loại câu vấn-đáp trong đạo xuất hồn: (a) loại thực sự do một người hỏi và LSH đáp, ghi trong các quyển Vấn Đạo và (b) loại do Phật Tám tự đặt, tự đáp ghi thành các quyển tập "Bé Tám Bàn Bạc Cùng Bạn Đạo Khắp 5 Châu".
Quyển "Bé Tám..., Tập V" này dày 138 trang. Các câu Hỏi-Đáp không được đánh số, chỉ ghi ngày LSH viết, và mỗi ngày viết một câu. Từ ngày 8/4/93 đến ngày 25/12/93, gần 9 tháng, có khoảng 260 câu.
2. Trong khoảng 260 câu ấy, tôi chỉ trích dẫn 100 câu, đánh số, và bỏ qua khoảng 160 câu cực kỳ tạp nhạp khác như: Tại sao người đời hay than thở ? Tại sao có nhiều người ở mặt đất hay lo chuyện thế sự ? Nhớ Trời Phật để làm gì ? Những người còn tự ái thì phải làm sao ? Người đời hay ham vui thì sao ? Một quê hai kiểng là sao ? v.v..
1. Trong nguyên bản, dưới mỗi câu Hỏi có câu Đáp, hết câu đáp có bài Kệ 4 câu. (Hỏi-Đáp-Kệ) Tôi chỉ trích dẫn nguyên vẹn Hỏi-Đáp-Kệ câu đầu tiên làm tiêu biểu để độc giả thấy bốn câu vè ấy hay ho thế nào. Các câu sau đó tôi chỉ trích dẫn câu hỏi mà thôi, ngoại trừ vài câu tôi thấy cần dẫn cả phần giải đáp. (Độc giả muốn có toàn bộ nguyên bản quyển này và các quyển khác xin liên lạc nhà sách Vô Vi tại Westminster, California. Rõ ràng tôi đang quảng cáo không công cho đạo Vô Vi đây !)
Phật Sống LSH tức Bé Tám nói đạo lý gì trong số 100 câu Hỏi-Đáp này và bắt môn đồ phải học tập ? Xin nói ngay để người đọc d thưởng thức, hầu hết là các câu hỏi như : Bé có mệt không ? Bé có ngủ được không ? Bé khó ngủ vì sao ? Bé có vui không ? Bé có buồn không ? Bé có lo không ? Bé nghĩ sao ?
Đối với người bàng quan, tất cả những câu này cho thấy trạng thái tâm thần bất ổn và có thể bệnh hoạn của LSH. Các môn đồ Vô Vi không thấy như vậy. Cũng như việc LSH hay nổi cọc và thích chơi roulette được xem là "mầu nhiệm", môn đồ Vô Vi tin rằng những câu này và tất cả những lời dạy tương tự khác của LSH là những lời dạy "mầu nhiệm".
1. Hỏi: Hôm nay Bé lại phải tiếp tục lên đường đi Dallas theo lời hứa, Bé không chán sao?
Đáp: Thưa, Bé lúc nào cũng tôn trọng lời lứa, dù cho bao nhiêu trở ngại Bé vẫn thực thi cho kỳ được, quyết tâm không thay đổi thì mọi việc sẽ tốt đẹp.
Kệ: Thương yêu khai triển ý tâm hòa
Tái ngộ thương yêu lý thiết tha
Tràn ngập chơn tình do trí phát
Trùng tu xây dựng sống chơn hòa.
2. Đêm khuya trời đất động ầm ầm, Bé có ngủ được không?
3. Bé bàn bạc với bạn đạo mọi khía cạnh, Bé có khoẻ không?
1. Lúc này Bé rất khoẻ, đi đâu với phương tiện nào cũng thích hợp với Bé cả, tại sao?
2. Đêm nay hầu như Bé không ngủ tại sao?
3. Bé về Thiền Viện ngủ có được không?
4. Bé dời chỗ ngủ hoài Bé có mệt không?
5. Bé đã bình an đến Thiền Viện Hai Không, Bé cảm thấy thế nào?
6. Mọi người diện kiến Bé đều hoan hỉ, tại sao?
7. Sáng mai 8 giờ Bé phải rời nơi đây đi hợp mặt bạn đạo ở San Diego, tại sao?
1. Người đời hay thay đổi tại vì sao?
2. Bé đã bình an đến nơi, gặp mọi người vui không?
3. Hôm qua Bé được gặp mọi người thân yêu, Bé cảm thấy sao?
4. Qua những ngày chung vui với bạn đạo, hôm nay Bé sẽ xa rời đi nơi khác, Bé có thương nhớ họ không?
5. Hỏi: Bé đã bình an đến nơi, thời tiết oi bức trở thành mát lạnh, tại sao?
Đáp: ...Bé tự nghĩ rằng lúc nào Bé cũng hướng tâm về Trời Phật, thì Trời Phật cũng tận độ cho Bé được bình an và khoẻ mạnh, Bé tự chứng minh Bé không bao giờ dám xa Trời Phật. [Bé Tám cho rằng khi Bé Tám đến địa phương ấy, Trời Phật đã vì đặc biệt cưng Bé Tám nên đổi thời tiết từ nóng bức ra mát mẻ.]
15. Hôm nay Bé phải đi gặp bạn đạo ở Thiền Đường Vancouver đông người, Bé có mệt không?
1. Những người giàu có quí lấy họ không?
2. Hỏi: Làm người có gì lạ tại mặt đất này?
Đáp: Thưa, làm người không khác gì hòn bi của bàn roulette, hên xui vô thường, rơi vào số nào thì phải chịu số đó, khi được khi mất...
18. Hôm nay Bé lại phải rời đây đi về Montréal theo sự yêu cầu của bạn đạo nơi đó, Bé có bận tâm không?
1. Bé đã bình an đến Montréal, mọi người đều vui, Bé nghĩ sao về họ?
2. Bé về đây đọc thư quá nhiều Bé có mệt không?
3. Hiện nay bạn đạo được có một nơi khang trang trật tự, hướng về Trời Phật để tu học, Bé nghĩ sao về việc nầy?
4. Hỏi: Những người tham thiền để làm gì?
Đáp: ...có thể nghe được những siêu âm trong lúc nhập định, sung sướng và hạnh phúc vô cùng [Những năm này "Vô Thượng Sư" đang hoành hành với pháp thiền nghe những âm thanh... cõi trời. Vô Thượng Sư tức Phật Sống Quan Âm này đã lấy chồng năm 1997.] .
23. Hôm nay là ngày cuối của sự hợp mặt giữa Bé và bạn đạo Montréal sắp chia tay Bé có buồn không?
1. Hôm nay Bé bắt đầu dọn về nhà cũ, và chuẩn bị cho cuộc Mỹ du ngày 02-07-93, Bé cũng sẽ chung sống với một số bạn đạo chung hợp tại Boston, Bé phải làm việc như vậy có mệt không?
2. Hôm nay là ngày đúng hẹn ra đi Boston của Bé, Bé có chuẩn bị cho cuộc sống chung sẽ ra sao? [Đáp: cuộc sống chung sẽ được vui hoà tốt đẹp ...]
3. Bé đã đến nơi bình an, mọi người gặp lại Bé đều vui và tự cảm thấy thanh nhẹ, tại sao?
27. Hỏi: Bé khó ngủ thâu đêm tại sao?
Đáp: ...nói chuyện nhiều, thiền nhiều và ít ngủ cho nên máu có phần cao, tim làm việc nhiều...
[Hoàn toàn trái ngược với các quảng cáo luyện xuất hồn sẽ chữa được nhiều bịnh nan y, và sẽ ngủ ít nhưng vẫn khoẻ.]
28. Hôm nay là buổi bế mạc và chia tay, Bé cảm thấy ra sao?
1. Sau buổi chung sống, Bé dừng chân tại khách sạn, Bé có thấy gì lạ không? [Đáp: ...Bé rất cần ngủ bù lại cho khoẻ...]
2. Trong tuần này có rất nhiều người đến thăm Bé, Bé có sẵn sàng tiếp họ hay không?
3. Làm người tại sao không minh bạch? [Đáp: tại vì chính họ không hiểu được chính họ, làm sao minh bạch được, ...]
4. Hỏi: Tại sao thế gian cứ bị bão lụt hoài, tạo sự đau khổ cho người dân rất nhiều?
Đáp: Thưa, nước có cơ hội tràn thì đất có cơ hội lại lấp...
5. Nhớ Trời nhớ Phật để làm gì?
6. Người bệnh hay sợ chết, có người lại muốn chết, tại sao?
7. Nhà Bé lúc nào cũng có đông người lai vãng chung vui với Bé, Bé nghĩ thế nào?
8. Hôm nay Bé chuẩn bị đi Âu Châu, Bé có cảm thấy lo âu không?
9. Khuya nay 11 giờ đêm Bé sẽ cùng bạn đạo đến nơi tụ hợp ở Âu Châu, Bé có vui không?
10. Hôm nay Bé đã bình an đến phi trường Hòa Lan gặp mọi người đón Bé, Bé có vui không?
11. Bé được một giấc ngủ Bé có khoẻ không?
12. Bé đến đây mát mẻ có ăn ngủ được không?
13. Bạn đạo đến càng ngày càng đông, Bé cảm thấy thế nào?
42. Hỏi: Có người tu lâu tự cảm thấy trí óc sợ sệt và lộn xộn tại sao?
Đáp: vì họ hành không đúng pháp, đã sửa đổi pháp theo ý muốn của chính họ.
[LSH đổ tội cho môn đồ chứ không chịu nhận đó là hậu quả của việc luyện đạo Vô Vi. LSH lại quên là chính tổ sư ĐTH đã sửa đổi pháp theo ý muốn nên mới ra các nông nỗi cho đến tận ngày nay.]
43. Sau ba ngày chung họp, Bé có cảm nghĩ gì?
1. Sau Đại Hội Bé được nghỉ ngơi một tuần gần bờ biển, Bé nghĩ sao về việc này?
2. Những người giàu có ham vui tại sao?
3. Ngày nay là ngày nghỉ của Bé, nhưng Bé cũng đi làm việc ở Hòa Lan là sao? Bé có mệt không?
4. Hôm nay Bé đi xứ nóng Phi Châu, Bé liệu có chịu đựng nổi không?
5. Bé đã bình an di động 15 tiếng đồng hồ không ngủ, Bé có mệt không?
6. Bé được ngủ một đêm thẳng giấc, Bé có khoẻ không?
7. Lúc này Bé khoẻ và rất vui, lúc nào cũng chìu mọi người, tại sao?
[Phải chăng thời gian này Bé đổ quạu quá mức bình thường, nên hôm nay Bé có câu này ?]
51. Bé nói ở trên đời này vạn sự đều không tại sao?
1. Hôm nay Bé lại phải dời chỗ trở về chỗ cũ, Bé có mất ngủ không?
2. Hỏi: - đời này có rất nhiều người không chấp nhận pháp của Bé đang hành, tại sao?
Đáp: Thưa, pháp của Bé đang hành không phải như món hàng bán ở chợ, muốn mua là mua còn không mua thì thôi ...
54. Hôm nay Bé lại phải xa những người con yêu quí của Bé, Bé có buồn không?
1. Một đêm dài Bé không nhắm mắt, Bé có mệt không? [Bé Tám giải đáp dài dòng và thêm 4 câu kệ, nhưng tất cả không hề cho biết có mệt hay không.]
2. Hỏi: Bé gặp bạn đạo khắp nơi đều còn thắc mắc, tại sao?
Đáp: Thưa, bản chất lười biếng của con người vần còn thì sự thắc mắc không bao giờ tiêu tan cả. ...
57. Hỏi: Những người gian tham thì sao?
Đáp: Thưa, ..., tương lai sẽ triền miên trong khổ của tâm lẫn thân, không thể giàu được, tâm linh nghèo nàn bẩn thỉu.
58. Bé đi xem triển lãm xe hơi tại Đức có gì lạ không?
58. Làm người thích lo về sự sống chết, tại sao?
59. Bậc lãnh đạo quốc gia có cần tu không? [Phạm Bá xin đố người đọc, và nếu cần tu thì nên tu đạo nào?]
60. Hôm nay Bé về Thiền Viện mọi người đều vui, tại sao?
61. Bé được tiếp đãi tốt ở khách sạn rộng rãi, Bé có thích không?
62. Mùa đông sắp đến, Bé cảm thấy ra sao?
63. Bé được bạn đạo vui mời Bé dùng cơm tối, Bé có cảm nghĩ gì về buổi cơm đông đảo bạn đạo, mọi người đều nhìn Bé và muốn nghe những gì Bé nói?
64. Bé được bình an đến nơi ở nhà mới Bé có ngủ được không ?
65. Bé ngủ chưa quen giường, Bé phải ra đi nơi khác Bé có bực không ?
68. Mọi người muốn gặp riêng Bé là sao?
69. Hỏi: Xứ Pháp năm nay lụt rất nhiều nơi, tại sao?
Đáp: Thưa, luật nhân quả, có yên cũng phải có lụt....
69. Hôm nay Bé phải đi dự cuộc vui của bạn đạo Paris, Bé nghĩ sao về việc này ?
1. Bé được bàn bạc về Đại Hội kỳ tới với bạn đạo khắp các nơi trên thế giới, Bé có vui không ?
2. Những việc trở ngại Bé có lo âu không ?
3. Bạn đạo quí mến nhịn và khổ nhọc đưa Bé đi bất cứ nơi nào, Bé nghĩ sao về họ ?
4. Bé đã bình an đến nơi, Bé có cảm thấy vui không ?
5. Hỏi: Lòng ham muốn của loài người đều muốn tự do tại sao?
Đáp: Thưa, phần hồn luôn luôn muốn tự do và không bao giờ muốn bị giam hãm...
75. Bé có tội nghiệp cho những phần hồn không có lập trường dứt khoát không ?
[Bé Tám muốn ám chỉ các môn đồ đã bỏ đạo hồn vía.]
76. - đời này bị mất của ai cũng buồn cả, còn Bé thì sao ?
[Phải chăng câu này được "Đức Thầy" viết xuống sau khi thua roulette ???]
77. Tại sao những người mới hay cũ cũng đều quí thương Bé hết?
1. Hôm nay Bé phải ra đi vì sự yêu cầu của bạn đạo Florida, Bé có vui không ?
2. Người tu Vô Vi có hoàn toàn tự do không?
3. Sau khi sống chung, mọi người đều quí mến Bé, tại sao ?
4. Tình thương dào dạt của mọi người hướng về Bé, Bé có khoẻ không ?
5. Bạn đạo làm l sinh nhựt cho Bé sớm hơn một ngày, Bé nghĩ sao về họ ? [Viết ngày 12/11/1993; sinh nhật thật của LSH là ngày 13/11]
6. Mọi người đều bằng lòng chung vui với Bé, từ trên bờ cho đến xuống biển, có gì lạ không ?
7. Khi Bé rời khỏi bạn đạo thì mọi người lục đục tại sao?
8. Hôm nay Bé phải xa bạn đạo xứ nóng về xứ tuyết lạnh, Bé sẽ làm việc nhiều hơn xứ nóng, Bé nghĩ sao về việc nầy ?
9. Máy vi tính do đâu mà có ? [23 dòng giải đáp, gồm những câu : "do bộ óc con người tìm tàng và lưu trữ hình thành", "mất rất nhiều thì giờ vật chất mới sắp xªp trật tự điện năng của khối óc, từ nặng trược đi đến thanh nhẹ......", "Cho nên Bé thường nhắc với các bạn đạo rằng: Tu thiền là lợi ích vô cùng, cắm đầu lo tu thì sẽ được kết quả tốt ở tương lai. .... "]
10. Bạn đạo quây quần chung ca hát, Bé nghĩ sao về việc nầy ?
11. Đêm nào cũng có bạn đạo quây quần bên Bé, Bé nghĩ sao về việc nầy ?
12. Hôm nay Bé bắt đầu đi vòng quanh thế giới, rời người thân yêu Bé có buồn không ?
13. Bạn đạo khắp nơi sắp về đây tổ chức sinh nhựt của Bé, Bé có vui không ?
[Viết ngày 15/12/1993; dự trù làm l sinh nhật ngày 25/12.]
91. Bé thường nói Trời ban tình đẹp, là đẹp làm sao?
1. Hỏi : Tâm thức giác cảm giác ra sao ?
Đáp: Thưa, khi tâm thức giác tâm hồn rất cảm động, rơi lụy và an vui.
93. Hỏi: Lúc nầy Bé thiền khoẻ không?
Đáp: Thưa, lúc này Bé vừa thanh lọc xong [súc ruột], Bé cảm thấy rất khoẻ và thiền tốt hơn xưa..
1. Bạn đạo khắp nơi về đây thăm Bé, Bé có phiền không?
2. Hỏi: Những người tu cao có phản Thầy hay không?
Đáp: Tu cao mà thị phi nói xấu Thầy mình là tự phản bội lấy chính họ, suốt kiếp sẽ bị tổn thất điện năng sẵn có, khổ! khổ! khổ! mới có cơ hội trở lại con đưòng trung đạo, phần hồn sẽ bị ràng buộc bởi nghiệp lực gia cang, tiếp tục nói dóc không công và bệnh hoạn.
Kệ: Tâm không minh chánh tạo điên khùng
Khó tiến khó tu khó ung dung
Tâm đạo không bền tâm tạo động
Phần hồn đau khổ tự mình nôn
Nghệ thuật làm thi, kệ của Phật Tám và môn đồ rất đơn giản: min sao lựa được chữ đúng cước vận, còn ý nghĩa ra sao không quan trọng. Do đó có những chuyện thường xảy ra như chuyện này : trò thắc mắc một bài kệ của thầy có chữ "tứ quí" ở cuối câu, không biết "tứ quí" đó là bốn yếu tố trọng đại chi. Thầy "giải toả" rằng "tứ quí" thầy nói đó là... bốn mùa ! Trong bài kệ trên đây thầy sùng đệ tử "phản Thầy, thị phi nói xấu Thầy", nên thầy hăm ai bỏ đạo Vô Vi sẽ bị... điên khùng; và thầy không thèm làm kệ đúng cước vận ung nữa, dện luôn chữ "nôn" vào.
97. Bạn đạo khắp các nơi về đây chúc mừng sanh nhựt của Bé, Bé có vui không ? [Viết ngày 23/12/93]
1. Hôm nay bạn đạo từ xa đã đến ước mong gặp mặt Bé, Bé có sẵn sàng tiếp họ không?
2. Nhơn dịp ngày l Giáng Sinh mọi người gởi thiệp về chúc l sanh nhựt của Bé và chúc thọ Bé, Bé có vui không ? [Viết ngày 25/12.]
So sánh ngày LSH viết câu số 99 này và các câu 82, 90, 97, tôi thấy:
a) Sinh nhật của LSH là ngày 13 tháng 11
b) Câu số 82 không có gì khác lạ. (Viết trước một ngày, 12/11, là ngày đệ tử làm l sinh nhật cho LSH sớm một ngày.)
c) Ba ngày sau, câu 90, LSH lại được đệ tử mừng tiệc sinh nhật.
d) Nhưng hơn một tháng sau, câu 97, ngày 23/12: "Bạn đạo khắp các nơi về đây chúc mừng sanh nhựt của Bé", và ngày 25/12, LSH lại được "chúc l sinh nhựt của Bé và chúc thọ Bé".
Đìều này cho thấy LSH cũng tự cho mình là Chúa Jê Su luôn !!!
100. Những người đọc Mục Bé Tám tự cảm thấy nhẹ và thông suốt tại sao?
Câu cuối cùng trên đây cũng là câu cuối cùng của toàn quyển "Bé Tám Bàn Bạc Cùng Bạn Đạo Khắp 5 Châu". Đó là những giáo lý nhiệm mầu phát ra từ Phật khẩu, hay phải chăng đó là những băn khoăn, khắc khoải của một bệnh nhân mắc bệnh tâm thần ? Các quyển "Bé Tám" khác cũng đồng tính chất linh tinh, lang tang, vớ vẩn, vẩn vơ như quyển V trên đây, tuy nhiên khi bỏ công lật qua các quyển ấy tôi thấy một chi tiết không có trong quyển V. Trong quyển V, LSH thường cho biết hôm nay sẽ rời nơi đây, đi nơi kia "thể theo thời thỉnh cầu của bạn đạo". Các quyển khác cho thấy sự thật không hẳn như vậy : nhiều ngày LSH than không biết sẽ đi đâu!
Về phần độc giả, nếu sau khi đọc xong 100 câu trên và hàng ngàn câu tương tự mà không "tự cảm thấy nhẹ và thông suốt", đó là điển của quí vị còn kẹt, chưa thông. Xin làm tiệc ăn mừng.
Về phần những môn đồ Vô Vi đã từ bỏ đạo xuất hồn sau nhiều tháng năm chịu đựng những giáo lý vớ vẩn như trên và nhiều trò khác, họ bị LSH gán cho hai chữ "phản đạo".
Đó là tất cả những gì xảy ra hàng tuần tại những nơi gọi là "thiền đường Vô Vi". Còn tại các "thiền viện Vô Vi thì sao ?
Thiền viện Vô Vi
Đạo xuất hồn có một thiền viện tại Pháp, và ba thiền viện dưới đây tại Hoa Kỳ.
1. Thiền Viện Nhẫn Hoà tại Olympia, Washington State, lấy theo danh hiệu của "Cha Trường" tức "Cha Nhẫn Hoà" tức Trần Văn Trường, người đã bị 50 ngàn đồng hương biểu tình phản đối tại Little Saigon, California, năm 1998. Tên Nhẫn Hoà vẫn còn được giữ tuy Trường đã thất sủng từ năm 1989. Cha tức là "Cha Trời", không phải Cha đạo Công Giáo.)
2. Thiền Viện Vĩ Kiên tại Big Bear, Nam California; lấy tên theo một trong nhiều danh hiệu Phật của LSH.
3. Thiền Viện 00 tại Oroville, Chico, phía Bắc San Francisco. "00" tức 2 con số không, cũng được đặt theo danh hiệu của đức thầy. Nếu chồng 2 con số 0 lên nhau, người ta thấy một hiện tượng nhiệm mầu: đó là con số 8, tức tờ-ám-tám, tức Phật Tám.
Có người thắc mắc hỏi Phật Tám về "Tám", và cuộc vấn đáp ngắn ngủi đã xảy ra như sau:
- "Thưa thầy, tại sao người ta gọi thầy là ông Tám ? "
- "Bởi vì mình tu theo Vô Vi, hai số 0 hợp lại là 8. Có gì đâu! Đặt số 8 cho gọn hơn."
- "Thưa thầy, trước khi thầy theo Pháp Lý Vô Vi đã có tên thứ tự là ông Tám chưa ? "
- "Thứ tự trong gia đình là ông Tám, nhưng mà tôi thấy số 8 này hữu ích hơn, tôi phổ biến số 8 này để tránh sự mê tín. " [Vấn Đạo 1, 1995, nhà in Vô Vi, California]
"Tránh mê tín kiểu" này, người bình thường cho là "tiếu lâm", nhưng các môn đồ Vô Vi lại có thể cho là rất "mầu nhiệm".
Các thiền viện Vô Vi đều do các môn đồ đầy đạo tâm chung tiền mua đất, rồi chung sức xây cất nên trên các vùng đồi hoặc lưng núi. Hầu hết các thiền viện vô Vi này đều có phòng tắm hơi để "giải trược", máy súc ruột cũng để "giải trược" và trị bá bệnh, máy lạnh, máy sưởi, máy truyền hình, máy video, radio, cassette, và đủ mọi tiện nghi khác. Nơi nào cũng có một phòng hoặc "cốc" dành riêng cho LSH, để năm thì mười họa LSH giáng lâm đôi ngày. Những môn đồ muốn ở luôn tại thiền viện để luyện cho thành cao thủ xuất hồn dĩ nhiên phải có trình độ xuất hồn "khá" rồi, và phải được LSH cho phép. Cho đến nay có thiền viện chỉ có 1 người, có nơi 4 hoặc 5 người, cả nam lẫn nữ, được gọi là "tu sinh". Ngoài công việc chính hằng ngày lo giữ thiền viện cho sạch sẽ, các tu sinh chỉ có việc nấu nướng các món ăn health food sao cho khoái khẩu, uống thuốc herbal vitamines cho thêm bổ, giải trí cho tâm linh thêm thanh nhẹ, ngủ cho quân bình vũ trụ, và luyện xuất hồn. Thiền viện Vĩ Kiên là nơi nhận súc ruột cho môn đồ Vô Vi và cả người ngoài, với giá vài trăm đô la mỗi người. Chẳng hề thấy bảng giấy phép treo chỗ nào.
Nói chung, cảnh cô tịch vắng vẻ chỉ là nơi lý tưởng cho những người chân tu, đã thực sự tìm được niềm an lạc của một đời sống xuất thế, thanh tịnh. Nếu chỉ vì có chút ít công phu, công quả, hoặc cúng vào năm mười ngàn đô la, hoặc vì vợ chồng chia lìa, hoặc thất nghiệp, hoặc buồn tình, v.v., mơ tưởng rằng mình lên non ngồi nhắm mắt một hai năm sẽ thành tiên, thành Phật sống, để ai nghe đến cũng phải hít hà, nể nang, thì... thực đáng thương. Chẳng được mấy tháng !
Nếu phương pháp tu hành không biết gì đến việc khống chế vọng tưởng, ngược lại còn nuôi dưỡng và thoả mãn chúng ; nếu đó là nếp sống phè phỡn, hưởng thụ, hằng ngày chẳng có việc chi làm cho đáng gọi là công việc, lại thiếu người để trò chuyện, tán gẫu huyên thuyên mỗi ngày, chẳng chóng thì chầy cũng sanh ra các "biến chứng". Từ tiền điện thoại tán gẫu vin liên vài trăm đô la hằng tháng, đến sự nạnh hẹ, ganh tị vặt giữa năm ba người với nhau, đến việc rượt đuổi, đục lộn nhau rầm rầm, cho đến việc cụ thể hóa "hồn vía giao du, chàng nàng hội ngộ, âm dương hòa hợp", tránh sao cho khỏi.
Tiền ở đâu ra cho Phật Sống ở khách sạn 4, 5 sao quanh năm, và cung cấp, nuôi dưỡng những "thiền viện", những "tu sinh" như thế, nếu không phải là những đồng tiền mồ hôi nước mắt của những môn đồ trẻ và những đồng tiền già của các môn đồ bô lão ?
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp   ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeSun Apr 03, 2011 5:27 pm


Ngồi thiền hay tẩy não, nhồi sọ ?
Ngôn ngữ của đạo xuất hồn có tiếng "thiền chung" với nghĩa lý hiển nhiên: nhiều người ngồi thiền với nhau trong cùng một phòng. Ngoài ra, còn có từ ngữ "ngồi một mặt" hoặc "ngồi hai mặt", có nghĩa ngồi khoảng thời gian lâu một hoặc hai mặt băng cassette. Tại các thiền đường (tức tư gia) và các thiền viện của đạo này, môn đồ Vô Vi "hành thiền" như sau:
Tất cả ngồi quay mặt về hướng Nam, vì đó là hướng Hỏa tính theo bát quái. Ngồi quay về hướng Hoả d... có điển hơn. Các "Phòng Thiền" tại các thiền viện Vô Vi đều có loa gắn cao trên tường hướng Nam, phát xuống về phía người ngồi. Nếu bức tường không đúng hướng Nam thì loa được gắn ở góc phòng, và tất cả ngồi hướng về... góc phòng. Ngoài ra, mỗi phòng trong thiền viện cũng đều có loa và được gắn như thế. Người ngồi chỉ việc hướng mặt về cái loa, vậy là yên trí đúng hướng Nam theo pháp tu xuất hồn.
Cách luyện xuất hồn gồm có 3 phần chính: Nguyện, Soi Hồn, và Thiền Định, tất cả trong thế ngồi xếp bằng (bán già).
• "Nguyện" có nghĩa chắp tay khấn nguyện cầu các thẩm quyền ở trển cho mình xuất hồn.
• "Soi Hồn" lại không có nghĩa bình thường thế gian thường dùng (soi hồn, soi kiếp), mà là đút chặt hai ngón tay cái vào hai lỗ tai, ngón trỏ và ngón giữa chấm giữa thái dương và đuôi mắt; hai mắt nhắm nghiền; giữ yên như vậy từ 5 đến 15 phút.
• "Thiền Định" có nghĩa buông thõng hai cánh tay xuống, hai bàn tay đặt trên đùi, mắt vẫn nhắm nghiền, chú ý xem có cục sáng gì xuất hiện trong đầu hoặc bay ra chờn vờn trước mặt, hoặc điển chạy, điển "rút" lên đầu...
Mỗi người thủ một cái đồng hồ chuông canh giờ (kitchen timer), kẻ vào trước, người vào sau, tự ngồi xuống một chỗ nào đó trong phòng, hướng mặt về phía cái loa trên cao. Nhắm mắt, chắp tay "Nguyện" xong, vặn cái đồng hồ ấy canh từ 5 đến 15 phút tùy ý mình, rồi nút chặt hai lỗ tai làm phần "Soi Hồn". Sau đó đến phần "Thiền Định".
Từ đầu đến cuối, cả căn phòng yên tĩnh, ngoại trừ tiếng chạy lạch cạch, lạch cạch, rõ mồn một của các đồng hồ canh giờ phần Soi Hồn, và tiếng băng cassete của LSH nói đều đều, phát ra từ cái loa trên cao.
Bỗng góc này có tiếng "KOOOONG", đó là một người đã xong phần "Soi Hồn", đang tiếp qua phần cuối là "Thiền Định". Lại góc kia một tiếng "KOOOONG" nơi một người khác ngồi, và cứ một lát sau lại có tiếng "KOOOONG" của người khác nữa... Mỗi mặt băng cassette phát lời Tám nói dài 30 phút; đa số "ngồi một mặt". Dù cho ngồi lâu 15 phút, nửa giờ, hay một giờ, hiển nhiên các môn đồ Vô Vi lắng đọng tâm thần để Phật Sống rót từng câu, từng lời, từng từ ngữ Vô Vi vào tâm khảm mình. Tại các thiền viện Vô Vi, mỗi ngày có ba buổi LSH phát thanh, đệ tử thâu thanh như vậy, và gọi là... "ngồi thiền": vào lúc 11g30 hoặc 12g trưa, 12g đêm, và 6g sáng. Cứ đến đúng các giờ đó, tiếng LSH lại phát ra oang oang từ các loa trong tất cả các phòng, cũng một băng ấy, ngày ngày, tháng tháng, năm năm. Chỉ có cách ra hẳn bên ngoài thiền viện mới thoát khỏi các lời phát thanh của LSH. Trong nhiều đoạn băng, LSH gằn giọng, bực bội mắng mỏ, hoặc phát biểu một sự bất mãn gì đó ngoài mối bất mãn đối với những môn đồ khắp nơi đã tỉnh ra và từ bỏ đạo xuất hồn.
Những buổi thiền chung tại các "thiền đường" cũng rập khuôn theo thể thức tại "thiền viện". Môn đồ xuất hồn gọi đó là những buổi "công phu". Những ai hiểu biết ít nhiều về tâm lý học có thể nói đó là những giờ tẩy não và nhồi sọ. Người bàng quan mỗi khi nhắc đến đạo này là phải lắc đầu, không hiểu nổi môn đồ xuất hồn cất bỏ lý trí ở đâu, và vì sao ?! Ngày hôm nay quí vị đã biết được một trong nhiều nguyên do của sự kiện chối bỏ lý trí ấy.
Tiếp theo đây là những sự thật về cái gọi là "Đại Hội Vô Vi" hằng năm.
đại hội vô vi hằng năm : họp nhau để làm gì ?
Chính LSH đã quá rành hưởng thụ, ăn chơi khắp thế giới, nên mỗi năm LSH chấm một địa điểm nổi tiếng khác nhau của thế giới văn minh hoa lệ để triệu tập môn đồ các nơi về hội họp với nhau, gọi là "Đại Hội Vô Vi". Vài địa điểm đại hội trong quá khứ là : Hồng Kông, Bangkok, Las Vegas, Atlantic City, Alaska, Sidney, Bahamas, v.v. Địa điểm Đại Hội Vô Vi vào tháng 7 năm nay (2000) là đại khách sạn Hilton, tại thủ đô Prague của Tiệp Khắc.
Năm 1995, LSH tổ chức Đai Hội tại Khách Sạn MGM lớn nhất Las Vegas. Ai cũng biết Las Vegas là thủ phủ bài bạc suốt ngày đêm của toàn thế giới, quanh năm không đóng cửa, là nơi giải trí đắt tiền, và cũng là một kinh đô của ngành nghề mãi dâm của cả thế giới. Gần 1500 (một ngàn năm trăm) môn đồ đạo xuất hồn khắp nơi phấn khởi kéo về Las Vegas dự đại hội. Năm sau đó, 1996, LSH chọn địa điểm họp Đại Hội tại Bangkok, cũng nổi tiêng là ổ điếm của cả thế giới. Cứ thế, hàng năm LSH họp các đệ tử một lần tại những nơi phồn hoa, đô hội nhất, ăn chơi nổi tiếng có hạng của thế giới. Địa điểm Đại Hội Vô Vi năm 2000 là đại khách sạn Hilton, tại thủ đô Prague của Tiệp Khắc.
Họp nhau như thế để làm gì ?
• Trước hết, Phật Sống LSH ban huấn từ, không ngoài những lời lẽ đã được thấm sâu vào tim óc môn đồ: chúng ta ở trển giáng lâm... xuống đây, phải rán tu để... tiến lên; những kẻ ngu tối bỏ đạo xuất hồn vì chán ngán thì chúng sẽ gặp những chuyện ngoài đời còn... đáng chán hơn, cho... chúng biết; chúng ta phải rán đời đạo song tu sao cho thanh nhẹ, giải trược, hoá giải tâm linh; hồn gọi là chồng, vía gọi là vợ; v.v. và v.v.
• Sau đó, các môn đồ lần lượt lên sân khấu ca tụng ân điển cao dày của đức thầy. Kẻ ngậm ngùi ngâm thơ ứa lệ, người ca sáu câu vọng cổ bi ai; kẻ kể lể tán thán sự linh hiển kỳ diệu của ông Tám, v.v. Tất cả đều rất là cảm động, rất chân thành, và rất tôn kính.
Chỉ có thế ! Đại hội Vô Vi tổ chức tại những địa điểm ăn chơi quốc tế, xa hoa, sang trọng, tốn kém, mắc mỏ nhất, chỉ để có thế ! Nhiều môn đồ Vô Vi đã chán màn xa xỉ này, than rằng "Cũng vậy thôi, năm nào cũng vậy thôi !" Đúng ra, ngoài các mục đã quá nhàm chán đó, mỗi năm thường có một mục mới, để môn đồ có thêm cơ hội moi tiền túi ra. Tại một đại hội Vô Vi, mỗi tấm hình chụp... "hào quang" là 20 đô la, 2 tấm rẻ "chỉ có 30 đô la". (Tại các Psychic Fair, trò cũ này chỉ có 5 đô la một tấm, và có người giảng cái hào quang của mình có màu xanh, đỏ, vàng, tím như thế là nghĩa lý ra sao.) Máy chụp "hào quang" đáng giá trên dưới 10 ngàn đô la, và do chính các môn đồ Vô Vi điều hành. Tấm ảnh polaroid bán thân của môn đồ Vô Vi với hào quang là những cụm khói xanh, đỏ, vàng, tím, hiện ra quanh đầu được gắn trịnh trọng vào một bìa đôi, giấy láng, có in mấy câu thơ của LSH.
Mọi người được khuyến cáo chụp một tấm khi mới đến đại hội và một tấm sau khi đại hội bế mạc. Lý do là để xem sau cả tuần l được gần gũi Đức Thầy, được nghe ngài ban từng lời châu ngọc vào tai, được gần "điển" của ngài, v.v., hào quang của mình sẽ sáng hơn, nhẹ hơn, đẹp hơn ra sao. Có người dư tiền, chụp 3 tấm liên tiếp và khám phá một sự thực chẳng có chi lạ : 3 tấm hình của cùng một người, bấm liên tiếp chỉ trong vòng trên dưới một phút, hiện ra... 3 thứ "hào quang" với những cụm khói có hình dạng và màu sắc hoàn toàn khác nhau !!!
Điều này có nghĩa hào quang thay đổi liên tục cứ vài giây đồng hồ ??? Và nếu quả đúng vậy thì cũng có nghĩa tôi đã gần thành Phật lúc 10 giờ, nhưng đến 10 giờ 30 giây tôi đã biến thành ma quỉ !!!
Có năm, mỗi địa phương được Phật Tám đến thăm đều có một trò chụp hình khác : muốn chụp hình chung với Phật Tám chỉ việc "ủng hộ" 5 hoặc 10 đô la mỗi tấm. Phải dự kiến tại chỗ mới thấy là phương kế này rất "mầu nhiệm" : nếu ông A và bà B không muốn chi ra 10 đô la, rõ ràng ông A và bà B không thực sự tôn quí đức thầy, hoặc tôn quí chưa đúng mức. Vả lại, tiền thâu vào rất có thể sẽ được Phật Sống đem chi dùng vào những việc rất từ thiện như gởi cho các môn đồ bên quê nhà, chứ đâu phải để mua vé Boeing, trả tiền khách sạn, hoặc đi chơi roulette.
LSH đã từng biện hộ cho việc đi chơi trò đỏ đen tại các sòng bài Las Vegas rằng: "Tiền ăn được... tui gởi về VN cho người nghèo. " Môn đồ Vô Vi rất mủi lòng, cảm động với những cách cứu nhân độ thế như vậy của LSH, nhưng sau khi tôi xem xét kỹ thì chẳng phải LSH gởi tiền cho các đệ tử tại Việt Nam đều đặn hàng năm, mà là năm có năm không, và số tiền năm trăm hoặc một ngàn gởi về Việt Nam được chia ra cho ba, bốn mươi người, hoặc hơn nữa. Hãy thử so sánh dúm bạc ấy với tổng số các chi phí tiền máy bay Boeing cho LSH và hai cô đệ tử theo hầu, tiền ở đại khách sạn nhiều tuần l, tiền chi phí, ẩm thực, v.v., tất cả để cho LSH đặt roulette, và nếu gặp hên, ăn được một dúm tiền, rồi đem tiền ăn bạc ấy... cho đệ tử nghèo ở Việt Nam.
Nếu quả thực LSH muốn giúp "người nghèo ở Việt Nam", tôi thấy có nhiều cách hay hơn, đơn giản, thực tế, và hợp đạo lý hơn. Thay vì ở khách sạn 4, 5 sao quanh năm, LSH và đệ tử theo hầu thử giáng lâm xuống ở các thiền đường hoặc tư gia lớn của các đệ tử tại địa phương xem sao. Tôi tin chắc mọi người sẽ thấy một sự việc mầu nhiệm xảy ra liền trước mắt. Đó là : cứ mỗi tuần sẽ cất ra được tối thiểu 500 đô la tiền phòng và tiền ăn; mỗi năm (52 tuần l) sẽ có tối thiểu 26000 US đô la để gởi về Việt Nam cho người nghèo.
Nói "tối thiểu" là vì:
• Nếu đừng chơi tài xỉu, roulette, sẽ còn dư thêm nhiều nữa.
• Nếu chỉ "ên điển trời mà sống" như LSH thường rêu rao om sòm, đừng tiêu thụ mỗi ngày mấy chục viên thuốc Nature’s Sunshine mắc mỏ, thì sẽ dư thêm nhiều nữa.
• Nếu thầy trò chỉ tương chao dưa muối và cơm gạo rau trái bình thường thay vì kê, wheatgrass, juice, và các món health food đắt tiền khác, sẽ càng dư ra được thêm nhiều nữa.
• Nếu LSH tự dùng điển Phật Sống của mình để chữa bịnh thay vì vào nằm bệnh viện của Hoa Kỳ, Đức, và uống thuốc tây, thì lại càng dư thêm nữa.
• Nếu LSH và các đệ tử hầu cận cùng nhau xuất hồn bay đi khắp nơi thay vì phải mua vé phản lực Boeing quanh năm, lại càng dư thêm bộn nữa.
Chỉ bấy nhiêu thôi cũng dư sức cho "người nghèo ở Việt Nam" đến cả trăm ngàn đô la hằng năm chứ không phải chỉ vài năm mới có năm ba trăm hay một ngàn.
Trở lại với những Đại Hội Vô Vi hàng năm, nếu tất cả chỉ có thế, vì sao vẫn có hằng ngàn môn đồ Vô Vi tham dự các đại hội kế tiếp ? Đâu là thực chất của các đại hội Vô Vi ngoài những lý do quá rõ ràng ai cũng thấy ? Có nhiều lý do khác như dưới đây :
1. Từ mấy mươi năm trước cho đến nay, do từ chính miệng LSH, môn đồ Vô Vi vẫn tin rằng nếu được LSH ban cho tí... điển, điển của mình sẽ mạnh hơn, mình tu sẽ... nhẹ hơn, mau tiến hơn! Ngày 5/12/1993, LSH tự viết như sau:
"Hỏi: Những người được gần Bé, tự cảm thức được một điều mới lạ vang dội trong tâm thức là sao?
Đáp: Thưa [điều đó] chứng minh Bé đêm đêm thực hành không ít thì mới có luồng điển thanh nhẹ, hỗ trợ cho bạn đồng hành pháp lý, hành giả cảm thức tròn trịa và an vui khi ra về".
Cũng cần đề cập thêm cho đầy đủ về việc "cho điển" và "rước điển" này của LSH và các môn đồ đạo xuất hồn. Có lần LSH đã kể lể "phải gánh lấy một gánh nặng trược của bạn đạo" tại Bỉ. Tuy nhiên, mới mấy tháng trước đó LSH đã phán hoàn toàn trái ngược: "Bé mách lời chơn lý cho bạn đạo tự giải nghiệp tâm, chứ Bé không bao giờ rước nghiệp vào thân, như những người đã kể ơn với người tu."
Những sự kiện này cho thấy hành vi và đức độ của LSH chẳng có gì là "Phật Sống", ngược lại rất so đo, phân bì, kể công, luẩn quẩn, rất phàm tục. Tuy nhiên, môn đồ Vô Vi không thấy như vậy. Ngoài ra, mỗi khi có môn đồ nào được LSH đưa tay rờ đầu mình, đó là một điều may mắn lớn, quí báu, hạnh phúc vô cùng.
2. Lý do kế tiếp của Đại Hội hằng năm là thầy trò "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu". Thầy rất thích, rất sành, và chưa từng chán rong chơi phố thị xa hoa, cảnh đẹp, người xinh, món ngon, vật lạ, văn minh hạ giới, v.v. Thầy muốn san xẻ các kinh nghiệm và hạnh phúc ấy cho trò, min là trò có khả năng đóng đủ các chi phí. Trò cũng hết lòng tin học pháp "đời đạo song tu" của thầy cho mau thành Phật như thầy.
1. Có nhiều đệ tử bịnh lên bịnh xuống, lang ta và lang tây chữa trị mãi không hết. Họ cảm thấy như đã gần mãn hạn sống kiếp này. Họ rán đến đại hội để may ra nhờ điển của đức thầy và điển của hằng ngàn đồng môn, họ sẽ bớt bịnh hoặc kéo dài được mạng sống. Tuy nhiên, việc xin điển và nhờ điển chẳng phải chỉ đơn thuần như vậy, vì có nhiều môn đồ than rằng "Điển mấy ổng mấy bả trược quá, làm tui đang khoẻ thành bịnh ! "
2. Ngoài mối hy vọng được "tí điển" tại các đại hội, môn đồ Vô Vi còn hy vọng LSH sẽ lại bật mí "thiên cơ" ra tí ti, như việc bao giờ CSVN xụp đổ, và chừng nào tận thế, và bây giờ là tận thế đã được... dời đến năm nào. LSH đã tiên tri trớt huớt những điều này bao nhiêu năm trời rồi, nhưng môn đồ Vô Vi vẫn chưa có can đảm để thấy sự thực là LSH cũng chẳng biết gì về những việc đó. Trái lại, họ vẫn cố tin rằng LSH biết nhưng dấu không nói ra, hoặc chưa nói ra. Đáng thương làm sao, mỗi khi các đệ tử mê tiên tri rán hỏi cho ra lẽ tại sao những lời tiên tri của thầy không hề xảy ra, họ liền bị LSH sừng sổ : "Thiên cơ chưa tới! "
Đó là tất cả những lý do khiến nhiều môn đồ Vô Vi vẫn rán chịu tốn kém tiền bạc và ngày giờ để đi dự Đại Hội Vô Vi hằng năm.
đại hội vô vi sỉ nhục những oan hồn vượt biển
Đại hội Vô Vi lần thứ 9, năm 1990, đã được LSH tổ chức trên một đại du thuyền có sức chứa hằng ngàn người, tại đảo Bahamas, một thắng cảnh du lịch nổi tiếng khắp hoàn cầu. Bahamas nằm vào phía Đông Nam tiểu bang Florida, phía Đông Bắc Cuba. Vùng biển Bahamas của Đại Tây Dương cách xa vùng biển Nam Hải của Thái Bình Dương nửa vòng trái đất.
Vùng biển Nam Hải quen thuộc--từ ngoài khơi các bờ biển VN qua đến Mã Lai, Phi Luật Tân, Hồng Kông--và vùng biển Vịnh Thái Lan đã là nơi có khoảng từ 150 ngàn đến 200 ngàn người Việt Nam bỏ mạng trong hãi hùng trên đường vượt biển tìm tự do.
Lần họp đại hội đó, LSH tuyên bố Đại Hội Vô Vi Bahamas có mục đích cùng gom chung điển để giúp cho các oan hồn vượt biển được siêu thoát. Theo tôi, đó là một điều bịp bợm, láo khoét, hoàn toàn không thể chứng minh được, và là một sự sỉ nhục cho tất cả những oan hồn uổng tử thảm thương trên biển cả.
Nếu quả thực LSH muốn cầu siêu cho họ, hoặc đem điển thanh, điển trược, chấn động lực gì gì đó cứu vớt linh hồn họ, LSH chỉ việc dẫn các môn đồ về vùng biển Việt Nam và Vịnh Thái Lan để làm việc ấy. Tàu cứ đậu tại hải phận quốc tế để khỏi làm phiền hà nhà nước nào, không cần phải kéo nhau qua thắng cảnh du lịch Bahamas cách xa Việt Nam nửa vòng trái đất.
Mọi đóng góp ý kiến, dữ kiện, kinh nghiệm, xin gởi cho : pham_ba@hotmail.com
________________________________________
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp   ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeSun Apr 03, 2011 5:27 pm


Thư độc giả và hồi đáp iv
Độc giả NTD viết :
... Về phần xét đoán hành động của ông LSH thì qua cặp mắt phàm khó có thể hiểu được dụng ý của ông LSH vì theo sự tra khảo riêng các tài liệu về những vị thiền sư, thí dụ các thiền sư tại Tây Tạng, thường có những hành động kỳ quái khó hiểu trong lúc các ngài còn đang sống. Có một lần tôi nghe nói "Phật Tế Công trong lúc đương thời còn ăn thịt chó, vậy mà ngày nay người ta vẫn còn thờ ngài"!!
Phạm Bá trả lời :
1. Theo bà thì LSH có "dụng ý" gì trong những việc tỉ dụ như:
- Tự xưng là Phật đã thành đạo trước Phật Thích Ca 2500 năm
- Cấm đệ tử treo hình, thờ tượng Phật Thích Ca, và chỉ được treo hình LSH
- Cấm đệ tử đọc kinh điển Phật giáo
- Miệt thị tăng lữ Phật giáo
- Đi các sòng bài casino quốc tế thường xuyên
- Đem theo bàn roulette và rủ đệ tử cùng luyện ngón này tại bất cứ nơi nào
- Sống sót nhờ y khoa Tây phương nhưng nhất định là nhờ "điển", nhờ "Thượng Đế gia hạn", và khinh thị y khoa là "chưa tới đâu". v.v. và v.v.
LSH có dụng ý "mầu nhiệm" gì trong những hành vi đó, trong khi rất nhiều người phàm tục chúng ta cũng không hề bị nhim những thói xấu quá nặng như vậy ???
2. Bà dùng chữ "tra khảo", nhưng ý bà muốn nói "tham khảo", có đúng vậy không ? "Tra khảo" có nghĩa tra tấn cho người ta phải nói ra điều mình đang tìm kiếm, hoàn toàn khác với "tham khảo". Đây chỉ là sự lầm lẫn bình thường của bà, hay trước kia bà dùng chữ "tham khảo" nhưng sau khi tu theo đạo Vô Vi một thời gian thì bà thích dùng chữ "tra khảo" hơn ? Chính tổ sư đạo này là cụ ĐTH, cho đến LSH, và các môn đồ Vô Vi đều bị bệnh dùng sai chữ này vì tu luyện xuất hồn.
Một môn đồ Vô Vi gởi email phát biểu sự tức tối, và miệt thị tôi là "ngu quá, ngôn ngữ chỉ là do người đời đặt ra mà thôi." Vậy là cụ ĐTH và LSH muốn nói ngôn ngữ loài người ra sao tuỳ ý ??? Dĩ nhiên tôi cũng hoàn toàn không hiểu nổi đạo lý quá mức mầu nhiệm và huyền bí này. Nếu LSH đi riu qua, riu lại trước toà Bạch Ốc, la ông ổng lên rằng "Clinton là con quỉ đội lốt người, hãy giết nó" thì sẽ có hai sự việc "nhiệm mầu" xảy ra : một là FBI bắt LSH về điều tra rồi giải về nhà thương điên bên Canada ; hai là họ bỏ tù LSH ngay tại Hoa Kỳ, chung với các tội phạm khủng bố và hăm dọa giết nguyên thủ quốc gia. Bà hãy đề nghị LSH thử làm vậy xem sao.
3. Bà chỉ "nghe nói" về chuyện "Phật Tế Công", còn tôi thì đã đọc quyển sách mỏng đó từ 50 năm trước. Tôi không nhớ Hòa Thượng Tế Công có ăn thịt chó hay không, hay bà lầm lẫn với Lỗ Trí Thâm là một người giỏi võ nghệ, thích mặc áo nhà sư, nhưng thực sự không phải là nhà sư.
- Hoà Thượng Tế Công không hề tự xưng là Bồ Tát, hay Phật Sống, huống là Phật "đã thành đạo trước Phật Thích Ca 2500 năm" như LSH đã tự xưng. "Phật Sống Tế Công" chỉ là danh từ do những người đúc kết những hành vi của Hoà Thượng khi sinh thời, viết thành truyện, và phong tặng.
- Dù cho HT Tế Công hay Lỗ Trí Thâm hay ai đó ăn thịt chó, điều này có nghĩa các nhà sư ngày nay cũng phải ăn thịt chó hay sao ????? Và chúng ta cũng phải kính trọng họ hay sao ?????
- HT Tế Công không hề lăng mạ kinh điển nhà Phật và tăng lữ, trái lại HT thường quyên tải và chính HT gồng gánh gạo về cúng vào chùa Kim Sơn.
- HT Tế Công không hề nói phét hồn vía và khuyên dụ mọi người tu theo pháp tu của HT thì sẽ hết mọi chứng bệnh kể cả các bệnh nan y. Trái lại HT dùng thần thông để chữa bệnh cho dân chúng quanh nơi HT sống. HT cũng không hề phải uống nước tiểu để tự chữa bệnh như LSH đã làm.
- HT Tế Công không hề vào các ổ sóc dĩa, mạt chược để "học bài" và nghiên cứu "kế hoạch xâm chiếm địa cầu của thế giới bên kia". Trái lại, HT Tế Công ngồi tọa thiền đêm đêm trên gác chuông cao. Có lần HT ngủ gật, té xuống, người ta tưởng HT phải chết dập thây nhưng HT đáp là là xuống mặt đất, cười khà khà rồi leo lên gác chuông ngồi thiền tiếp.
4. Tôi đã đi nhiều nơi nhưng không hề thấy nơi nào thờ "Phật Sống Tế Công" như bà viết, nên nếu có thì chắc là cũng không phổ thông, hoặc chỉ có tại điạ phương chùa Kim Sơn bên Trung Hoa mà thôi.
Độc giả TTL viết :
... 11 giờ đêm, tôi theo một đệ tử của Phật Tám lên hotel nơi ngài ngự, được một lúc thì tôi nghe ngài rủ một người chơi roulette với ngài. Đúng là cái mâm roulette ông Phạm Bá đã tả.
Còn một điều nữa : người "đệ tử" tôi nói trong thơ này chính là con gái tôi. Nó đã lớn khôn, ăn học nên người, làm ra tiền nhiều hơn tôi, nhưng thực là nó đã uổng phí công cha, áo mẹ, và mười mấy năm đèn sách của nó. ...
Phạm Bá trả lời :
Tôi đọc thư ông mà lòng thấy buồn quá !!!
Tôi xin cảm tạ tất cả các độc giả đã viết thư góp ý kiến. Xin lưu ý : tuy độc giả không yêu cầu dấu tên hoặc đừng đăng thư (ngoại trừ một môn đồ Vô Vi tu đã 20 năm), nhưng tôi cũng chỉ dùng ba chữ tắt, và trong ba chữ đó có một chữ là chữ tắt tên thực của độc giả. Xin quí độc giả khắp nơi hành sử quyền tự do tư tưởng và tự do ngôn luận của một công dân sống trong thể chế tự do để góp ý kiến và chia xẻ thêm các sự thật.
- Kỳ V -
TẨU HOẢ NHẬP MA
________________________________________
Nói vắn gọn, "tẩu hoả nhập ma" chỉ cho hai sự kiện :
1. Người luyện không biết cách khống chế--hoặc không thể khống chế--và làm chủ được luồng khí nóng (hoả hầu) chạy trong cơ thể, phát sanh do sự tu luyện một phương pháp nào đó có liên quan đến luồng khí lực này.
2. Hậu quả là người luyện bị các biến chuyển bất bình thường tác hại trên thể xác và tâm thần.
"Tẩu hoả nhập ma" gây cho người luyện nhiều hậu quả tai hại khác nhau, với những mức độ nghiêm trọng khác nhau. Tôi xin trình bày tiết mục này qua ba tiểu mục có liên hệ với nhau: (1) Người luyện hỏa hầu cần có những điều kiện gì để có thể luyện thành công? (2) Các kết quả tốt đẹp. (3) Các hậu quả tác hại.
Những điều kiện tiên quyết cho người luyện hỏa hầu
Ngay từ khi hơi nóng bắt đầu phát xuất từ vùng dưới rốn nơi các huyệt Đan điền và Khí hải, người luyện hoả hầu hoặc các môn liên hệ đến hoả hầu phải biết khống chế và dẫn luồng khí nóng này vào đúng các kinh mạch lớn nhỏ, chánh, phụ, trước, sau, và dẫn đúng cách. Người luyện phải thông suốt phương cách làm chủ hoàn toàn luồng hoả hầu này trong tất cả các giai đoạn khai, phát, vận, và thâu. Nói đến việc luyện hoả hầu là nói đến công phu khắt khe, nghiêm túc, miên mật trong thời gian dài 5, 10 năm hoặc hơn nữa. Bí thuật luyện hoả hầu do đó chỉ được các bậc thầy truyền dạy cho một vài người, và phải hội đủ ít nhất là các yếu tố tiên quyết sau đây:
- Thân thể khoẻ mạnh, dẻo dai, sức chịu đựng bền bỉ.
- Trầm tĩnh, gan dạ, quyết tâm, bền chí.
- Không nôn nóng mau thành hoặc để có khả năng trả thù, hoặc chỉ để khoe khoang, để được người khác nể sợ, hoặc chỉ để thoát ra khỏi sự ở không, vô công rỗi nghề, nhàm chán.
- Không bị các điều kiện nội tâm sôi nổi hay ngấm ngầm chi phối.
- Không bị ngoại cảnh làm phân tâm. Chính vì điều kiện này nên người luyện thường ẩn cư các nơi xa vắng, tránh người lai vãng, và tránh các sinh họat xung động thường nhật được càng nhiều càng tốt. Nếu người luyện tự cao, tự thị rằng mình có thể "an nhiên bất động" bất cứ nơi nào, trước bất cứ tâm trạng gì, sự việc gì, v.v., đương sự sẽ chỉ rước họa vào thân.
- Điềm tĩnh, kinh nghiệm. Không d mừng, d giận, d lo sợ, d hoảng hốt.
- Phải có thầy là người đã luyện thành công, tinh thông, lão luyện, theo sát hướng dẫn mình từng bước.
Có bao nhiêu môn đồ Vô Vi biết những điều sơ bản tôi đã trình bày trên đây ? Căn cứ vào những sách của đạo xuất hồn, tôi tin là chính LSH cũng không hề biết. Huống là những chi tiết quan yếu hơn của phương pháp luyện hỏa hầu ! Huống là việc luyện hỏa hầu, luyện xuất hồn hoàn toàn không có liên hệ gì đến đạo pháp và các pháp thiền định của nhà Phật !!! Tuy vậy, theo gương thầy, một môn đồ xuất hồn miệt thị tăng lữ Phật giáo là "Nhâm mạch, đốc mạch mà còn không biết thì tu cái gì ?!"
Vài kết quả của việc luyện hỏa hầu thành công
Những điều kiện tiên quyết kể trên đủ cho thấy sự nguy hiểm của việc luyện hỏa hầu và những môn liên hệ đến hỏa hầu. Nếu thành công, người luyện sẽ được những khả năng và ích lợi gì ? Dưới đây tôi xin kể ra sơ lược và tổng quan chứ không đi vào các chi tiết cặn kẽ.
Trước hết, khi luồng khí lực lưu chuyển qua nhâm mạch và đốc mạch không ngăn ngại, toàn bộ các hệ thống thần kinh của cơ thể hoạt động mạnh mẽ và hữu hiệu hơn. Thân thể thích ứng d dàng với những thay đổi về tâm sinh lý, thời tiết, thực phẩm, v.v., do đó gần như ít có việc đau ốm vặt.
Mỗi khi vận hành luồng khí nóng, các chấn động trên thần kinh hệ gây nên cảm giác tê tê, mát hoặc lạnh, d chịu.
Sau đó, khi đã thuần thục, người luyện có thể dẫn luồng khí nóng đến bất cứ kinh mạch, cơ phận nào của cơ thể để điều chỉnh sự xáo trộn hoặc hư tổn tại chỗ đó (tức là tự chữa bịnh).
Hành giả có thể thực hiện những khả năng mà người bình thường không làm được, như cho tăng hoặc giảm nhiệt độ của bàn tay khiến cho bàn tay ấm, nóng, mát, hoặc lạnh.
Hành giả có thể cho dao chém vào chỗ bắp thịt được vận khí làm cho dao dội ra, cho đến việc thực hiện được các tuyệt kỷ võ công. Chọn một bộ môn mình ưa thích để chuyên luyện, hành giả có thể đạt các khả năng phi thường sau vài mươi năm kiên trì luyện.
Tâm linh hành giả biến chuyển dần với thời gian tùy theo các động lực tiềm tàng và tùy theo các luân xa khai mở. Sơ khởi, hành giả ít ăn, ít ngủ nhưng vẫn có nội lực sung mãn (ít khi là thật, đa số chỉ là ảo giác). Các giấc chiêm bao "điềm" đến thường xuyên hơn và có liên hệ với thực tại sắp đến; cảm nhận được một cách mạnh mẽ những điều họa phước sắp xảy đến cho mình (hầu hết phụ nữ chẳng hề luyện hỏa hầu nhưng cũng có các giấc chiêm bao và cảm nhận loại này, gần như là khả năng bẩm sinh), v.v. và v.v.
Tuy nhiên, có những điều hiểu lầm rất phổ thông cần được khẳng định rõ ràng như dưới đây:
1) Nếu hành giả kiên trì khổ luyện suốt đời cho đến mức tối hậu và khai mở được "luân xa Hoa Sen Ngàn Cánh" trên đỉnh đầu, điều đó có nghĩa hành giả thành công mỹ mãn, toàn bộ hệ thống luân xa được đánh thức và vận hành bình thường, tốt đẹp. Tuy nhiên, điều đó hoàn toàn không có nghĩa hành giả đã "đắc đạo".
2) Dù cho hành giả hiến trọn đời mình để trui rèn cho thành một hay vài kết quả phi phàm, giá trị thực tế của những khả năng ấy cũng không đáng là bao so với quyết tâm và thời gian hành giả đã dâng hiến cho sự khổ công tu luyện:
- Dao chém không vào bắp thịt : luyện "gồng" thành công cũng được kết quả này, nhưng hành giả cũng vẫn phải chịu thua súng đạn.
Khoảng năm 1985-1990, các công ty làm áo giáp đã chế tạo được loại áo giáp nhẹ cân có khả năng phân tán sức va chạm vào cơ thể. Người mặc áo giáp có thể đứng cho một người cầm cây đánh banh baseball phạng thẳng cánh vào ba sườn mà không hề hấn gì. Loại áo giáp dành cho các lãnh tụ lớn và các nhân viên an ninh, công lực, có thể giảm thiểu được sức xuyên thủng của đạn bắn tầm gần xuống còn tương đương với một cú đấm thôi sơn và chỉ khiến nạn nhân té và bất tỉnh. Thay vì dành ra nhiều năm trường hoặc dâng hiến trọn đời để luyện cho dao chém không vào, người ta có thể mua loại áo giáp dành cho công chúng.
- Đi được trên nước : đi được bao lâu, bao xa, và đáng giá bao nhiêu so với tiền ngồi ghe, đò, phà ? Và khi đi trên nước sẽ vác được mấy ký đồ đạc trên vai ???
- "Vạn lý truyền thanh": ai dám bảo đảm việc "truyền thanh" này là chính xác và có thể thực hiện bất cứ lúc nào, với bất cứ ai, qua bất cứ địa thế nào ??? Theo nguyên tắc, môn này chỉ được dùng--sau khi đã được thử nghiệm nhiều lần--giữa thầy và trò, hoặc giữa đôi ba bậc thầy đều có trình độ tu luyện cao. Giả sử một ông thầy đang tu trên ngọn Đông Sơn dùng pháp "vạn lý truyền thanh" bảo một đệ tử đang ở cách ông 5 ngày đường là "Hãy vác 30 kg gạo qua ngôi chùa trên núi Tây Sơn", nhưng người đệ tử lại lội bộ 5 ngày đường với bao gạo 30 kg ấy trên vai về gặp ông thầy. Lỗi tại người "truyền thanh" không truyền được rõ ràng 100%, hay lỗi tại người "nhận thanh" đang bị nhức đầu ? Ông thầy có nỡ mắng đệ tử đã nghe lầm "message" của mình, và bắt đệ tử phải vác 30 kg gạo ấy lội bộ 10 ngày đường trở qua Tây Sơn ?
Giả dụ này cho thấy sự bất chính xác, tai hại, nguy hiểm, và khôi hài của khả năng "vạn lý truyền thanh" nếu quả thực có người luyện được.
Ngày nay, với hệ thống điện thoại vin liên qua vệ tinh tiếp vận, 5, 10 người cho đến hằng trăm ngàn, hằng triệu người cư ngụ khắp địa cầu có thể hội đàm cùng một lúc một cách d dàng, chính xác, không ngờ vực, bất cứ giờ giấc nào, và phí tổn không bao nhiêu.
- Phân thân : "khả năng xuất hiện hai nơi hoặc nhiều nơi cùng một lúc" này cũng chỉ nghe thấy, nghe kể, có ghi trong sách, và cũng như các khả năng phi phàm khác, cực kỳ hiếm hoi. Đa số không hề kiểm chứng được, và kẻ tự khoác lác mình làm được--hoặc các đệ tử kháo là thầy làm được--không hề dám ra mặt biểu din để chứng minh khả năng ấy.
(Cho đến nay, cuối tháng 7 năm 2000, vẫn chưa hề có một ai ra mặt thực hiện thành công các khả năng phi thường như khinh thân, nhìn xuyên qua tường, chữa bệnh bằng khí công, chữa bệnh cách không, v.v. để lãnh tiền thưởng của ông James Randy và hiệp hội chống các trò bịp bợm.)
Cũng với hệ thống vệ tinh vin thông tối tân ngày nay, người ta có thể xuất hiện tại bao nhiêu địa điểm tùy ý muốn, và tùy túi tiền của đương sự. Những ai muốn nhìn thấy đương sự, nghe rõ ràng và chính xác từng lời nói của đương sự, chỉ cần có tiền mua cái máy Television đen trắng đáng giá 30 USD là đủ.
Giá trị thực tế của những khả năng siêu phàm có được do việc luyện hỏa hầu (hoặc các môn "thần thông") sau khi trui rèn mãn kiếp cũng chỉ đến mức độ giới hạn, bấp bênh, và khôi hài là thế. Một thực tế đáng thương khác là thỉnh thoảng trên thế giới có một người nào đó luyện được một khả năng xoàng xoàng, chẳng đáng gì so với các mức độ kể trên, cũng đã được vô số người ngây thơ tôn làm "chơn sư", và dốc lòng thờ phụng, tôn kính, dâng cúng. Họ ngưỡng vọng "chơn sư" hoặc con người "siêu phàm" ấy sẽ ban ơn cứu rỗi cho họ, cho việc làm ăn, hạnh phúc gia đình của họ trong hiện tại, và sẽ nắm tay họ đưa họ bay "về trời" khi họ lìa đời.
Trên đây là sơ lược các kết quả tốt đẹp có thể có được của việc luyện hỏa hầu thành công. Nếu như hành giả luyện sai, luyện ẩu, luyện càn, liều mạng luyện theo ý mình nghĩ tưởng thì sao ?
Những hậu quả tác hại của "tẩu hoả nhập ma"
1) Dâm sự quá độ và di tinh là hậu quả thường thấy nhất và rõ rệt nhất của "tẩu hỏa nhập ma". Các thần kinh và cơ phận chịu ảnh hưởng của vùng đan điền bị kích phấn mạnh mẽ vì hành giả không khống chế được luồng khí nóng, và không vận chuyển nó vào được các kinh mạch. Các chức năng bình thường trở nên bất thường, xáo trộn, thái quá. Hành giả có thể may mắn chỉ bị thương tổn nhẹ như đòi hỏi sinh lý liên tục dẫu mình biết là nguy hiểm, và không muốn. Nặng hơn, hành giả bị di tinh liên miên ngày tháng. Cơ thể nóng bức, khó chịu, có trường hợp nóng quá hành giả phải ngâm mình dưới nước mát suốt ngày mà vẫn mê sảng.
Nhẹ hay nặng chỉ là vấn đề thời gian chậm hay mau khiến hành giả đi đến tình trạng kiệt sức. Một hành giả khởi sự có sức khoẻ mạnh mẽ, bền bỉ hơn người, sau một hai tháng "tẩu hỏa nhập ma" chỉ còn là cái xác dật dờ không sinh lực, và thầy thuốc Tây Y lẫn Đông Y đều phải bó tay.
2) Tùy kinh mạch bị tẩu hoả, và tuỳ luân xa bị kích phấn, hành giả có thể sanh tâm vô cùng thương cảm, hoặc tưởng mình là một vị thần, thánh, hoặc là người từ cõi xa xăm vô tận được một quyền năng tối thượng nào đó gởi xuống cõi này. Hành giả có thể tự tin mãnh liệt là mình có sứ mạng cứu vớt tất cả mọi người hoặc chỉ một số những người nơi địa phương hành giả đang sinh sống, hoặc cứu vớt cả nhân loại khỏi một tai ương khủng khiếp nào đó sắp xảy ra trong tương lai 5, 10 năm sắp đến.
Hành giả bị những ý tưởng hão huyền đó thôi thúc, bức bách, mà không khống chế được chúng. Khổ thay, bản thân hành giả lại không có uy tín, kiến thức, khả năng gì ra trò để có thể dùng làm phương tiện thực hiện những "sứ mạng" quá lớn lao kia. Hành giả đâm ra bịa đặt, nói bóng gió, nói xa gần, nói phét, để mong được người nghe nể phục mình, và rồi họ sẽ tôn kính mình. Hành giả muốn chứng tỏ mình tuy là một con người trần tục như bất cứ ai nhưng rất "phi phàm". (Thực tế đáng thương cho thấy đa số lại là những kẻ chẳng bằng ai trong xã hội !)
Trong trường hợp này, hành giả vì thế hóa quẫn trí dần và thành nạn nhân của những ảo tưởng của chính mình. Hành vi, ngôn ngữ của hành giả phi lý, không tưởng, hão huyền, nếu còn chút may mắn hành giả có thể chỉ bị người xung quanh cho là nửa điên, nửa khùng vì hành giả cũng có những lúc tỉnh trí, nói năng và suy luận có vẻ bình thường.
3) Nếu thần kinh óc bị kích động cùng cực, hành giả có thể bị các luồng tư tưởng của chính mình trong chính đời hiện tại hoặc các đời quá khứ lôi cuốn mãnh liệt. Hành giả tin chắc bẩm rằng mình chính là nhân vật thượng vị, tôn quí, thiêng liêng mà mình hằng ngầm ước muốn tự trong tận đáy lòng. Những "đại vương", "giáo chủ", "thần", "thánh", "tiên", "Phật", "sứ giả nhà trời", v.v., do đây bỗng xuất hiện, với hành vi và tư cách khác biệt một trời một vực với các giáo chủ, tiên, và Phật thực sự.
4) Hành giả quen dần với các xúc cảm mạnh mẽ hoặc tế nhị gây ra bởi những xung động của luồng khí nóng và của các luân xa. Hành giả chìm đắm dần trong thế giới của tư tưởng giao động, đồng thời trở thành cực kỳ chủ quan.
Hành giả cũng có thể cảm thấy nhàm chán, xấu hổ khi một "linh hồn cao thượng" như mình phải thực hiện những phần vụ thông thường của con người như ăn uống, vận trang phục, làm việc để mưu sinh. Hành giả cũng có thể cảm thấy mình bị giam hãm trong thân xác quá giới hạn, eo hẹp và thấp hèn này. Hành giả do đó có những khi tha thiết muốn tự kết liu mạng sống, muốn "bỏ xác" để được tự do.
5) Hành giả cũng có thể bị nội thương ngấm ngầm do sự mất quân bình lớn lao giữa các cơ năng trong cơ thể sau nhiều năm tháng luyện sai, và nhất là việc luyện nín thở cho được lâu.
Khi một cơ quan đã bị tổn thương nặng, sức ép nhất thời của một buổi công phu có thể khiến hành giả thổ huyết, hoặc tả huyết. Lượng huyết vỡ bung ra từ chính cơ quan đã bị thương tổn âm ỉ bấy lâu.
Ngoài những tác hại liệt kể sơ lược trên đây, "tẩu hỏa nhập ma" cũng còn đưa đến hậu quả trầm trọng thông thường nhất là bệnh tâm thần nhẹ lúc đầu, và có thể đưa đến thực sự điên 100%.
Cần biết những người bị bệnh tâm thần không hẳn lúc nào cũng đều nói nhảm, lý luận nhảm. Họ có thể rất bình thường như mọi người, và lý sự rất xác thực, cho đến khi họ cảm thấy người nghe có thể như tin và trọng họ, có thể nghe những "kiến thức bí mật" của họ mà không bài bác thẳng thừng, lúc đó họ mới thố lộ. Và lúc đó người nghe mới được biết đương sự "chính là người đã làm Liên Bang Xô Viết sụp đổ", hoặc đương sự "mới đàm đạo với chúa Jê Su đêm qua", hoặc đương sự "chính là bạn đồng tu với Quan Thế Âm Bồ Tát".
Việc luyện hoả hầu và các môn tu luyện có liên hệ đến luồng khí lực này càng ngày càng sản xuất nhiều nạn nhân hơn là bậc thầy thực sự. Một vài người rải rác trên thế giới luyện thành công nhưng không hề huênh hoang, và cũng chẳng màng việc thâu nhận đệ tử, huống là tổ chức các buổi din thuyết min phí cho công chúng vào nghe, để sau đó ai muốn học thì gặp riêng, "sẽ cho biết giá cả sau" như thường thấy.
Đời sống càng tiến nhanh theo chiều văn minh cơ khí, xã hội tiêu thụ, và nếp sống thành thị sô bồ từ mờ sáng đến quá nửa đêm, con người càng đa mang đủ loại ham muốn lớn, nhỏ, hiển lộ hay ngấm ngầm. Các điều kiện thiết yếu phải có của người muốn luyện vì thế khó được hội đủ. Lại thêm vô phước gặp các bậc thầy nửa mùa hoặc bịp bợm, họa tai do đó nắm chắc trong tay.
Tổ sư môn luyện xuất hồn đã bị tẩu hoả nhập ma ?
Theo quyển Kinh A-Di-Đà Sớ Giải Và Phật Học Vấn Đáp do cụ Đỗ Thuần Hậu--tức tổ sư đạo xuất hồn--viết xong tại Đa Kao, Tân ĐỊnh, ngày 1 tháng 8 năm 1966, thân thế cụ như sau :
Thuở thiếu thời cụ bị mẹ ghẻ hành hạ cùng cực. Cha cụ thương xót tình cảnh của con, cho cụ xa gia đình để học và làm việc. Rồi cụ lập gia đình, làm nhiều nghề khác nhau. Rồi cụ chán ngán thế thái nhân tình, muốn đi tu. Sau một thời gian trải qua nhiều cảnh chùa, cụ quy y, thọ giáo nơi "ông Cao Minh Thiền Sư," và cụ "ở nhà làm lấy ăn để tu". Nhưng rồi cụ tự nghĩ rằng cách tu "vô vi xuất chưởng Anh Nhi" của thầy cụ "thì cũng được, nhưng đàn ông không máy sinh dục đựng con, làm sao làm được. Nhưng tôi cũng mượn phần ấy, rồi nhờ sự nghiên cứu Thiêng Liêng, để cứu xét." (Trang 189-190)
Nhìn chung:
1. Cụ trải qua một quãng đời phải chịu đựng lắm nỗi thương đau, rồi cụ thức tỉnh, tầm sư để tu hành.
2. Cụ được thầy dạy cách luyện, nhưng cụ không hiểu nghĩa từ ngữ Tiên đạo "Anh Nhi", và do đó cho rằng cách luyện của thầy không hữu lý.
3. Cụ bèn lấy một phần cách luyện của thầy, sửa đổi đi, thêm thắt vào.
4. Cụ ở nhà làm ăn.
5. Đồng thời tự tu luyện theo cách mình đã biến chế, và hoàn toàn không có thầy hay người đi trước hướng dẫn.
6. Và cái gọi là "Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp" ra đời.
Ngoài từ ngữ "Anh Nhi" mà cụ không hiểu nên bất đồng ý, cụ không hề cho biết rõ chi tiết pháp luyện của thầy cụ ra sao và cụ đã mượn phần nào, rồi sau đó thêm vào những phần nào. Duy có một điều rất chắc chắn : cụ bỏ hẳn kiểu ngồi kiết già, và chủ trương "ngồi như thường để cho thong thả..." (Trang 173) Từ nguyên lai này, LSH và môn đồ xuất hồn cho đến nay chỉ ngồi xếp bằng mà thôi.
Kiết già là thế ngồi vững ổn nhất với nhiều lợi ích quan yếu thực tế và bí mật. Do đó những người tu luyện hay tu hành theo các pháp môn của Đông Phương--kể cả người Âu Mỹ suốt đời chẳng mấy khi ngồi xếp bằng--đều cố gắng chịu đựng sự đau đớn cùng tột của cách ngồi kiết già cho đến khi nào ngồi được an ổn, không còn thấy khổ sở và phân tâm. Từ khi bắt đầu tập ngồi kiết già đến khi ngồi được thoải mái một hai giờ đồng hồ, nhiều người phải trải qua 3 năm, 5 năm, hoặc hơn nữa là thường.
Căn cứ vào các sự kiện cụ ĐTH:
- Tự ý sửa đổi cách tu luyện của thầy cụ
- Tự bỏ hẳn thế ngồi kiết già
- Tự luyện tại gia không người hướng dẫn
- Không hề biết phương cách khai, phát, vận, thâu luồng hỏa hầu
- Thay vì vậy, đút chặt hai ngón tay cái vào hai lỗ tai, thầm niệm "tung lên bộ đầu", với chủ ý sẽ thoát ra xương sọ và "xuất hồn". (Phải chăng việc "tung lên bộ đầu" này là nguyên nhân chính yếu khiến thần kinh óc bị kích phấn, khiến người luyện bị vọng tưởng bức bách, và lý trí băng hoại dần ?)
Đồng thời, căn cứ vào cách đương sự nhận hiểu kinh điển nhà Phật cũng như cách din tả mọi sự việc sau khi "luyện xuất hồn thành công", chúng ta có thể đặt câu hỏi : Phải chăng cụ ĐTH, tổ sư đạo xuất hồn, đã bị tẩu hoả nhập ma ???
Thực tế cho thấy những sự kiện sau đây :
1) Đương sự không thể tập trung tâm trí vào một đề mục nhất định.
Các câu hỏi hoặc do ai đó đưa ra, hoặc do cụ tự đặt, được cụ trả lời rông dài, ngoài đề, linh tinh, bắt cái nọ, quàng cái kia. Tâm trạng võ đoán của cụ trong các cách din giảng là một trong những đặc tính cũng thấy trong những người đi theo con đường của cụ. Những khi vấn đáp, rất thường khi một câu hỏi đơn giản đã được cụ trả lời tràng giang, rốt cuộc vẫn không đáp được gì ! Cụ phát ngôn bất cứ từ ngữ, ý niệm, vấn đề nào bỗng nhiên nhảy ra trong tư tưởng cụ, bất kể chủ từ, động từ, túc từ, mệnh đề chánh, mệnh đề phụ, v.v. Đây là tình trạng hành giả hoàn toàn không kiểm soát được vọng tưởng, bị chúng lôi sồng sộc như lá vàng bị cuồng phong cuốn, như ghe nhỏ bị nước lũ trôi, như ngựa hoang phóng cuồng không yên cương.
Chính LSH và các môn đồ Vô Vi ngày nay cũng hứng chịu cùng hậu quả này và tất cả các hậu quả khác, hoàn toàn không khác một mảy may.
2) Đương sự không thể chế ngự được loạn tưởng.
Hệ thần kinh não bị kích phấn liên tục, vọng tưởng nổi lên như sóng cồn, lớp lớp, trùng trùng. Cách luyện lại không tạo cho người luyện khả năng khống chế chúng. Tình trạng rối loạn trầm trọng đến nỗi đương sự không còn phân định được nghĩa lý của các ngôn tự thông dụng nhất. Đủ loại từ ngữ nửa nọ, nửa kia từ đó ra đời. Sau đây là vài thí dụ của loại "ngôn ngữ Vô Vi" này :
- "Lọc" được cụ gọi là "lừa lọc", tỉ dụ như trong câu : "... nhờ sự tu hành hồn của bạn trực tiếp cùng gián tiếp lừa lọc khí trược hườn thanh."
- "Cơ thể" con người được cụ gọi là "bản thể". Chữ này và tất cả các chữ khác cùng loại được môn đồ Vô Vi dùng phổ thông hằng ngày.
- "Trung tâm" được cụ gọi là "trung tim", tỉ dụ như trong câu: "trung tim bộ đầu" (có nghĩa giữa đỉnh đầu), "trung tim chân mày" (có nghĩa chính giữa hai lông mày).
• "Quyết định" được cụ gọi là "quyết liệt", v.v, và v.v.
3. Khả năng tập trung tư tưởng bị phá tan
nên đương sự bị tất cả mọi vọng tưởng khống chế.
Do thần kinh hệ bị dồn ép và kích phấn liên tục bởi xung động của các luồng khí lực châu lưu trong cơ thể bị dồn hết lên đầu, đương sự rơi vào và chìm trong trạng thái dật dờ như cây nhỏ bị cơn mưa lũ cuốn bung gốc. Nước cuốn chiều nào, cây ngả chiều đó. Đương sự tự tìm lối thoát trong sự phục tòng và thoả mãn từng tư tưởng bất kỳ xuất hiện, và xuất hiện liên miên không ngừng. Từ đó có muôn ngàn cách giải thích quái gở như sau :
- Trang 163, cụ phán "Ngũ Uẩn là: 2 mắt, 2 lỗ tai, cùng mũi miệng". (Đúng ra, cộng lại phải thành 7 cái.) "Ngũ uẩn" là một danh từ Phật học sơ đẳng, có nghĩa sắc, thọ, tưởng, hành, và thức uẩn, nhưng cụ ĐTH không chịu được như vậy. Cụ không hiểu những chữ đó, nên vọng tâm sẽ không dừng được ở đó. Sự hôn ám của lý trí đã dồn ép đương sự phải chấp nhận mũi và miệng là một để có được tổng số 5, ngõ hầu giải nghĩa chữ "Ngũ Uẩn" cho xong để còn giải quyết nghi vấn kế tiếp nào đó, cũng với cùng một phương cách tương tự, và cứ thế liên tục không ngừng.
- Văn Thù Sư Lợi (phiên âm danh từ riêng "Manjusri") được cụ ĐTH giảng : "VĂN là phải nghe lời chìu luyï Chủ Nhơn Ông Trưởng Lão, THÙ là thù hiềm tánh hay mê trần oán ghét, SƯ: tôi là Vía phụ trợ gọi là Vợ, Điển âm, ưa mưu sự gọi là làm Sư đốc xúi cho ham trần, làm hại cho Chồng là CHỦ NHƠN ÔNG hay là TRƯ-NG LÃO XÁ L"I PHẬT" (Trang 64)
Ngoài cách giải nghĩa bốn chữ "Văn Thù Sư Lợi" như thế, cụ đổi Xá-Lợi-Phất (cũng phiên âm một danh từ riêng của Ấn Độ) thành... Xá Lợi Phật. Chỉ vì tâm trí không còn khả năng phân định, nên khi ý niệm về chữ "Xá Lợi Phật" nhảy ra trong đầu kế tiếp theo chữ "Xá Lợi Phất", đương sự liền xáp hai vô làm một cho yên bề loạn tưởng. Môn đồ Vô Vi do đây có chữ Xá Lợi Phật đồng nghĩa với... Xá Lợi Phất.
(Xá Lợi tức Ngọc Xá Lợi, di tích của báo thân các vị đắc đạo sau khi trà tì; Xá Lợi Phật là ngọc Xá Lợi di tích của Báo Thân Phật sau khi trà tì. Xá Lợi Phất là tên của đệ tử thứ nhất trong mười đại đệ tử của đức Phật. Xá Lợi Phất còn chỉ cho Trí Tuệ.)
• "Bồ có nghĩa là bồ bịch dựa nương; Đề là thuyết đề mục để tu hành luyện đạo." (Trang 39.) Đó là cách hiểu chữ Bồ Đề (Bodhi) của đương sự. Chỗ khác, trang 89, đương sự lại phán : "Bồ Đề chỉ là hột điển lửa mà thôi" (khi đương sự ngồi luyện thấy ánh sáng như hột lửa từ trán bay ra trước), và Mô Ni Châu, Xá Lợi cũng được đương sự cho nghĩa "cục lửa tròn" ấy.
4) Trí nhớ lu mờ, nói trước quên sau.
Cũng vì bị vọng tưởng cuồng loạn miên man khống chế, mỗi khi mở miệng đương sự liền nói lấy nói để, liên tục không ngừng. Rất nhiều sự kiện đương sự nói rồi quên, chỉ trong chốc lát hoặc ít ngày sau nói lại đã khác hẳn.
Điển hình nơi trang 182, cụ phán: "Trong kinh nhà Phật nói: Ta vốn là ta, gọi là căn bản, căn bản gọi là khí điển. Hồn của ta trên Trời sa xuống từ lúc Mẹ ta có thai-noãn trong 6 tháng, làm chủ-bản gọi là trí, ý, hồn, tánh, tình là Vía." ("Kinh nhà Phật" cụ nói đây là loại kinh chỉ có trong trí tưởng tượng của riêng cụ. LSH và các môn đồ đạo này cũng dẫn chứng càn bừa y như vậy.)
Tuy nhiên, chỉ được 10 trang giấy sau, nơi trang 193 cụ lại phán rằng thai-noãn "...đúng 100 ngày thì có thần hồn sa xuống trần gian" thay vì 6 tháng tức 180 ngày vừa nói trên.
5) Không còn lý trí độc lập nữa, thay vào đó là lý trí nô lệ.
Đương sự hoá thành một kẻ nô lệ cho khái niệm "điển", bị ám ảnh bởi "điển". Bất kỳ ngôn từ, dữ kiện nào, sự việc gì cũng được đương sự qui về "điển" và môn luyện xuất hồn một cách hoàn toàn phi lý.
- Trang 96, cụ giảng nghĩa Nam Mô A Di Đà Phật một cách quái dị như sau :
- Nam Mô là lửa Điển Tinh
- A Di là lửa Điển Khí
- Đà Phật là lửa Điển Thần
- Phật là tông chỉ huyền bí của nó.
(Bỗng nhiên đương sự tự thêm vào một chữ "Phật" ở dòng cuối cùng và không giải thích lý do.)
- Trang 22, cụ giải thích "Thích Ca Mâu Ni" (phiên âm danh từ riêng "Sakyamuni") nguyên văn như sau:
- Thích: Là giải ra cho Đức Di-Đà hiểu
- Ca: Là ca tụng tuyên truyền cho chúng sanh để tu
- Mâu: Là tượng trưng Pháp Lý để tu trong mình [???]
- Ni: Là ngày hôm nay có Khoa Học Huyền Bí Pháp Lý...
Hiển nhiên, đương sự đã luyện xuất hồn thành công, và hiểu "Thích tức là giải thích ra, Ca tức là ca tụng, Ni tức là nay" !!!
Tôi trích dẫn các thí dụ trên từ hằng ngàn cách giải nghĩa tương tự của cụ ĐTH, tổ sư đạo xuất hồn tức đạo Vô Vi. Thế mà tổ sư, LSH và các môn đồ lớn bé cứ nằng nặc bảo nhau "cứ cắm đầu thực hành đi rồi sẽ thấy, đừng hỏi, đừng thắc mắc", vậy là nghĩa lý gì ??? Có mắt sáng không chịu nhìn thì có khác chi người mù ? Có miệng không hỏi thì khác gì người câm ? Có đầu óc và lý trí mà không muốn suy xét, không chịu cân nhắc thì có khác gì với kẻ si độn, ngu ngốc, điên khùng ?
Sự thể tương tự như một sự kiện thực tế hằng ngày : mình vào quán nước, quán nhạc, vào bàn tiệc, khi một người ngồi bên đưa cho một điếu thuốc vấn mời mình hút, nếu mình còn lý trí, chưa ghiền và cũng không muốn ghiền cần sa, ma túy, thì mình phải hỏi "Cái gì đây? Bốc-lăn-xe, Ông Già, Gò Vấp, hay Xì Ke ???" Trong những trường hợp quả đó là điếu xì-ke, đương sự lè nhè, nhừa nhựa, nháy mắt: "Cứ kéo đi rồi biết mà, đừng hỏi !"
Đó cũng là bước đầu tiên của tất cả những người luyện xuất hồn : "Cứ cắm đầu tu" bằng cách nằm phình bụng lên xuống, rồi ngồi xếp bằng đút chặt hai ngón tay cái vào hai lỗ tai, nhắm nghiền mắt, thầm nói "tung lên đầu", cho đến khi thấy cục ánh sáng xanh xanh, đỏ đỏ, thấy có cái gì đó chạy rần rần trong đầu, trong cơ thể, tức là có "ấn chứng", là "ngộ đạo". Đừng hỏi, đừng thắc mắc, đừng suy luận, đừng dùng lý trí, cứ cắm đầu "tu" đi rồi sẽ biết ???
Tổng hợp tất cả các sự kiện cụ thể đã trình bày trên, phải chăng tổ sư đạo xuất hồn đã là nạn nhân của môn luyện xuất hồn do chính đương sự chế biến ra, và những người luyện theo cũng đã rơi theo vào cái hố sâu thẳm ấy ?
Đương sự đã tự dò dẫm, chắp vá, sửa đổi, và tự luyện không có thầy. Những biến thái quái dị của tư tưởng và lý trí ấy phải chăng chẳng có gì khác hơn là một vài trong những hậu quả khốc hại của "Tẩu Hoả Nhập Ma" ?
Mọi đóng góp ý kiến, dữ kiện, kinh nghiệm, xin gởi cho : pham_ba@hotmail.com
________________________________________
THƯ ĐỘC GIẢ VÀ HỒI ĐÁP KỲ 5
Kính gởi bà HLT,
Cảm ơn bà đã gởi tuần báo ấy để tôi "nghiên cứu thêm". Sự kiện ấy không có gì đặc biệt; một vài chi tiết khác đăng trong số ấy có phần ích dụng. Ngoài ra, có bao giờ bà tự hỏi bao nhiêu trong số những dữ kiện và "lá thư" của tuần báo ấy là thực, và bao nhiêu là bịa đặt ? Bà đã đọc tiểu sử của LSH mới được soạn lại gần đây chưa ? Trong đó có ghi đương sự tu hành "khổ hạnh". "Khổ hạnh" ??????
----- THƯ Đ"C GIẢ khen ngợi PHạM BÁ -----
Dr. PM viết :
Bạn Phạm Bá thân,
Trước hết xin phép kêu anh là bạn, vì tình cờ đọc được tài liệu trong web của anh, thấy vui và thích quá ! Chứng tỏ anh là một vị thiện tri thức lớn, rất am hiểu về đạo Phật, và có nghiên cứu nhiều về các giáo phái (sects, cults). Nhân đây xin yêu cầu anh, nếu có thể, với trí thức thâm sâu của mình, mổ xẻ tường tận giúp cho những người căn cơ yếu kém về Phật pháp hiểu rõ sự thật trong pháp tu "Nghe tiếng Cõi Trời" của vị Sư Phụ "Không có ai cao hơn" và compare phép màu của Sư Phụ với Bé Tám.
Đa tạ.
Phạm Bá trả lời :
Xin chân thành cảm tạ những lời khen quá lớn lao của tiến sĩ. Tôi hoàn toàn không dám nhận, mà lại có phần cảm thấy xấu hổ !
Ngay từ khi bản tường trình này khởi đăng được vài kỳ đầu tiên, nhiều độc giả cũng đã đề nghị tôi làm một bản tường trình về "Sư Phụ". Tôi xin thưa chung đến tất cả quí vị, tuy tôi rất hân hạnh được quí vị tin cẩn và đề nghị, nhưng quả thực tôi không có được bao nhiêu thời giờ rảnh rỗi. Hơn nữa, có rất nhiều người hiểu biết cao rộng trên cả hai phương diện học vấn và đạo pháp, nhưng do bận tu hành, sinh kế, trách nhiệm gia đình, hoặc có nhiều việc quan trọng đáng làm hơn, nên họ không làm việc tôi đang làm đó thôi. (Như riêng tôi, trong gần một năm qua bỗng nhiên có rất nhiều việc đổ tới, việc nào cũng cần yếu hơn, cấp bách hơn, ích lợi hơn, hoặc... có nhiều phần thích thú hơn, nên phải làm trước. Chính vì vậy nên gần 10 tháng sau ngày phần "Tẩu Hoả Nhập Ma" đã được đăng, phần "Điển" đến hôm nay mới được cập nhật và đưa lên internet.)
Một lần nữa, tôi xin cảm tạ những lời khen và đề nghị của tiến sĩ, và xin mời đọc qua phần thư... hăm he hồn vía Phạm Bá dưới đây.
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp   ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeSun Apr 03, 2011 5:28 pm


----- THƯ Đ"C GIẢ hăm he hồn vía PHạM BÁ -----
Độc giả TVP viết hai câu cụt ngủn :
Hello Phạm Bá,
Lời thệ nguyện của anh sẽ được đáp ứng ! Chúc anh đi về địa ngục vui vẻ !
Phạm Bá trả lời :
Tôi đọc lời phán của anh mà phải phì cười !!!
Chẳng hay anh sẽ cho tôi vào địa ngục vì chính anh là chúa ngục, hay vì anh có... "quen biết lớn" với chúa ngục nào đó, hay chẳng qua chỉ vì tôi trình bày những sự thực quá phũ phàng và quá đau đớn mà anh không thể nào ngờ được, và anh không thể tin nổi đó lại là những sự thực 1000% ???
Thưa anh, trải vô số kiếp, tôi đã phải qua nhiều cửa ngục, và tôi thấy đúng như Đức Phật đã dạy : không có nỗi khổ nào lớn cho bằng nỗi khổ của sự ngu tối !
Anh chúc tôi "đi về địa ngục vui vẻ", dĩ nhiên là anh nói móc, nói đểu kiểu con nít với nhau đó mà. Tuy vậy, câu chúc này cho thấy anh không biết gì về một hạng người có khả năng "vui vẻ đi vào địa ngục". Đó là hàng Bồ-Tát đại- thừa, và khi họ vào địa ngục thì những người xung quanh không ai biết họ là Bồ-Tát. Thường khi cho mãi đến khi họ không còn xác thân phàm tục như mình nữa, mình mới biết họ là Bồ-Tát.
Ngoài ra, xưa nay ở đâu cũng có hạng người tự xưng Bồ-Tát, tự xưng Phật sống, tự xưng đủ thứ tên gọi oai phong trùm thế giới, rồi la cà những nơi như nhà điếm, bàn nhậu, sòng bài, và rõ ràng cũng đam mê dục lạc vật chất hoặc dục lạc nam nữ như ai. Họ tự biện hộ và khoác lác mình "vui vẻ vào địa ngục" để độ chúng sanh, để chiến đấu với âm mưu của thế lực vô hình muốn xâm chiếm cõi này, để vào chỗ ô nhim mà không nhim ô, v.v. và v.v. Đây là hạng bố láo, bịp bợm, và chỉ gạt được những người quá dốt Phật pháp mà thôi.
Thực tình tôi rất thích mấy dòng chữ của anh. Chỉ trong có hai câu cụt ngủn, không đến 20 chữ, mà anh phô bày được nhiều đặc tính tôi thường thấy nơi thầy trò đạo xuất hồn : trịch thượng, tự thị ta đây, thích hăm he, và rất kém Phật pháp.
Thư hăm he rất dài dòng của độc giả TNL :
Kinh goi ong Pham Ba,
Toi ten la TNL, mot nguoi da 23 nam tu thien theo PLVVKHHBPP, toi hien dinh cu o _______, trong nhung lan mang du tren mang luoi Internet, toi vo tinh tim ra duoc trang Web co nhung bai viet phe binh phap tu thien Xuat Hon ma toi da va dang thuc hanh.
Nhung bai viet cua ong neu xet ve su suy luan pham tran cua ha tri thi do la nhung bai viet hay, loi cuon nguoi doc, trinh bay sang sua, mach lac... Nhung neu xet ve tam linh thi do la nhung bai viet cua mot nguoi con trong vong vo minh ma da tuong minh la sang suot di phe phan mot vi cu si tu da dac dao!
....... [Thư rất dài.]
Phạm Bá trả lời :
Kính gởi ông TNL,
Cảm ơn ông đã bỏ thời giờ ra viết lá thư dài 1015 chữ, và cũng xin cảm ơn những lời dạy bảo, triết lý, dẫn chứng Chúa Jêsu, Đạo Đức Kinh, v.v. của ông.
Sau đây tôi xin đáp một vài đoạn trong thư của ông :
A. Bắt đầu ngay nơi đoạn thứ hai ở trên :
1. Ông lập tức phán rằng những người như tôi là "hạ trí", "còn trong vòng vô minh", v.v. Điều này không có gì mới lạ. LSH và các môn đồ xuất hồn tự cho mình là người "thượng trí", đã ra khỏi vòng "vô minh", và tất cả những ai phê bình, nhận xét "Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp" không thuận với tôn ý của các ngài tu đạo này thì đều thuộc hạng "hạ trí" và còn trong vòng "vô minh" hết !!!
2. Ông dùng những chữ "một vị cư sĩ tu đã đắc đạo" để chỉ LSH cũng không đúng tí nào, và rõ rệt là ông cũng chẳng thực sự hiểu rõ những chữ "cư sĩ", "đắc đạo". LSH không phải là một cư sĩ. Cư sĩ là người tại gia đã thọ ít nhất là Ngũ giới của Phật giáo, có pháp danh, và noi theo con đường của Đức Phật Thích Ca. LSH chưa từng thọ giới nên không hề có pháp danh, ngược lại còn khinh thị Đức Phật Thích Ca. Cái gọi là "pháp danh Lương Vĩ Kiên" cũng chỉ là một danh xưng mới nhất trong số cả lố các danh xưng của LSH. Dĩ nhiên ông đã biết quá rành "Phật Vĩ Kiên" cũng chỉ là một danh hiệu do LSH tự phong từ lâu.
Việc ông không hiểu rõ chữ "cư sĩ" cũng chứng minh thêm sự kiện đại đa số môn đồ Vô Vi, cho đến chính "tổ sư ĐTH" và "đức thầy LSH", đều rất dốt Phật pháp ngay cả đến những từ ngữ bậc sơ cấp. Đó lại là thêm một điều chẳng hay ho và đẹp đẽ gì để ghi ra đây, nhưng là một trong những sự thật và những yếu tố chánh yếu khiến cho tất cả thầy trò rơi vào tình trạng tối tăm, hoang mang, mâu thuẫn, lủng củng, bi đát trên con đường được họ gọi là "đời đạo song tu" và việc gọi là "đắc đạo thành Phật".
LSH chỉ "đắc đạo" theo sự tự tin, tự xưng của đương sự, và theo lòng cả tin của các môn đồ Vô Vi mà thôi. Qua đoạn thư này, ông muốn khẳng định "LSH là một cư sĩ Phật giáo đã tu đắc đạo, thành Phật". Điều này không những sai lầm lớn mà còn cho thấy ông chấp nhận không thắc mắc và cương quyết tôn sùng, cương quyết thờ kính một kẻ tự xưng là Phật nhưng còn vui thú nơi những phố thị ăn chơi muôn ánh đèn màu, đắm luyến các sòng bài quốc tế khắp nơi, thích sống trong các khách sạn hạng sang quanh năm, nổi sân bất cứ lúc nào, với bất cứ ai, vì bất cứ lý do vặt vãnh gì, v.v. và v.v. Những ai không đồng ý với tấm lòng cương quyết như sắt thép ấy của ông và của các môn đồ Vô Vi khác đều được ông xếp vào hạng "hạ trí" và "vô minh" cả !
Ông viết :
O ben xu Phu Tang co mot anh chang mu co mot buoi toi no, anh ta ra duong voi cay den cay cam trong tay, dang di bong anh bi mot nguoi di duong dung phai, khien anh te xuong mat duong, anh voi la am i rang: bo dui hay sao ma khong thay cay den cua toi dang chay ho? Nguoi kia voi vang xin loi anh ta va noi rang: ong oi cai den cay cua ong cam tren tay da bi gio thoi tat tu lau roi, no dau con chay nua!! .....
Phạm Bá trả lời :
Ông dẫn chứng thêm câu chuyện trên để chứng minh tôi còn mù tối, nhưng có lẽ chính ông không hề biết rằng đó là một mẩu chuyện có đặc tính Phật Giáo Đại Thừa, và chẳng có liên hệ gì với đạo hồn vía. Đạo Phật không liên hệ gì đến xuất hồn, xuất vía. Xuất hồn là trọng tâm của đạo Lão, và đạo này đã suy tàn từ lâu vì tính chất không tưởng của nó. Tuy vậy, cụ ĐTH, LSH, và các môn đồ Vô Vi rất thích dẫn chứng càn và dùng bừa các ngôn từ của Phật Giáo, vì vậy dùng đâu là sai đó. Điều này còn cho thấy cụ ĐTH và LSH cũng chẳng am tường gì về đạo Lão. Nói chung, đạo Vô Vi là một trường hợp tiêu biểu của tình trạng "tu mù". Hậu quả là LSH huênh hoang "thành Phật trước Phật Thích-Ca 2500 năm", khinh bỉ Phật Thích-Ca và giáo pháp của Đức Phật, và phán dạy đệ tử không được xem kinh nhà Phật chỉ vì kinh nhà Phật chẳng đá động gì đến luyện xuất hồn thì chớ, lại còn cho những môn tu luyện và những hành vi như của đạo Vô Vi là tà đạo.
(Tu mù : "Tu mà không học là tu mù" : không chịu nghiên cứu, học hỏi cho tường tận trước khi tu, tự mò mẫm làm theo ý mình nghĩ tưởng. Tu ít lâu thấy vài hiện tượng trong thâm và tâm, tự cho là cao, là siêu việt, là thành đạt rồi.)
Ngoài ra, thưa ông, khi ông đọc những mẩu chuyện như thế, đáng lẽ ông phải suy ngẫm thêm một tí nữa : sau khi anh mù ấy bị người lạ va vào (chỉ va vào thôi chứ không đụng anh khiến anh "té xuống mặt đường" như ông viết) và sau đó được người lạ cho biết cái đèn lồng (không phải "đèn cầy" như ông viết) của anh ta đã tắt, anh mù liền "trắng mắt ra", và tự hối. Có lẽ anh xin lỗi người lạ nọ, nhưng mẩu chuyện không ghi lại phần đương nhiên đó. Vài ngày sau, anh mù trở lại nhà người bạn để trả cái đèn lồng, và thuật lại câu chuyện đã xảy ra, rồi có lẽ người bạn ấy đã ghi lại trên giấy mực, nên ngày nay chúng ta mới biết đến. Nếu như anh mù sau khi được người lạ cho biết sự thật, anh liền nổi sân, hăm he hồn vía người ta, đòi bỏ người ta vào địa ngục, trích dẫn kinh này, sách nọ lăng nhăng, hoạnh hoẹ cho oai, thì ngày nay chúng ta làm gì có câu chuyện hay đẹp đó mà đọc, thưa ông !
Ông viết :
Chua Jésus cung noi khong khac: mot anh mu dan ca dam nguoi mu di thi ket qua se ra sao? Tat ca deu se lao xuong vuc tham!
Phạm Bá trả lời :
Ông dẫn chứng thêm cả chúa Jêsu cũng để chứng minh tôi còn mù tối, nhưng ông hãy thử nghĩ chiều ngược lại xem sao ?! Phải chăng chính những kẻ mù ĐTH, LSH, đã và đang dẫn dắt các môn đồ xuống cái vực thẳm có tên nghe rất kêu là "Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp" ??? Ông có thấy thầy trò đạo này đã và đang nhốn nháo, cãi vả nhau, sân si nhau, hăm he hồn vía nhau trong vực thẳm tối đen có cái tên dài giòng ấy?
Thưa ông TNL, ông đã bỏ quê cha, đất tổ, bỏ cơ nghiệp, bỏ thân bằng, quyến thuộc, liều chết đi tìm tự do, và ông đã được những cơ quan từ thiện quốc tế giúp đỡ, rồi được cho phép định cư tại một quốc gia tự. Ông đang là một công dân tự do, sống trong một thể chế dân chủ, văn minh. Chẳng ai có quyền bỏ tù ông, hay nhốt ông vào địa ngục nào đó, hoặc hăm he hồn vía ông chỉ vì ông thử suy nghĩ, suy luận, và phán đoán vô tư, không chịu nô lệ cho bất cứ cá nhân, chủ thuyết, chủ nghĩa, tà thuyết, tà đạo nào. Ông hãy thử để ra 5, 10 phút cho trí óc ông suy luận một cách hoàn toàn tự do bên ngoài những song sắt "hồn vía" và "điển" đã giam hãm ông 23 năm nay xem sao. Hãy nhớ ông là một người tự do !
Ông phán rằng tôi, và những người đã đọc bản tường trình của tôi rồi quyết định bỏ đạo xuất hồn, sẽ "suốt cuộc đời chỉ luẩn quẩn trong vòng hữu vi sắc tướng rồi chết đi trong vòng luân hồi lục đạo..." Ông và các môn đồ Vô Vi khác rất giống với LSH : cùng mắc chứng bệnh rất nặng là thích hăm he này nọ !!! Điển hình, có một lần mấy mươi người chứng kiến LSH nổi sùng, nạt nộ mắng một môn đồ như người ta mắng chó. Môn đồ này là một thanh niên khoảng trên 20 tuổi nhưng vì bệnh hoạn kinh niên nên cơ thể yếu đuối như bé gái 10 tuổi. Cứ độ 20 phút hay nửa giờ anh ta lại rà vào gần LSH để lẩm bẩm xin "đức thầy" chữa bệnh cho. Cuối cùng LSH chịu hết nổi, sừng sộ nạt lớn :
"Mày mà không chịu làm việc, mày cứ ăn tiền bịnh hoài, mai mốt mày chết thành con giòi !"
Đó là trường hợp LSH đối xử với một môn đồ vì bệnh hoạn kinh niên nên được chánh phủ cho hưởng tiền bệnh, và đã vào đạo xuất hồn để mong được chữa lành bệnh như đạo này đã rêu rao.
Có thể chính vì các môn đồ Vô Vi bị "đức thầy" nạt nộ, hăm he hồn vía thường ngày riết nên đã quen dần với sự khủng bố và ngược đãi bằng lời nói này (verbal abuse), nên tất cả đều nhim thói hăm he hồn vía.
Thưa ông TNL, hạng "hạ trí" như tôi thì phải luẩn quẩn trong vòng lục đạo là quá đúng rồi. Tôi cũng tin chắc là chúng ta nếu sống đến gần mãn kiếp mà vẫn còn đam mê những thói xấu, tỉ dụ như bài bạc, ăn chơi, nói phét, thì trong kiếp kế tiếp nếu còn chút phước duyên nào để được trở lại làm người, chúng ta cũng sẽ tiếp tục con đường cũ ấy, vì những thói ấy đã ăn quá sâu vào tiềm thức rồi.
Ông viết :
vi the trong Dao Duc Kinh da co cau la: Tri gia bat ngon, ngon gia bat tri! ( biet thi khong noi, ma noi thi khong biet!) cho nen nhung vi dao cao duc trong van thuong hay an minh tu luyen, tinh khau, tham thien.
Phạm Bá trả lời :
Ông dẫn cả Đạo Đức Kinh cũng chỉ để chứng minh tôi mù tối, nhưng ông lại tự mâu thuẫn quá nặng nề ! Chữ "tri" trong câu đó chỉ cho "tri đạo" tức đã đắc đạo, và chữ "bất ngôn" chỉ cho "đạo" vốn vượt ngoài văn tự. Tuy vậy, nếu người "tri đạo" mà không "ngôn" trong phương diện giới hạn của ngôn tự thì làm sao dạy "đạo" cho người học ??? Đây là những vấn đề then chốt, và đáng lẽ ông đã phải nắm vững từ mấy mươi năm trước chứ đâu thể để mù mờ mãi cho đến ngày nay.
Đó là việc "đạo", còn việc những sự thật như ban ngày của LSH và đạo xuất hồn thì có gì "vượt ngoài văn tự" mà phải "tri" với "bất tri" hoặc "ngôn" với "bất ngôn" ???? Nếu như Khổng Tử ăn chơi, cờ bạc, giảng dạy lủng củng, mâu thuẫn, ấu trĩ, thì làm sao viết được Đạo Đức Kinh như thế ? Ông cũng nên bỏ thời giờ đọc lại Đạo Đức Kinh xem Khổng Tử có tự viết đủ thứ nhãn hiệu để dán lên ngực, lên lưng, hoặc tuyên bố láo, nhảm nhí, hoặc hăm he hồn vía các đệ tử và mọi người chăng ?
Cứ theo lời lẽ của ông sau 23 năm luyện xuất hồn, tôi đoán ông cũng đã đắc chức vị gì to tát, cao siêu lắm đây, nếu chưa thành Phật sống như "đức thầy" thì ít ra cũng gần bằng. Ông hãy cho biết vì lý do mầu nhiệm gì LSH không "ẩn mình tu luyện, tịnh khẩu, tham thiền" như ông phán trong đoạn thư này, thay vì thế lại "giáng lâm" nơi các sòng bài, để phải lên tiếng tự biện hộ, tự giải thích vớ vẩn, không chứng minh được, và bây giờ chính ông đang hăm he hồn vía này nọ, và dạy người khác phải ẩn mình tu luyện, tịnh khẩu, để... đừng có nói ra những sự thật về đạo xuất hồn nữa ???
Ngoài ra, "tham thiền" khác xa với việc ngồi đút chặt hai ngón tay cái vào hai lỗ tai và cầu khấn cho được xuất hồn. Ông lại dùng sai chữ nữa rồi ! Ông có biết, khoảng mùa hè năm 2000 cho đến nay, đạo xuất hồn lại đang có tranh chấp nội bộ ? Một môn đồ phe này dẫn chứng lời Đức Phật Thích Ca và công án Thiền để tranh biện với phe kia. Thực khôi hài và đáng thương làm sao ! Đa số môn đồ Vô Vi vẫn còn lầm tưởng LSH tôn kính Đức Phật và Phật pháp, và tất cả vẫn còn cả tin đạo xuất hồn là đạo Phật.
Ông viết :
Khong nen vi mot ca nhon hay be phai ma che dao nay, phi bang dao no!
Phạm Bá trả lời :
Ông đã căn cứ vào đâu để phán những lời này ??? Cá nhơn ư ???? Bè phái ư ???? Tôi chỉ hành xử quyền tự do ngôn luận và tự do tư tưởng để trình bày những sự thật. Chẳng qua, những sự thật ấy quá ư phũ phàng khiến các môn đồ như ông rất đau lòng, nên có cảm tưởng bị "phỉ báng" như ông đã cảm thấy. Chính LSH là người phỉ báng Phật Thích-Ca, phỉ báng Phật Giáo, và phỉ báng tăng lữ, ông quên hết rồi ư ? Lý do gì khiến ông bịt tai, bịt mắt, ngậm miệng trước những sự thật đó ??? Những người như ông mỗi khi nghe ai phê bình đạo xuất hồn là lập tức nổi sân lên, bất chấp sự thật, rồi lại làm vài câu hoạnh hoẹ, hăm he, đó mới hành vi có tính chất "bè phái". Lý do gì khiến ông không còn trí phán đoán sáng suốt bình thường ???
23 năm trước, khi ông còn là một người thuần chất, tin Phật, và bắt đầu luyện xuất hồn vì một lý do gì đó, đâu có ai trong đạo này đứng ra cho ông biết là nhiều năm sau ông sẽ phải phủ nhận lý trí, xoay lưng lại sự thật, chấp nhận những lời thô lỗ phỉ báng Phật-Pháp-Tăng, và chấp nhận những điều bịa đặt trắng trợn một cách không thắc mắc như hiện nay ! Nếu họ nói trước như vậy, ông có dám đêm đêm ngồi đút hai ngón tay cái vào hai lỗ tai, và nằm phình bụng lên, xẹp bụng xuống, mong cho được "xuất hồn" chăng ?
Hơn nữa, ông cũng quên rằng cái gọi là "PLVVKHHBPP" không phải là một "đạo này, đạo nọ" hoặc "tôn giáo" như ông viết trong câu trên và các câu khác. Điều này có ghi rõ trong các sách Vô Vi.
Ông viết :
Toi do rat nang! sau nay khi ong qua doi, se co nhieu linh can thanh dao cua Dao do den tim ong ma chat van, luc do ong se tra loi ra sao?
Phạm Bá trả lời :
Kính thưa ông TNL, ông hãy khoan lo cho cái "tội rất nặng" của người đang trình bày những sự thật, và cũng hãy tạm gác chuyện hồn vía khi qua đời, để trở lại với thực tại trước mắt chỉ năm ba phút : LSH và các môn đồ Vô Vi như ông đã và đang trả lời như thế nào trong suốt mấy mươi năm qua, mỗi khi mọi người khắp nơi (trong số có chính các môn đồ Vô Vi) chất vấn về các hành vi của LSH nói riêng và đạo lý hồn vía nói chung ? Cho đến nay, LSH và các môn đồ chỉ giải đáp rất luẩn quẩn, rất phí lý, chỉ nổi sân, rồi hăm he hồn vía người ta, vậy các "linh căn thành đạo" kia của ông nếu có thì cũng chỉ thế mà thôi chứ có gì khác lạ ???!!!
Kính thưa ông TNL, hàng ngày ông đang thụ hưởng những thực phẩm mua trong supermarkets, cái nhà vững chắc và đẹp đẽ nơi ông đang trú ngụ, cái xe ông đang sử dụng, các vật dụng tiện nghi căn bản thường ngày như nước máy, đèn điện, bếp điện, máy lạnh, máy sưởi, đồng hồ, điện thoại, máy truyền hình. Cho đến internet, email ông đang dùng, cho đến thuốc men và nhà thương cứu chữa mạng sống của ông những khi ông lâm bệnh, tất cả là thực tại, là kết quả của khoa học thực sự, của trí tuệ loài người có được sau nhiều thế kỷ liên tục học hỏi và nghiên cứu trong các học đường, các cơ sở kỹ nghệ. Những "hồn vía" và "huệ nhãn" viển vông, vô ích dụng mà ông tưởng tượng, trong suốt lịch sử loài người chúng hoàn toàn không dự phần gì vào việc kiến tạo đời sống tự do, dân chủ, và những tiện nghi ông đang hưởng. Ông dùng ngón tay khẩy nhẹ một cái chốt, ánh đèn điện chan hòa tỏa ra soi sáng bóng đêm cho ông : đó mới là một trong những "mầu nhiệm" thực sự do những con người "hạ trí" phát minh ra cho ông cùng LSH và những "thượng trí" Vô Vi khác hưởng thụ không thắc mắc !!!!!! Những "Phật sống" la cà trong các casino sáng choang đèn nê-ông màu 24/24 không hề hóa phép cứu ông ra khỏi Việt Nam, cũng không hề hóa phép biến ra các tiện nghi kia cho ông hưởng dụng.
LSH từng sừng sộ phán rằng "Bệnh là hình phạt của Trời !" (Tôi tin là ông không biết nguyên nhân của câu nói này.) Tuy nhiên, LSH quá sân nên quên phéng đi là chính mình cũng bệnh lên, bệnh xuống. Cái gì đã và đang còn khiến LSH và các môn đồ tự hôn ám, mâu thuẫn một cách quá trẻ con như vậy, ông thử suy nghĩ xem ! LSH vừa mới được giải phẫu mắt gần đây, "Phật sống" lại bị "Trời trừng phạt" nữa đó ư ??? Hay ông Trời chỉ trừng phạt 5, 6 tỉ người địa cầu không tin đạo xuất hồn, còn đối với LSH và các môn đồ Vô Vi thì ông Trời chừa ra, biệt đãi ???
Dĩ nhiên các bác sĩ y khoa "hạ trí" và các y tá cũng "hạ trí" chính là những người đã làm cuộc giải phẫu chữa mắt ấy cho LSH, ông biết chứ ? Thử nghĩ, nếu khi bác sĩ giải phẫu sắp bắt tay vào việc mổ mắt cho LSH thì có một cao đồ Vô Vi hoạnh họe một cách ngây thơ : "‘ng là Phật sống đó nghe ! ‘ng rất thích đi Las Vegas chơi sòng bài, và rất thù ghét những người 'hạ trí' như bác sĩ" !!! Có lẽ bác sĩ phải l phép mời thầy trò Vô Vi về với các bác sĩ Vô Vi "thượng trí", có "linh khí" trên mặt, và chẩn bệnh bằng cái kính lúp.
Ông viết :
... mong ong som tu minh dep bo di cac bai viet phe binh Phap Ly Vo Vi theo pham tam, pham tri, va noi len vai dieu an nan sam hoi... Neu duoc nhu vay thi do la ong lap cong chuoc toi vay, mong lam thay.
Phạm Bá trả lời :
Một lần nữa, tôi xin cảm ơn ông đã bỏ thời giờ ra đánh máy lá thư dài 1015 chữ này. Đáng tiếc là nội dung lẫn hình thức lá thư của ông hoàn toàn không có gì mới lạ, mà chỉ là một khuôn tâm trạng cố hữu của thầy trò đạo xuất hồn :
a. Ôm bo bo "hồn vía" và "điển"
b. Cực kỳ chủ quan, cao ngạo, tự tôn, tự đại, tự thị
c. Tự biện hộ, dẫn chứng lăng nhăng, quàng xiêng
d. Khinh thị; hoạnh họe; hăm he hồn vía
e. Lên giọng phán dạy trịch thượng cho hả dạ
và cứ thế tái đi, din lại mãi đã mấy mươi năm rồi !
Tu luyện được mới vài ba tháng đã có những bệnh chứng ấy phát khởi, cho đến vài ba năm, 20 năm, 30 năm, 50 năm, mà chỉ được "cái tôi" càng ngày càng phình trương lên như quả núi, trí óc càng ngày càng tối tăm, lủng củng, nô lệ như thế, thì cứ tiếp tục tu đến ngàn kiếp cũng chỉ có con đường một chiều đó để chìm sâu thêm mãi không cùng mà thôi.
Chế độ Cộng Sản Xô-Viết sau 70 năm kiên cường, cuồng tín, hoang tưởng, kềm kẹp lẫn nhau, trắng trợn lừa dối nhau, công khai hăm dọa nhau, đày đọa nhau, thủ tiêu nhau, ai cũng tưởng địa ngục ấy sẽ tồn tại đến muôn ngàn đời. Cuối cùng khi chính họ thấy ra sự thật là con đường của họ theo đuổi chỉ càng ngày càng đưa họ đến khốn khổ và nghèo đói hơn, đến băng hoại toàn bộ xã hội, kinh tế, và văn hóa, chế độ ấy đã phải tan rã.
Tuy vậy, tôi không hề ngạc nhiên chút nào khi những môn đồ Vô Vi như ông theo dõi đọc bản tường trình những sự thật về LSH và đạo xuất hồn cho đến hôm nay mà vẫn còn kiên tâm dạy bảo nhau đó là... "ma quỷ khảo đảo, thử thách", là... "test".
Bức tường ô nhục Bá Linh kiên cố đã bị đập phá không thương tiếc năm 1988, nhưng còn một bức tường kiên cố gấp trăm ngàn lần bức tường bê-tông cốt sắt ấy, xin đố ông, đó là bức tường nào ?
Ông hãy thử lặng yên ngồi, đối diện với nỗi hoang mang, day dứt, trăn trở ngấm ngầm trong tận đáy lòng, và tự hỏi mình sẽ tự dối mình, tự mãn nguyện đày đọa mình trong cái ngục "hồn-vía-điển" này cho đến bao giờ.
Không ai có thể cứu ông được ngoài chính ông.
--KỲ VI --
"Điển"
________________________________________
Thông thường, mọi người cho rằng "điển" là "nhân điện", và chính các môn đồ Vô Vi cũng thường dùng nghĩa này bởi họ thích nói "truyền điển", hoặc "thầy ban điển". Nghĩa thứ hai của "điển" phát xuất từ hiện tượng được gọi là "giáng điển", tức "ai đó" có bề thế trong cõi vô hình "ở trển" giáng nhập vào một người trần thế để tuyên bố một điều gì đó rất ư là trọng đại, khiến người nghe phát hồi hộp và ớn lạnh. (Chẳng hạn như câu "Tận thế đến nơi rồi, các con phải kíp tu mau kẻo tr", dân Việt Nam mình được hân hạnh nghe miết suốt hơn 40 năm qua, riết thành ngao ngán.)
Về nghĩa "giáng điển" này, một môn đồ lớn của đạo Vô Vi từng chán nản phát biểu riêng rằng :
- "‘ng [Phật Tám] nói cũng trật hoài, chỉ những khi nào điển ở trển giáng thì ổng nói mới trúng."
Khi được hỏi :
- "Làm sao biết lúc nào điển giáng hay không ?"
môn đồ này cho biết :
- "Khi nào điển giáng thì mặt ổng đỏ bừng bừng."
Riêng tôi nhận thấy những lúc LSH mặt đỏ bừng bừng là những lúc ông ta tức giận, cay cú một môn đồ hoặc người ngoài nào đó. (Có lẽ "nói trúng" đây có nghĩa là nói hợp lý chứ không phải là tiên tri đúng, vì LSH có tiên tri đúng điều gì đâu ?!) Và nếu chỉ khi cái gì đó giáng vào mới nói trúng đi hay tiên tri đúng đi nữa, thì cũng chỉ là một hình thức đồng bóng là cùng, chứ "Phật sống" ở cái khổ nào ?
Khoảng năm 1986, một môn đồ Vô Vi viết một tập sách mỏng về cách tu của đạo này, lời lẽ và cách dùng chữ cho thấy người viết có trình độ đại học, và ông ta cho biết điển không phải là nhân điện, rằng nếu người đời nghĩ như vậy là lầm, là ngây thơ ! Đương sự giải thích "điển" rất cao siêu, rất khoa học, bằng những danh từ vật lý như chấn động, xung động, giao động, tần số, v.v. và v.v., nhưng chẳng hề thấy đương sự đã dùng các máy móc tối tân gì, tại phòng khảo nghiệm nào để đo xem các giao động đó được bao nhiêu Hertz, bao nhiêu chu kỳ. Tôi kết luận là người viết cũng chỉ vì quá mê hoặc với "điển" nên sanh quá tự tin, bèn lượm lặt, chắp vá sách vở khoa học rồi tưởng tượng hão và giải thích một cách võ đoán như vậy mà thôi.
Cho đến nay, trên khắp thế giới họa chăng chỉ có một đôi người bẩm sanh dị thường, ngoài ra chẳng có một ai do tập luyện mà "có nhân điện" để phát ra được một dòng "nhân điện" có thể đo được bằng máy điện kế, và đủ mạnh để làm sáng một cái bóng đèn điện hoặc đèn pin nhỏ nhất. Nhiều người hành nghề chữa bệnh thích dùng hai chữ "nhân điện" nhưng cũng đều dùng các máy xung động điện (T.E.N.S.) loại chạy bằng pin, giá nay chỉ trên dưới 50 Mỹ Kim, hoặc loại sách tay lớn hơn, chạy điện, đáng giá vài ngàn Mỹ Kim (như cái cô B. thường đem theo mỗi khi đi khắp nơi với đức thầy Tám, và cô dùng nó kèm theo các bịt thuốc Nature’s Sunshine để làm lương y chữa bệnh cho các con bệnh Vô Vi thay vì dùng "điển" gì đó có được do luyện xuất hồn).
Đặc san Vô Vi năm 2000 có ghi phần điện đàm (xin thưa cho rõ, tức là nói chuyện qua điện thoại, chứ không phải nói chuyện bằng... điển) giữa LSH và một môn đồ bên Việt Nam. Khi môn đồ ấy hỏi chừng nào "đức thầy" về Việt Nam, ngài phán :
• "Về bển làm gì ? Để hút [điển] trược à ???"
Tuy sợ điển trược như vậy, nhưng LSH lại quyết định cho tổ chức đại hội Vô Vi năm 2000 tại thủ đô của Tiệp Khắc. Đại hội này đã có kết quả tức khắc là các môn đồ đều rút vào nằm trong các phòng của khách sạn cho đến khi về, không ai dám ra đường. Lý do là trong những ngày đầu, một số môn đồ đã bị những kẻ bất lương tại địa phương chận đường uy hiếp và trấn lột. Nếu Phật sống đã chọn Tiệp Khắc làm nơi họp đại hội, chẳng lẽ ngài lại cố tình lựa nơi "điển trược" như thế để hại môn đồ ??? Hay "điển trược" Tiệp Khắc... thanh nhẹ hơn "điển trược" Việt Nam, đáng cho môn đồ "học bài" hơn, mau "tiến hóa" hơn ???
Nói chung, tất cả mọi lý sự loanh quanh, luẩn quẩn, vớ vẩn, ngớ ngẩn, và quái đản đến mức độ khôi hài của thầy trò VV rốt cục đều qui về một cái hang tối tăm cuối cùng : "ĐIỂN".
• Chữ nghĩa quốc ngữ và Hán văn của LSH chẳng đến đâu, vậy làm sao LSH biết được rằng kinh điển Phật Giáo mấy ngàn năm nay đều "tam sao thất bổn hết, không thể tin được"? LSH cho biết là nhờ"dùng điển đọc mà biết!"
• "Điển Thượng Đế" chuyển cho ông nọ, bà đó, ôm hun LSH và nói với mọi người, "Đây là Di Lặc đây các con !"
• "Điển Thượng Đế" giáng vô cô kia, cậu nọ xưng "Ta là Thượng Đế", bắt cha mẹ già phải quì lạy dưới chân mình.
• "Điển Thượng Đế" xuống người bệnh đó, khóc lóc : "Cha đã quyết định rồi, Cha sẽ đưa con ra khỏi Việt Nam, khỏi địa ngục trần gian."
(Té ra Thượng Đế cũng còn bi luyï, khóc lóc như chúng ta sao ??? Té ra xứ Việt Nam chiến tranh lầm than, điêu tàn, chết chóc, vay trả trước mắt đó, "địa ngục trần gian" đó không phải là nơi cho LSH và các môn đồ VV "học bài". Trái lại, các xứ Mỹ, Pháp, Úc, Hồng Kông, văn minh, sung sướng, hưởng thụ vật chất phủ phê, mới là nơi để họ học bài ! Thì ra, khi LSH nói rằng nước Việt Nam "được Thượng Đế lựa làm điểm linh quang, linh địa để giải tiến tâm linh...," chẳng qua cũng chỉ là nói bừa thường nhật mà thôi hay sao ?)
• "Điển Thượng Đế" giáng vô cô đó, phán rằng, "Còn Phật của Ta đi [tức Tám vượt biên] là không có khổ, đi như đi chơi, Cha cưng ! Cha cưng rồi là nó đi chơi chớ không có đi như các con, nó khác hơn." (Té ra, rõ ràng Thượng Đế thiên vị, và "con yêu con ghét" một cách rất phàm tục !!!]
• "Điển Thượng Đế" giáng vào một kẻ lấc cấc, tham danh, tham lợi, tham dục, tự xưng là "Cha Trời". Cha Trời này đứng chống nạnh, dạng háng, thách đệ tử lạy và chun qua dưới háng ngài !
• Lý do gì LSH và các môn đồ cạo đầu ? Cũng chỉ để... thở hít điển cho được "nhẹ hơn, d lưu thông hơn, mặt sáng hơn." Tôi đã thấy tại các đại hội Vô Vi hoặc những khi hội họp có quay video, nhiều nam môn đồ Vô Vi kè kè cái máy cạo râu chạy điện deluxe loại 3 vòng dao cạo. Mỗi ngày rà máy trên đầu cả tiếng đồng hồ không chán !!! Có người còn thoa dầu lên cho bóng. Suốt ngày lo cho cái đầu thật láng và mong đợi mặt mày sáng ra. Soi gương thấy... mặt tối là lại rà nạo cái đầu trọc. Lý do dường như không có gì khác hơn là để khi chiếu video ra, cả làng cả nước Vô Vi thấy cái mặt mình nó sáng rỡ, có nghĩa là điển mình mạnh, mình tu cao.
Nhìn chung các thí dụ trên, chúng ta nhận thấy "Thượng Đế" vô hình đã là một khái niệm trừu tượng được ưa chuộng nhất trong lịch sử loài người, và nơi đây khái niệm ấy đã được cụ thể hoá bằng cái gọi là "Điển Thượng Đế", cứ như cả hai đều rất thật, không thể chối cãi được.
Vậy sau đây xin mời người đọc cùng xem xét nguồn gốc "điển" của đạo xuất hồn. Trong việc đúc kết toàn bản tường trình này, đây là phần cực nhọc nhất cho tôi, và có lẽ cũng là phần ít hứng thú nhất, đến độ chán chết cho người đọc. Lý do là các đương sự (tổ sư ĐTH trong quá khứ và Phật Sống LSH hiện tại) đều có cùng một căn bệnh : không thể tập trung đầu óc vào một đề mục hay một câu hỏi nhất định để trả lời hoặc giải đáp. Những câu hỏi đơn giản, rõ ràng, và chữ dùng phổ thông nhất cũng được các đương sự phát ngôn lung tung, linh tinh, lang tang, lạc đề, ý nọ bắt chuyền qua ý kia. Các câu hỏi "Điển là gì?" hoặc "Điển do đâu mà có?" được trả lời trên trời, dưới đất, người nam gặp người nữ, bào thai tạo hình, v.v. gần hai trang sách in chữ nhỏ, và vẫn không đưa đến câu giải đáp dứt khoát. Trang này cho điển là phần hồn thiêng liêng, chỗ khác cho điển là "cục Mô Ni Châu" từ trán phóng ra, đến trang nọ thì điển lại là "sự sáng suốt." (Nếu điển là sự sáng suốt thì tại sao lại có loại "điển trược" mà thầy trò VV rất sợ ???)
Chỉ riêng trong quyển "Kinh A-Di-Đà Giảng Giải" của cụ ĐTH, cộng chung tất cả các đoạn rải rác, có đến ba, bốn trang giải thích về "điển" một cách bất nhất và luông tuồng. Đọc qua đã là một cực hình, nếu đem chép hết vào đây lại là một cực hình thứ hai cho cả người viết và người đọc, lại chỉ thêm giấy mực. Do đó, nếu tôi phải dẫn nguyên văn đoạn nào, xin người đọc hiểu cho rằng đó là một sự cần thiết và bất đắc dĩ.
Nếu như tổ sư xuất hồn còn sống và có ai cứ truy hỏi cho ra ngọn ngành của điển, không biết cụ có nổi sung như Phật Tám hay chăng ? Giống như tổ sư đã quá vãng, hiện tại Phật Tám--tức Phật Vĩ Kiên, kiêm Thiền Sư Tám, kiêm Bé Tám, v.v.--cũng có nhiều câu giải đáp độc đáo về điển cho chúng ta học hỏi, và than ôi, cũng... linh tinh lang tang như vậy !!!
Tôi sẽ trình bày các cách giảng nghĩa "điển" của cả hai đương sự. Các chữ in đậm trong các trích đoạn là do ý của tôi nhằm giúp người đọc d thấy các điểm nổi bật hơn các điểm khác trong đám dây dưa chằng chịt của ngôn từ Vô Vi. Khi các chữ được in đậm y theo nguyên bản, tôi có ghi chú thích tại chỗ.
i. Tổ sư đạo xuất hồn giải thích "điển"
Trang 165, Kinh A-Di-Đà và Phật Học Vấn Đáp theo PLVV KHHBPP, cụ ĐTH phán :
"Trên trời thì có mặt trời, mặt trăng, để làm việc ngày đêm với các vì sao, còn trần gian thì có đèn pha, đèn điện, kể chung tất cả điển tiên thiên trên Thiên Đàng cùng điển của trần gian là lửa điển phụ thuộc mà thôi. Trên trời thì có lửa điển trong tốt do Hắc Bì Phật lập hiến. Còn dưới trần thế thì có điển lửa của khí trược, do trái đất hoá sanh. Trong trái đất có khối đá, trong chất khối đá là một thứ nhớt của cát. Cát, thứ tốt, màng của nó sanh ra loài kim khí, khí nhớt đã thành khối gọi bằng đá."
Phần nhận xét của tôi:
1. Đèn pha, đèn điện cũng được tổ sư xuất hồn đem cả vào để giải thích điển.
2. "Trên trời thì có lửa điển trong tốt do Hắc Bì Phật lập hiến": Câu này thể hiện hai trong số nhiều đặc tính rõ rệt của đạo xuất hồn: (1) gán bừa một vị Phật hoặc kinh Phật với các sự kiện không tưởng, và (2) dùng từ ngữ bừa bãi : lập hiến.
3. "Trong trái đất có khối đá, trong chất khối đá là một thứ nhớt của cát" ??? Câu này và câu kế tiếp cho thấy dường như cụ ĐTH tin rằng cát sanh ra chất nhớt, chất nhớt ấy kết lại thành... đá.
Tiếp theo đoạn trích dẫn trên :
"Đá được hưởng khí mặt trời chói rọi, hợp với thán khí là khí đất, thành chất lửa điển, khi lấy 2 cục đá chọi nhau, hoá thành chất điển lửa trược. Bởi thế khi chúng ta phân tách, mới biết lửa nào của Thiên Đàng, còn điển nào trược đục của đá cát cùng nước nhớt chung đụng thành khối gọi là điển lửa đục của trần gian gọi là điển âm. Bởi sự hợp tinh của Niết Bàn là mặt trời xây chuyển, h chất nào được hợp Ngũ hành là số 5 gọi là kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ hợp với 4 cộng là 9, số 4 là: Đông, Tây, Nam, Bắc.
Khi số 5 của Niết Bàn sa xuống thoai noãn số 4 gọi là 9 thì hợp tác thành ra một thứ hồn điển Thiêng Liêng, gọi là hồn của bản thể con người, ví như trong Niết Bàn 1 với 8 là 9, 7 với 2 gọi là 9 vân vân..."
Phần nhận xét của tôi:
1. Đá hợp với thán khí thành lửa điển, nên khi hai cục đá chọi nhau thì lửa điển ấy xẹt ra !!!! Phải chăng đây cũng chính là loại "khoa học huyền bí" đương sự đã thủ đắc nhờ luyện xuất hồn thành công ?
2. "Bởi sự hợp tinh của Niết Bàn là mặt trời xây chuyển" : Đố ai hiểu nổi !
3. Ngũ hành là số 5; số 4 là Đông Tây Nam Bắc; cộng nhau thành 9. Thai noãn cũng số 4; 5 + 4 là 9; Niết Bàn 1 với 8 là 9, v.v. Tôi nhận thấy Tổ sư rất thích 9 nút.
Trang 192, cùng sách:
"Máu có 3 thứ: thứ trong thì ở ngoài da, còn thứ đỏ tươi thì ở từng theo sớ thịt, còn thứ đỏ bầm thì chất huyết nầy nặng nề, rồi nhờ Pháp Luân Thường Chuyển là phép của Phật dạy ta công phu lừa lọc, hợp lại với thứ nhớt trong, gọi là tinh ba, còn thứ đỏ tươi hợp với nhớt trược nhẹ, chung qui là một thứ khí quản, rồi thừa tiếp mở kỷ xuống tại nơi đường mạch đốc là chỗ dây gân xanh ở giữa 2 trái cật, nương theo đường mạch đốc đi thẳng theo xương sống, làm ra một thứ khí trong, để giúp cho linh hồn ta một thứ máu nóng gọi là Điển. Điển này thừa hành phận sự làm chủ bản thể, giống nó cũng như loại kim là sắc, ưa rút nhảy cũng như thứ (aimant của magnéto) mà thế tục thường làm xe hơi, để cho bộ máy chuyển động nó, để giúp cho thần hồn mạnh mẽ khoẻ khoắn."
Phần nhận xét của tôi:
1. Theo tổ sư, máu có... 3 thứ : trong, đỏ tươi, và đỏ bầm. Vậy là hợp với "khoa học" quá mức rồi, nhưng đương sự bỏ sót quá nhiều loại máu khác như : máu cờ bạc, máu ham danh, máu ham lợi, máu dê, máu xấu, máu hàn, máu nhiệt, máu sản hậu, máu cao, máu thấp, máu xâm, máu khùng, v.v. và v.v.
2. "Pháp Luân Thường Chuyển" đây là cách nằm phình bụng lên, phình bụng xuống, do đương sự sáng chế, hoàn toàn không phải do Phật nào dạy.
3. Bảo đảm không có Phật nào dạy đệ tử "lừa lọc" cả. Nếu có, đó là loại Phật do ma nhập vào ai đó phong cho làm Phật.
4. "Ba thứ máu hợp với nhớt trong, nhớt nhẹ, tất cả thành khí quản" : đây cũng là một kiến thức chỉ thấy có trong đạo xuất hồn Vô Vi mà thôi.
5. "Khí quản ấy chạy trong đốc mạch, tạo ra khí trong. Khí trong này lại cho linh hồn ta một thứ máu nóng, gọi là ĐIỂN." UREKA !!! Đây chính là nguồn gốc điển của đạo xuất hồn, tức đạo Vô Vi, tức Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp ! Ba thứ máu biến thành cái khí quản chạy trong đốc mạch, tạo ra khí trong, khí trong này cho linh hồn một loại máu... thứ tư gọi là máu nóng, máu nóng đó chính là ĐIỂN.
6. "Điển này giống nó cũng như loại kim là sắc" : tổ sư dạy rõ thêm : điển này có tính chất giống như... kim loại.
Trang 180, cùng sách:
"Vấn: Tại sao gọi là Điển ?
Đáp: Trước kia ta ở trong thai noãn,.....[nguyên câu dài luông tuồng 143 chữ, không hề trả lời thẳng vào câu hỏi.] Bào thai ấy....... Sự hợp nhứt của Cha Mẹ..... [câu này cũng dài khoảng 120 chữ, cũng chưa thấy đá động đến điển.] Còn ngũ tạng ruột, gan, ..... Rồi thai ấy........... Khi Mẹ hoài thai 9 tháng thì thai noãn đủ nguyên hình, ................" [Đã 2 trang giấy như thế -trang 180 và trang 181-cũng chưa thấy nói gì để trả lời câu hỏi "Tại sao gọi là Điển ? "]
Trang 182, cùng sách :
"Trong kinh nhà Phật nói: Ta vốn là ta, gọi là căn bản, căn bản gọi là khí điển. Hồn của ta trên trời sa xuống từ lúc Mẹ ta có thai noãn trong 6 tháng, làm chủ bản gọi là trí, ý, hồn, tánh, tình là Vía. Nhưng cũng có sự phụ thuộc vốn của Cha Mẹ ta là Khí cấu tạo, rồi hợp thành một cái vốn khí điển của Thiên Đàng sa xuống nhập vào thai. Bào thai này nhờ có ngươn khí chất lỏng của Cha Mẹ tạo thành, gọi là khí bẩm sở câu, vật lực sở tế......"
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp   ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeSun Apr 03, 2011 5:29 pm


Phần nhận xét của tôi:
1. Như thường lệ, loại kinh nhà Phật này chỉ có độc quyền trong đầu óc của đương sự.
2. Hồn của ta, cùng khí cấu tạo của cha mẹ, và cái vốn khí điển của Thiên Đàng, tất cả 3 thứ hợp nhất thành Ta. Ta tức là căn bản, tức là khí điển. (Đương sự dùng các chữ "hợp thành một" là ý này.)
Tuy nhiên, đã hợp nhất thành điển, sao lại có việc luyện hồn vía ??? Còn nếu nói chỉ hợp chung lại, tại sao lại chỉ luyện hồn vía, bỏ quên khí cấu tạo và khí điển của Thiên Đàng ???
Chúng ta chớ quên, mới nơi trang trước : 3 thứ máu cộng với dầu nhớt này nọ thành cái khí quản, rồi cái thành một thứ máu nóng gọi là điển. Qua đây thì điển lại là kết quả của hồn + khí cấu tạo + khí điển của Thiên Đàng.
Có lúc ngài cũng cho hồn là điển, điển là hồn. Do đó, tiện đây tôi trích thêm các lời tổ sư giải thích HỒN để người đọc nếu muốn có thể tưởng lãm thêm cái trí tuệ rối bòng bong của ngài. Như đã ước hẹn trước, cũng như trong các phần trích đoạn ở trên, các chữ in đậm nét dưới đây là do ý tôi, cốt giúp người đọc d thấy các điểm nổi bật hơn các điểm khác. Tuy nhiên, rất có thể người đọc sẽ nhận thấy các điểm khác có phần tếu hơn và xứng đáng được in đậm nét hơn !
1. Hồn là một điển quang của Hắc Bì Phật đã lập hiến, nào là điển của mặt trời là khí dương cùng điển của mặt trăng là khí âm, hợp với 28 vì sao cùng ngũ hành, nhưng điển nào làm việc chậm tr thì sa xuống trần gian hợp cùng thán khí, rồi hợp với khí âm khí dương của bản thể con người, thừa theo giống đực giống cái, chung với ngươn khí hợp thành thai noãn nguyên khối. (Trang 164)
2. Tóm tắt, trong bản thể con người thì có hồn là một thứ điển quang trên Thiêng Liêng, gốc của Lập Hiến, nào là Hiến Pháp, là mặt trời mặt trăng, sao, ngũ hành, chỉ lẽ chánh khí điển hiến pháp cực thanh thì còn ở làm việc. Còn khí điển nào trược, nặng, làm việc chậm tr, thì điển ấy sa xuống trần gian gọi là hồn. (Trang 165)
3. Hồn là một đấng Thiêng Liêng do khí trược của Thiên Đàng, của Phật Trời gọi là hồn. Khi hồn sa xuống nhập vào bản thể con người cùng vật, nhưng từ Thiên Đàng cùng trần gian đều có sự hoá hoá sanh sanh hưởng ứng, nhưng trần gian thì cũng có đủ thứ như trên trời. (Trang 165)
4. Tóm tắt : TINH vốn của Cha. KHÍ vốn của Mẹ, THẦN vốn của trên Thiên Đàng sa xuống, nói chung là: Tinh, Khí, Thần. gọi là Ta, vốn là Ta. (Trang 182)
5. Ta vốn là Thần Hồn trên thiên Đàng sa xuống cũng gọi là Căn bản. Căn bản 1à vốn gốc hồn trên trời sa xuống làm chủ bản thể.......... (Trang 182)
6. Người đủ trí thức gọi là Hồn, còn ta là người ở thế gian, Cha Mẹ sanh ra ta. (Trang 183)
7. Hồn là trí não ở vào bộ óc là một thứ khí thiêng liêng của Trời Phật ban phó cho trong bản thể con người.... (Trang 193)
8. Nhưng trước đây ta phải công phu thấy Mâu Ni Châu xuất ra, đó làHồn. Hồn là một cục máu hoá thành lửa điển gọi là Mâu Ni Châu trong mình ta trước trán phát tung bay ra mới gọi là Hồn. (Trang 194)
Trên đây là phần tổ sư đạo xuất hồn giải thích điển, ngài đã quá cố. Dưới đây đến phần phán dạy của Phật sống LSH.
ii. Phật sống lsh giải thích "điển"
Hỏi: Điển quang là gì?
ĐÁP: Điển quang là sự sáng suốt trong nội thức của chúng ta, cho nên khi mọi người tu mà hiểu được sự sáng suốt do liên kết với điển quang sáng suốt của bề trên. Cái điển quang sáng suốt chẳng hạn trong lúc các bạn đang viết thơ mà nghĩ một việc này mà viết rồi một chập ào ào ra những việc còn siêu hơn và nhẹ hơn. Đó, cái điển quang chuyển hoá xuống nên tâm thức mình được mở mang càng ngày càng sáng suốt.
Phần nhận xét của tôi:
1) Điển là "sự sáng suốt trong nội thức."
Sách xuất hồn không ghi người hỏi thắc mắc nội thức là gì, và chúng ta lại không...có điển, nên cứ hiểu nội thức theo nghĩa thông thường là tâm trí, là sự suy nghĩ. Nếu lại truy "Vậy ngoại thức là cái gì ?" thì có lẽ Phật Sống lại phán thêm vài ba chữ nghe có vẻ rất triết lý và trừu tượng khác mà thôi.
Tôi nhận thấy đương sự cực kỳ ưa thích việc dùng những ngôn từ đao to búa lớn, những chữ trừu tượng mà chính đương sự cũng không hiểu nghĩa lý rõ rệt. Có thể nói đương sự luôn luôn bị ám ảnh với các ngôn từ kêu nổ rộn ràng ấy. Trong một câu trả lời cho môn đồ qua hệ thống InterNet-Vol. 5 No. 9, tháng 6 1996-ngài phán, "luồng điển trong nội thức xuyên qua hà đào thành, khớp xương xoáy óc..." Như thế, nội thức không có nghĩa là sự suy tư, suy nghĩ, hoặc tâm trí theo nghĩa bình thường. Vậy theo LSH "nội thức" giống như cái ống nước hoặc sợi dây điện trong đó luồng điển chạy ? Vậy "nội thức" là một vật cụ thể ta có thể rờ mó được, như chân tay, bàn ghế ???
Cũng theo phần trả lời về điển của Phật Sống, chúng ta thấy những ai không luyện xuất hồn, không có điển, tất không có sáng suốt trong nội thức. May thay!
2) "Tu mà hiểu được sự sáng suốt [là] do liên kết với điển quang sáng suốt của bề trên."
Hiểu được sự sáng suốt ??? Câu này hoàn toàn chẳng có nghĩa lý gì cả. Ngôn ngữ Việt Nam chỉ có câu "hiểu một cách sáng suốt", hoặc "Tôi thán phục sự sáng suốt của ông A trong tình huống khó khăn đó." "Sáng suốt" chỉ là một trong các từ ngữ ám ảnh Phật Tám rất thường trực, cũng như những chữ "thanh nhẹ", "khai triển", "giải toả", "tâm linh", "vạn linh", v.v. Bất cứ ai trong chúng ta, chưa từng luyện xuất hồn, không hề có "điển", cứ nhắm mắt, mở miệng nói một dây những loại chữ này và các chữ nửa nạc nửa mỡ khác là tức khắc y chang một môn đồ VV kỳ cựu 100%, tu cao, sống chết với điển, cái sự lý gì cũng qui về điển. Chúng ta cũng có thể chuẩn bị cho chu đáo bằng cách "thực hành tháo gỡ nghiệp tâm" "trong lý thuyết minh giác" cho kỹ, để "giáng lâm" sân khấu Đại Hội VV, tự xưng là Phật, là Cha Trời "tùy theo sự phát triển của nhịp tim" chúng ta tuyên bố trước "cộng đồng nhơn sinh" cho "thanh nhẹ phần hồn", cho "tâm minh đời đạo hướng khuynh Phật Trời", "khôi phục lãnh vực thanh tịnh sẵn có của tâm linh" trên thế gian đầy "điển trược" này.
Cũng trong lời giải đáp về điển của LSH ở trên, vấn đề đã được đương sự bán cái cho "bề trên". Chữ "bề trên" này đối với đa số người phàm chúng ta có nghĩa một "đấng" nào đó, "ở trển", có quyền ban phước, giáng hoạ xuống đầu mình. Nếu truy kỹ cho ra bề trên ấy ở đâu, mặt mũi ra sao, và "Điển quang sáng suốt của bề trên nghĩa là gì ?" "Có phải bề trên cũng do luyện xuất hồn mà có điển quang sáng suốt ấy không?" v.v., thì chắc chắn tất cả mọi người hiện diện sẽ chỉ được nhìn cái mặt nghệt ra trông rất đáng tội nghiệp của người bị hỏi như rất thường thấy mà thôi.
Quan sát rất nhiều trường hợp hỏi đáp, tôi nhận thấy mỗi khi có ai chất vấn Phật sống cặn kẽ cho đến nơi đến chốn thì mọi người tham dự chẳng thấy đạo lý của Phật Sống ở chỗ nào cả. Có hai trường hợp xảy ra : (A) Phật sống bí, và (B) Phật sống không bí.
A. Phật sống bí, nín thinh, mặt chầm dầm, suy nghĩ, xoay sở.
a. Nếu đương sự nghĩ ra được một câu nào đó để chống đỡ, đó thường là lời chống đỡ càn.
b. Nếu không nghĩ ra được câu gì, đương sự sưng mặt, gằn giọng, dùng lời lẽ thô lỗ của kẻ quê mùa, thất học, thất phu.
c. Nếu hoàn toàn đuối lý, đương sự nín thinh. Không khí nặng nề nhất trong tình cảnh này. Tất cả mọi người thấy rõ thực chất và khả năng của một kẻ tự xưng và được môn đồ xưng tụng là Phật Sống, ra mặt làm bậc thầy dẫn dắt người khác trên đường "tiến hóa tâm linh" bằng cách đút chặt hai ngón tay cái vào hai lỗ tai.
Trong các trường hợp thuộc loại thứ nhất này, coi như Phật sống thua, bất kể có thốt ra lời càn hay nín thinh. Một thí dụ điển hình cho các câu trả lời loại này là trường hợp sau: Trong một buổi Phật sống thuyết giảng tại một hội trường, sau phần Phật sống giảng, đến phần người dự nghe đưa các câu hỏi đã được viết vào giấy và chuyền lên sân khấu cho một người cầm đọc. Có một người hỏi về việc tu xuất hồn lâu thì đầu u lên (Phật sống phán rằng đúng vậy, đó là điều tốt.) Các câu hỏi tiếp theo : "U chỗ nào thì tốt, chỗ nào không tốt?" (Phật sống đáp.) Người hỏi tiếp : "U nhiều tốt nhiều, phải vậy chăng ?" Phật sống nổi sùng ra mặt và đáp "Muốn tu cho đầu nổi nhiều cục u thì cú lên đầu cho nhiều vô !"
Phần lớn đám đông môn đồ cười khúc khích. Có người ngoại quốc nghe lời dịch các câu hỏi đáp đến đây thì bực mình tháo cái headphone đeo trên đầu, liệng xuống bàn, và đứng lên bỏ ra. Tuy các câu hỏi ấy nghe có vẻ khôi hài, nhưng dường như đó là các câu hỏi chân thành từ một môn đồ VV đã luyện một thời gian, và ông hay bà ấy đã nghe nói hoặc thấy trong số những người luyện lâu năm có nhiều người nơi mỏ ác vun lên.
Trong các trường hợp hỏi đáp như trên, tôi coi như Phật sống thua : bản chất của môn luyện xuất hồn và bộ mặt thực của Phật sống bị phô bày.
B. Phật sống không hề bí. Ngài tự tin, phán dạy hùng dũng, nhưng hoặc là lạc đề, hoặc tránh né, hoặc không hiểu câu hỏi, hoặc nói dốt, hoặc nói tà đạo, v.v. Trong trường hợp này người hỏi chịu thua và rút lui, bởi họ tự nhận ra là Phật sống hết thuốc chữa.
Điển hình các câu trả lời loại này là khi có người nhắc đến quả vị La Hán, Phật sống lập tức giận dữ phán : "La Hán là cái gì ? - đây không có tu chùa !" Rõ ràng đương sự đã lòi ra bộ mặt tà đạo hằng được rán dấu diếm bằng đủ mọi cách. Người hỏi thua, rút lui vì không lẽ nói thẳng vào mặt Phật sống "Như vậy thì ông đích thực là bàng môn tả đạo rồi còn gì nữa ! Ông xưng là Phật mà không biết La Hán là gì và khinh thị La Hán như vậy sao ??? "
Sau đây là một giải đáp khác về "điển" của LSH, ngày 4 tháng 1 năm 1994.
"Hỏi: Điển do đâu mà có?
ĐÁP: Điển từ bên ngoài do sự hội tụ chấn động của càn khôn vũ trụ mà có. Còn điển của con người do sự tụ hợp tự thực phẩm và hành pháp thông khai thần kinh khối óc thành tựu ánh sáng hoà hợp với chấn động thanh nhẹ của vũ trụ quang, tiếp thu tinh ba của vũ trụ, dũng chí hồi sinh, tự giải toả mọi sự nan giải của tâm linh, hoá độ quần sinh."
Phần nhận xét của tôi:
• Câu thứ hai dài 61 chữ, được nhồi thành bởi một nùi ngôn ngữ trọng đại, không phân mệnh đề chánh, phụ. (LSH gọi đây là thao thao bất tuyệt, tuôn ra øo ào". Các môn đồ một mực thán phục !) Như thường lệ, một lô ngôn từ Vô Vi chen lấn nhau mà ra, láo nháo bất kể chữ này có ý gì, chữ kia nghĩa lý là sao, nhập bầy với nhau với mục đích để din tả điển hay cái gì khác !?
• "Sự hội tụ chấn động của càn khôn vũ trụ." Vũ trụ chấn động như thế nào, din biến làm sao? "Chấn động" có nghĩa chuyển dịch bất thường với cường độ mạnh mẽ. Thí dụ: "chuyển động địa chất", gọi tắt là "địa chấn", tức sự di chuyển mạnh mẽ của các lớp vỏ địa cầu. Máy đo cường độ địa chấn cho chúng ta biết một địa chấn đã xảy ra với cường độ 3.5 hoặc 5.6, 6.8, v.v. Sự di chuyển trầm lặng và cực kỳ chậm như của lòng sông, đáy biển, của các lục địa thì không thể gọi là "địa chấn" được.
Đạo xuất hồn rất thường mập mờ và nhập nhằng : khi thì xác định Thượng Đế chính là cái huyệt Hà Đào Thành trên đỉnh đầu, lúc thì phán "Thượng Đế chuyển điển cho tôi nói như vậy." Vậy thử hỏi cái đại vũ trụ bên ngoài hoặc cái tiểu vũ trụ của riêng LSH chấn động hồi nào ? Với cường độ nào ? Khởi sự và chấm dứt lúc nào ?
• Hội tụ có nghĩa là gom lại, qui về một điểm. Lý do gì khiến các chấn động hội tụ ? Điểm hội tụ ở đâu, không hề thấy đương sự nói đến.
• "Còn điển của con người do sự tụ hợp tự thực phẩm và hành pháp thông khai thần kinh khối óc." Với mệnh đề thứ hai của câu này, LSH muốn nói cách tập xuất hồn làm thần kinh óc hết kẹt. Các sợi thần kinh óc bị kẹt như thế nào ? Chỗ nào kẹt ? Cái gì làm kẹt ? Căn cứ vào đâu biết đã bị kẹt và căn cứ vào đâu biết sau đó hết kẹt ? Có hình chụp quang tuyến hoặc MRI hay sao ???
Phải chăng khi chưa kẹt thì "tâm linh" u tối, đọc chữ "Ma-Ha Ca-Diếp" chỉ biết đó là người Ấn Độ tên Mahacasyapa? Và khi đã khai thông, cảm thấy "thanh nhẹ, sáng suốt", có điển, nhìn cũng chữ Ma-Ha Ca-Diếp đó liền thấy rõ ràng nghĩa lý của Kinh muốn nói Con Ma Ca Hát Lá Gan ??? Hoặc khi đã khai thông rồi thì nghe phán gì liền tin nấy, chẳng còn dám suy luận và thắc mắc chi nữa ???
• "...sự tụ hợp tự thực phẩm..." Vì sao Tổ Sư Xuất Hồn ĐTH không hề nói điển do thực phẩm tụ hợp với cách tập xuất hồn mà nay LSH lại phán như vậy ? Có chi lạ ! Số là nhiều năm trước, sau khi súc ruột liên chi mệt lả, LSH được các cố vấn xung quanh khuyên nên ăn thực phẩm Health Food. Từ những năm 1985-86, LSH đã phán truyền cho các đệ tử biết rằng ăn kê d tiêu, da mặt mịn, thanh nhẹ, v.v. Thế là tất cả hè nhau ra tiệm Health Food ôm về từng bịch kê, và kê đắt gấp 5 lần gạo ! Được nửa năm, một năm, món "diệu dược" này qua lại tiếp đến món "thần dược" khác, theo sát các tiệm Health Food.
• "...thành tựu ánh sáng hoà hợp với chấn động thanh nhẹ của vũ trụ quang...": Phần này cho chúng ta thấy sau khi dùng cách tập xuất hồn tụ hợp với thực phẩm health food, kết quả có được là ánh sáng, và đây chính là "điển". Đoạn còn lại sau đó muốn nói: sau khi đã có điển, mới hòa điển của mình với "chấn động thanh nhẹ của vũ trụ quang" v.v. rồi tự giải toả những... sự nan giải của... tâm linh, hoá độ quần sinh. Nhóm chữ đao to búa lớn này lại cũng làm tròn nhiệm vụ thông thường của chúng, nghĩa là chẳng liên hệ gì với câu hỏi "Điển do đâu mà có ?"
Vậy: Luyện Xuất Hồn + Health Food = Ánh Sáng = Điển. Tuy nhiên, trong một lần khác, LSH trả lời cũng câu hỏi "Điển đo đâu mà có ?" như sau :
- "Luồng điển ở mảnh đất phù sanh này là do sự kết tập bởi những luồng thanh khí của các lọai Kim thuỷ Mộc Hoả Thổ, kích động và phản động tạo ra hình thù duyên dáng. Còn về thiêng liêng phần hồn thì là luồng điển thanh tịnh phát sinh và cấu tạo nơi cõi không động trong qui luật chuyển điển của âm dương, chỉ nó mới có thể tự tiêu diệt hay bồi bổ lấy nó, chứ không ai có thể tiêu diệt nó được. Vậy chúng ta..." [...chiến tranh, người tu hành đứng đắn, v.v. và v.v., không liên hệ gì đến câu hỏi.]
Phần nhận xét của tôi :
• "Điển" là do sự chuyển...điển của âm dương trong cõi không động mà ra. Liệu chúng ta có thể nói rằng âm dương tức là vũ trụ, và điển của người luyện xuất hồn có được là do...điển vũ trụ chuyển hay không? Không! Vũ trụ có hình tướng, còn âm dương không có hình tướng. Tổng quan, âm dương chỉ là một nguyên lý về sự đối nghịch nhau của các động lực và các tính chất: thu gọn (dương) và bành trướng (âm), sáng và tối, nóng và lạnh, nhẹ và nặng, cay và ngọt, v.v. Âm dương không phải là vũ trụ. (Nếu nói về ngồn gốc, Thái Cực sanh Âm Dương, và cũng không thể nói Thái Cực chính là vũ trụ.)
"Cõi không động" ấy ở đâu??? Đạo xuất hồn đặt cơ sở tu luyện trên xác thân và luồng điển châu lưu Nhâm mạch, Đốc mạch. Trong toàn cơ thể, tuyệt đối không có chỗ nào không động để gọi là cõi không động! Có lần Tám nói Cõi Không Động là cõi chỉ có hào quang mà thôi. Câu giải thích này phản khoa học thường thức và phản chính "khoa học huyền bí" của đạo xuất hồn. Ánh sáng là do sự rung động của các quang tử, hào quang cũng chỉ là điển rung động ở một tần số nhất định. Đã rung tức động, động thì khỏi không động.
CHƯA HẾT! CÓ LẦN PHẬT TÁM ĐÃ PHÁN RẰNG: "ĐIỂN TỨC LÀ NƯ•C, NƯ•C TỨC LÀ ĐIỂN, VÌ TRONG CƠ THỂ CÓ NƯ•C THÌ ĐIỂN M•I CÓ CH’ CHạY, THẤY KHÔNG ? CHO NÊN BÂY GI- CÁI ĐIỂN CỦA NHÀ ĐÈN, MÌNH ĐỂ HAI S"I DÂY ĐIệN DƯ•I NƯ•C, MÌNH THỌC TAY VÔ NƯ•C LÀ BỊ GIỰT LIỀN."
Sự việc cũng không hề chấm dứt ở đó. Phật Tám còn tùy hứng đặt ra hằng mấy chục thứ điển khác nhau, trong số có... "điển tâm", có lẽ chỉ vì nghe nói Phật giáo luận nhiều về Tâm.
Cao điểm của trò "điển giáng" :
ông lên bà xuống, và "cha trường" xuất hiện
Giấy trắng mực đen rõ ràng đã cho thấy tổ sư ĐTH và LSH đều chỉ nói tán loạn, rốt cuộc chẳng xác định được "điển" là gì. Đối với đạo này, điển là cứu cánh, là tất cả. Và khái niệm điển đã được các giáo chủ giải thích như thế đó.
"Điển" có một công dụng rất rõ rệt cho những ai đã sa lầy xuống cái hố cạm bẫy của những xung cảm và giao động trong cơ tạng và thần kinh hệ : nó được họ dùng làm căn cứ địa tối tăm để rút về trốn núp các ngọn giáo trí tuệ sắc bén của những người không hề bị mê hoặc bởi cái gọi là "điển".
Nói chung, lá bùa "điển" hão huyền, không tưởng, xưa nay đã gây cho biết bao nhiêu người uổng phí năm tháng, tiền của là còn may lắm. Nói "may" là so với những người khởi tâm lành, muốn tu, nhưng lại lạc vào trò đêm đêm xếp chân ngồi nhắm nghiền mắt, lòng canh cánh mong cho được "điển giáng", mong cho được ai đó bên thế giới vô hình nói cho mình nghe một điều gì bí mật của "thiên cơ", hoặc một tai ương lớn lao gì đó sắp xảy đến nay mai, để sáng ngày mình ra vẻ quan trọng, xù xì, úp mở với đôi ba người xung quanh. Sau đôi ba năm, chứng này biến thành tâm bệnh, bởi lúc nào cũng nghĩ tưởng đến con người và thế giới vô hình do chính mình mường tượng. Ít nói nhưng h mở miệng là phán những lời tiên tri, những chuyện trọng đại "cơ trời", "luật trời", "phán xử", "trừng phạt", "bên trên xắp xếp", v.v. và v.v., hăm he vận mạng người này, doạ dẫm hồn vía người kia, oai vệ cứ như mình là nhân vật trọng đại đã được đặc biệt mời dự buổi họp hàng đêm trên... "thiên đình", cứ như ta đây đã nắm rõ tất cả vận hành của nhân sinh và vũ trụ. Nặng hơn thì đến điên loạn bởi lúc nào miệng cũng lẩm bẩm đối thoại với ai đó "đang nói vào tai mình".
Chẳng qua cũng chỉ vì lòng ham hố được chút danh hão, mong được mọi người xung quanh kính nể mình vì mình biết bí mật "thiên cơ", biết chuyện họa phước tương lai, có biết đâu đã vô tình tự "mở cửa" mời gọi quỷ ma xâm nhập. Đây là một bí mật mà nhiều người tu vì không biết nên từ lòng chân chất ham tu buổi ban đầu mà về sau phải lún dần vào cái hố thẳm loạn tưởng triền miên, kiếp này sang kiếp khác, khó có ngày ra khỏi.
Khởi sự từ những năm 1983-84 cho đến gần hết thập niên này, trò "điển giáng" trong đạo Vô Vi lên cao độ nhất, khôi hài nhất, đáng tội nghiệp nhất, và nhảm nhí nhất.
Các sân khấu đại hội Vô Vi hàng năm thời ấy cực kỳ náo động và vui nhộn. "Bạn đạo Vô Vi" đua nhau lên đồng, nhập xác tán loạn, kể cả những khi họ có dịp vào gặp LSH tại bất cứ nơi nào LSH "giáng lâm". Có cô bỗng nhiên bước tới trước mặt "đức thầy Tám", sàng qua, sàng lại, khom lưng, vòng tay, ẻo qua, ẻo lại, bước tới, bước lui... Mọi người ngơ ngác, chẳng biết cô làm cái giống chi, Phật Tám LSH ra bộ rành rẽ, tỉnh khô phán :
• "Tiên ở trển người ta múa như vậy !"
(Tôi thấy té ra tiên ở trển múa xem rõ chán phèo. Còn phải tập luyện cực khổ lâu lắm mới múa được như các tiên nữ hạ giới tại Las Vegas !!!)
Có ông xăm xăm lên sân khấu phát xưng mình là ông thần kia, ông thánh nọ; vừa xong lại có bà cũng bỗng khơi khơi xưng mình là Phật Mẫu; chốc lát sau lại có cậu oang oang tiên tri thời cuộc thế giới, vận mạng vũ trụ, v.v. và v.v. Thực là sôi động, náo nhiệt, tưng bừng khôn tả. Tuy nhiên hầu hết đều chỉ liều mạng làm Phật, làm Thần, làm Thánh gì đó độ mươi lăm phút hay nửa giờ rồi "thăng", l phép trả lại sân khấu cho đức thầy Tám làm chủ. Cho đến khi Trần văn Trường xuất hiện.
Trần văn Trường Nhẩy Ra Đoạt Gọn Sân Khấu Vô Vi
Bỗng nhiên, không ai thông báo, không "sấm truyền", dĩ nhiên không cả sự "tiên tri" của LSH, Trường đột ngột xuất hiện và tức khắc làm chủ tình hình các sân khấu VV. Trường không nhát cựa như mọi người. Trường vỗ ngực, vênh mặt, dõng dạc tuyên bố hắn là "Cha".
Chấn động càn khôn ! Trong "hệ thống quân giai" của Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp-tức đạo VV, tức đạo xuất hồn-Cha là Cha Trời, tức Thượng Đế, trên Phật, có quyền hành hơn Phật một bậc. Do đó, Phật Tám bỗng hụt giò, bàng hoàng, thảm hại. Phật Tám chết trân trước sự việc xảy ra quá bất ngờ và mau lẹ, hoàn toàn ngoài khả năng xuất hồn, xuất vía của mình.
Phật Tám thẫn thờ, không biết làm gì hơn, đành biết chịu trận cho một tên lạ hoắc nhảy ra ngang nhiên ngồi chình ình trên đầu mình. Trường tỉnh khô, công khai gọi Phật Sống là..."thằng Tám"!!!
Trường nổi như cồn, lên như diều gặp gió trên các sân khấu và hậu trường đạo xuất hồn, mau chóng được nhiều môn đồ xuất hồn chấp nhận và gọi là "Cha Trường". Trường cũng tự chọn cho mình một nhãn hiệu : "Cha Nhẫn Hoà". Khi nghiêm nghị, lúc thơ thới, Trường nói liên miên không ngừng, cứ như đã nhiều năm bị bịt miệng không được nói. Phật Tám trái lại, bí xị, thê lương, ỳ thộn ra đó một đống, ngơ ngác suy tư, trông đến tội nghiệp. Ai cũng thấy Tám cú rủ còn hơn con gà mái phải mưa, ngồi nghe Trường múa mỏ, huyên thuyên, rực rỡ, lộng lẫy, quyến rũ..., như một con công chúa trong các cặp mắt của môn đồ ! (Nếu LSH và các môn đồ bất mãn khi đọc những đoạn này, xin xem lại các băng video.) Nhiều buổi hội họp từ đầu chí cuối Tám tuy cũng ngồi một bên sân khấu nhưng không hề có được lấy một lần ra lời. Thỉnh thoảng Trường xoay qua bàn Tám, mở ngỏ cho Tám phát biểu một vài lời.
Trường nói đạo hồn vía như mưa, nhưng cũng dùng các tuyệt chiêu rất tương tự với Tám : toàn những sự việc chỉ có trong mối loạn tưởng của riêng y. Dẫu cho FBI, CIA, KGB, Scotland Yard, và Mossad hợp sức lại đi nữa cũng chỉ có nước chịu thua không kiểm chứng nổi. Thì cũng chẳng có gì khác hơn vía, hồn, điển, "Thiêng Liêng", "ở trển", Thiên Đình, Địa ngục, Thiên Cơ Bất Khả Lậu, v.v. và v.v. Có khác là người nói bây giờ chính là "Cha Trời", và các môn đồ ngây người ra nghe chết mê, chết mệt.
Nhìn Phật Tám, đám môn đồ có phần ái ngại nhưng cũng đành bỏ Tám, ùn ùn theo tuân phục Trường. Tâm trạng đa số lúc bấy giờ là : Ngu sao còn chờ gì không theo ? Rõ ràng ông mập này là ông Phật Sống bấy lâu nay, bây giờ ông ốm kia là "Cha Trời giáng lâm", là thượng cấp của ông Phật này xuống độ thế, ngu sao còn đợi gì mà không theo ? Cha Trường chính là Giáo Chủ Hội... "Long Vân", mình không theo ai cứu "phần hồn" mình ngày tận thế sắp tới ???
Tình hình đạo xuất hồn náo động, biến chuyển vùn vụt như miền Nam Việt Nam sáu, bảy tháng trước ngày 30 tháng 4, 1975.
Hai Tên Hề Trên Sân Khấu Vô Vi
Đã nhiều ngày tháng Phật Tám ngồi chơi sơi nước thộn ra trên sân khấu nghe Trường nói không biết mỏi miệng. Tám trở nên vô dụng và thừa thãi đến nỗi một hôm phải cùng Trường làm một màn hề. Trường giả trang làm Cha Trời, và Tám giả trang làm... Mẹ Trời !!! Tám má hồng môi son, quàng khăn đầu, cặp tay Trường bước ra sân khấu. Các môn đồ ngồi dưới bỗng nhiên thấy trên sân khấu hai đứa hề diêm dúa xiêm y, mặt mày bôi vẽ, vạch màn bước ra. Cả đám ngơ ngác chẳng hiểu nổi là cái đạo lý chi ! Hai tên hề thấy khán giả chẳng ai há miệng cười, hoặc vỗ tay, hoặc phản ứng gì ráo, bèn chỉ biết đứng đực ra... chờ đợi. Rồi có tiếng ai giải thích, các môn đồ ngồi dưới gượng cười giả lả và vỗ tay lộp bộp cho vui nhà, vui cửa.
Trường Tự Hại, Mở Đường Cho Tám Xả Thẳng Tay
Trường tuổi đời nhỏ hơn Tám nhiều, nên còn lắm nông nổi, vụng về, và không kềm chế, che dấu hoặc bào chữa các tật xấu giỏi như Tám. Trường cũng xưng "mày tao" với đệ tử, và dĩ nhiên Trường "mày tao" luôn cả với Tám.
(Xưa có lần Phật Tám từng bị hỏi về sự thô lỗ này. Tám rằng Tám thương đệ tử cũng như cha mẹ thương con, nên gọi ai cũng... đứa này, đứa nọ, con nọ, thằng kia, là phải chớ có gì đâu ?)
Tuy thế, chẳng phải tất cả đều tuân phục Trường. Thỉnh thoảng có người cãi lý, phần để thử cựa Trường, phần vì Trường lắm khi lóc chóc, mày tao với môn đồ ỏm tỏi, tự làm giảm uy phong của mình. Trường chẳng có bao nhiêu "nhẫn và hòa" như nhãn hiệu "Cha Nhẫn Hoà" tự phong. Nếu như Trường biết ẩn nhẫn đợi thêm 5 năm sau hãy xuất đầu lộ diện, có lẽ cơ nghiệp bá chủ xuất hồn của Trường đã lâu bền hơn rất nhiều. Tánh sân còn lừng lẫy, Trường nhiều lần xách cây đập môn đồ lớn bé chí chạp. Mấy lần Trường đòi đập luôn... Phật Tám vì "Phật mà dám trái ý Cha Trời." Trường lại còn đang tuổi đòi hỏi nhục dục nam nữ. Coi bộ Trường chỉ bạo phổi nhưng non kinh nghiệm nên không thoát khỏi các hố bẫy to tướng này. Các đệ tử bắt đầu xì xào về thái độ quá khích và các hành vi khác của Trường. Tám thấy thế cờ đã mở, bắt đầu phát ngôn bóng gió, gầy lại uy thế dần dà.
Về Đầu Trang Go down
ÁNH SÁNG-T2-ÚCCHÂU



Tổng số bài gửi : 1153
Join date : 18/02/2010

ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp   ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitimeSun Apr 03, 2011 5:30 pm


Phật sống Tám Nhờ Điển Mà Hạ Được Trường ?
Môn đồ đạo xuất hồn đóng góp tiền xây cất nên cái gọi là "Thiền Viện Nhẫn Hoà" tại thủ đô Olympia của Washington State. Ngoài ra, còn cất thêm một cái cốc riêng cho Trường tại Thiền Viện 00, Oroville, California. Tất cả để chuẩn bị cho Trường lên ngôi trùm vũ trụ năm 1989, năm "Đại Hội Long Vân". Xem thế đủ biết Trường đã thành công vượt bực, dẫu LSH vẫn còn một số đệ tử trung kiên, và có kẻ không chịu lạy Trường. Phật Tám dư biết ngày Trường đăng quang cũng sẽ là ngày Tám lùi sâu thêm vào bóng tối hậu trường.
Nhơn Trường xách cây tìm Tám đòi đập cũng lại vì "Phật mà dám khác ý với Cha Trời", Tám hạ thủ. Phật Sống cầu viện các đấng thiêng liêng đại diện cho luật pháp, là các ngài có nhiệm vụ giữ gìn an ninh và trật tự xã hội tại quốc gia Hoa Kỳ, châu Mỹ, địa cầu, thái dương hệ. Rốt cuộc, chẳng phải điển Thiêng Liêng, điển Thượng Đế, hoặc điển ở trển nào đã giải quyết cuộc tranh dành làm ông trùm xuất hồn giữa Trường và Tám. Chỉ là mấy thầy chú Cảnh Sát Mỹ, con chó lửa giắt bên hông phải, cây ba-toong giắt bên hông trái, ngồi xe có đèn xanh đèn đỏ trên mui chạy tới.
- xứ Hoa Kỳ văn minh nơi hạ giới phàm trần này, nếu Trường xách cây đập con chó nhà hàng xóm thời Trường cũng được rước ngồi xe có ghế nệm, có còi hụ, có đèn màu chớp chớp, nói chi đập con người. Trường bị còng tay, lủi thủi ra đi. Tám lấy lại cuộc đời làm Phật sống kiêm Chúa Jêsu trên sân khấu Vô Vi.
Cho đến gần 10 năm sau, một trong vài ba môn đồ VV sống tại Thiền Viện 00 vẫn còn hoạnh hoẹ :
- "Thiền Viện này có điển của Đức Thầy coi giữ, ngoài cổng có Long Thần, Hộ Pháp canh, có chuyện là cảnh sát nó chạy tới liền hà, chớ đừng có tưởng!"
Sau khi Trường thất sủng thảm thương, một số đông môn đồ tỉnh cơn mê ma quái, từ bỏ đạo này vĩnh vin. Trường hiện nay vẫn còn ở với người nữ đệ tử từ dạo ấy. Thiền viện tại Olympia vẫn còn giữ tên "Nhẫn Hòa".
Trong một kỳ báo VV sau này, các môn đồ thâm niên giải thích "biến cố Cha Trường" một cách đầy hiểu biết : Thượng Đế chuyển điển tạm thời xuống bạn Trần Văn Trường để giải quyết... những bất hoà của ban chấp hành.
Thêm một lần nữa, "Thượng Đế" lại được dùng vào những công tác rất ư tạp nhạp của một dúm người. Đây là một chứng bệnh thông thường, nguyên nhân phát xuất từ cái TÔI, cái TA cực kỳ quan trọng, cực kỳ đặc biệt, cái TA có "sứ mạng thiêng liêng", có nhiệm vụ "cứu đời", đến nỗi "Thượng Đế" phải bỏ kệ nhiều tỉ người đang khốn đốn, lầm than, nghèo đói trơ xương, bệnh hoạn không thuốc men, v.v., để đến lo cho RIÊNG MÌNH !!!!!
Năm 1998, kẻ bị 50 ngàn đồng hương tại Little Saigon, California, Hoa Kỳ, biểu tình mắng nhiếc, nguyền rủa, chính là kẻ đã từng một thời làm "Cha Trời" từ trò "điển giáng" mà ra vậy.
Xin đón xem phần cuối cùng :
Luyện Xuất Hồn Để Tự Chữa Bệnh
và Chữa Bệnh Cho Người Khác
Mọi ý kiến, chia xẻ kinh nghiệm, xin gởi cho : pham_ba@hotmail.com
--KỲ VII --
Luyện xuất hồn để tự chữa bệnh
và chữa bệnh cho người khác

Một số môn đồ Vô Vi tin rằng nhờ luyện môn xuất hồn này nên họ được khoẻ mạnh, ít bệnh, tâm thần an ổn. Nếu quả được vậy thì thực tế cho thấy số môn đồ đó không bao nhiêu so với đại đa số đã và đang được “chữa chạy” bằng đủ các ngón : từ súc ruột, uống thuốc Natures Sunshines, cho đến uống nước tiểu, tắm hơi, v.v., và cho đến cả massage.
Về thuốc Natures Sunshines, các lọ thuốc hoặc các bịt lớn thường được chia ra từng gói nylon nhỏ, bán lại cho môn đồ. Tôi từng nghe các môn đồ tự hào “thuốc của Vô Vi chúng tôi...,” chứng tỏ họ không hề biết đến nguồn gốc của các loại thuốc ấy.
Về ngón massage... trị bệnh, điển hình như trong một thông báo vào tháng 9, năm 1998, về cái gọi là “Khóa Thanh Lọc,” tại khách sạn Holiday Inn, Costa Mesa, California, ban tổ chức dự trù nhiều tiết mục chữa bệnh, trong số có mục massage, do “bạn đạo M.” phụ trách. Cũng như các món khác, món massage Shiatsu này được quảng cáo nghe rất kêu là “Chương Trình Thoa Bóp Bấm Huyệt Ðả Thông Kinh Mạch.” Bản thông báo nhắc nhở mọi người rằng “Anh M. cần trung bình khoảng một giờ đồng hồ cho mỗi người.” Ðiều này có nghĩa ai muốn được anh M. massage thì phải chi tiền cho anh thoa nắn ít nhất một giờ đồng hồ mới có kết quả, chứ nếu chỉ 15 phút hay nửa giờ thì... e rằng không đủ dose, kinh mạch không “thông” được.
Ngoài món thoa và bóp nói trên, còn có nhiều món khác như dưới đây, được đảm trách bởi các môn đồ Vô Vi cũng theo bản thông báo cho biết, đã “tốt nghiệp nhiều khóa chuyên khoa” và “rất giầu kinh nghiệm” :
- “Chương Trình Sửa Soạn Ruột, Trừ Khử Ký Sinh Trùng, và Bồi Bổ Gan và Túi Mật” : đây là món súc ruột tôi đã trình bày, có thêm nhiều chi tiết cặn kẽ như “Xin uống các loại thảo dược đặc biệt tốt này theo đúng lời chỉ dẫn đi kèm trong gói,” và cuối cùng là “không nên mang những thứ không bổ ích vào thể xác” kẻo “thân xác và cuộc đời sẽ thêm đau thương.”
- “Chương Trình Khám Mắt” : đây là món chụp hình con mắt, rồi cầm cái kính lúp xem, và phán “Cô lét tê rôn cao lắm, phải xúc ruột liền” như tôi đã đề cập.
- “Chương Trình Xem Máu” : món này do một bác sĩ (?) không phải là người Việt phụ trách. Ông này lấy hai giọt máu “nơi ngón tay út quí bạn” rồi sẽ nhìn qua kính hiển vi “có cỡ phóng đại 10 ngàn lần”... “để phẩm định tình trạng sức khoẻ của các tế bào trong cơ thể.”
- “Chương Trình Thanh Lọc Tuyến Hạch Bạch Huyết” : món này được căn cứ vào “Hệ thống tuyến hạch bạch huyết không có một trái tim để trực tiếp bơm liên tục như trong trường hợp hệ thống máu.” Môn đồ nào chịu làm món này thì được cho uống nước muối Sodium Sulfate, nước chanh-bưởi-cam, và “thường sẽ đi cầu nhiều lần. Dùng giấy thấm nước [chùi] cho bới rát.”
Chưa hết : “Nếu đi cầu không đủ kịp, nên súc ruột để giúp thải độc tố ra ngoài mau hơn...”
Ngoài dữ kiện khoa học huyền bí “Hệ thống tuyến hạch bạch huyết không có một trái tim để trực tiếp bơm liên tục như trong trường hợp hệ thống máu,” Õmón này còn căn cứ vào các huyền bí khác như “Lớp da trên thân thể quí vị...” có thể “hấp thụ khí trời từ bên ngoài vào”, nên “Chương trình Khóa Thanh lọc sẽ khuyến khích quí vị chà da khô, xông hơi bằng thảo dược, ngâm mình trong nước muối biển nóng, và tắm nước nóng rồi xối nước lạnh hằng ngày.”
Khoảng năm 1999, một môn đồ Vô Vi tuổi độ trên 50, sống tại Hoa Kỳ, bị động tim, phải vào nhà thương cấp cứu và điều trị. Sau khi được các bác sĩ Hoa Kỳ cứu sống, ông này nhất định mình đã qua khỏi là nhờ đã luyện đạo xuất hồn. Ông viết một bài tường thuật dài, sao ra gởi đi khắp nơi để trình bày kỳ công của ông và sự mầu nhiệm của môn luyện xuất hồn. Trường hợp điển hình này lại cho thấy tính chất cực kỳ chủ quan và võ đoán thường thấy của thầy trò đạo Vô Vi, nhưng những báo cáo như vậy lại được các môn đồ Vô Vi hết lòng tin nhận, không hề thắc mắc. Nếu nhờ luyện xuất hồn được khoẻ mạnh thì sao lại bị bệnh thập tử nhất sanh như thế ấy ??? Nếu tự chữa bệnh được bằng “điển” thì sao lại để cho xe cấp cứu chở vào nhà thương, để các bác sĩ và y tá phải bở hơi tai cứu mạng mình ???
Nếu nói nhờ tu luyện đạo Vô Vi nên được ít bệnh thì chính mắt tôi đã chứng kiến các cao đồ đạo này cũng bị cảm cúm như ai khi mùa cúm đến. Ngoài ra, chính LSH cũng vẫn còn bị huyết áp cao và quạu quọ mỗi ngày thì “hết bệnh” và “tâm thần an ổn” ở cái khổ nào ???
Trong những “Khóa Thanh Lọc” nói trên và những “khóa” tương tự được tổ chức đều đặn tại các địa điểm khác nhau. “Ðức thầy” LSH có đến chủ tọa, nhưng từ trước đến nay tuyệt đối không bao giờ có tiết mục LSH dùng điển để chữa bệnh cho các môn đồ, hoặc các môn đồ dùng điển... chữa bệnh cho nhau. Trái lại, chỉ toàn là các ngón chữa bệnh tân thời không hề được các hãng bảo hiểm y tế chấp nhận và đài thọ. Dĩ nhiên, ngoài phí tổn di chuyển và thời gian trung bình một tuần lễ, các môn đồ Vô Vi phải chi tiền cho những món mình muốn thử, hy vọng sẽ được hết bệnh, trẻ ra, lâu già.
Những ai theo dõi phong trào “New Age” phát khởi từ trên 15 năm trước, hoặc ghé vào những Psychic Fair và Craft Fair, đều có thể thấy rõ hầu hết các ngón chữa bệnh của đạo Vô Vi đều nằm gọn trong đó. Nào là khám bệnh bằng cách nhìn tròng con mắt, nào là chụp hình hào quang, cho đến massage, phong thủy, bói bài Taro, máy xung động điện T.E.N.S. cầm tay, máy lúc lắc cặp giò cho “khí” lưu thông, v.v. và v.v.
Xem thế, điều gọi là “tu Vô Vi sẽ có khả năng tự chữa bệnh và có thể dùng điển chữa bệnh cho người khác” là sự thực, hay chỉ là một ảo tưởng, hoặc một điều lừa bịp ? Tôi xin để độc giả và các môn đồ Vô Vi tự giải đáp.

Tác động ma túy ?
Tổng quan, có hai sự kiện đáng ghi nhận nơi đây :
1. Tôi nhận thấy những người có trình độ suy lý thấp và hiểu biết kém không hề thay đổi theo chiều sáng sủa hay tốt đẹp ra sau nhiều năm trường siêng năng luyện xuất hồn và đều đặn hấp thụ những giáo điều “chân kinh” của tổ sư ÐTH và Phật Tám LSH. Trái lại, họ, cũng như những người có trình độ văn hóa và hiểu biết khá hơn, tất cả nay chỉ biết suy lý theo một chiều duy nhất : hồn-vía-điển.
Ðiều này không có gì đáng ngạc nhiên, bởi như tôi đã trình bày trong những chương trước, chính những người dẫn đầu là tổ sư ÐTH và Phật Tám cũng chẳng hề sáng suốt gì ra nhờ luyện môn này. Lý trí đã không hề mở mang thì chớ, lại mờ ám thêm đi.
2. Có những người đổi tánh (nhất thời hoặc lâu dài), thí dụ như từ “hay cằn nhằn vợ con” thành “bả nói gì, làm gì, tôi cũng thây kệ, tôi không có la bả như hồi trước nữa.” Tôi nhận thấy dường như kết quả này đến với những môn đồ cao niên nhiều hơn là với các môn đồ còn trẻ tuổi hoặc trung niên.
Hai sự kiện trên và sự kiện một số môn đồ tự đắc khoe rằng “hít một hơi vô thấy mát lạnh, têêêê mêêêê, đã lắm” cho tôi thấy những điều môn đồ Vô Vi gọi là “cảm thấy khoẻ hơn, ít bệnh, hết bệnh, và tâm thần an ổn” phần lớn thực ra chỉ là cảm giác mà thôi.
(Vấn đề này không khó hiểu mấy nếu chúng ta nhớ rằng mỗi khi bị nhức đầu hoặc sổ mũi, uống hai viên Tylenol hoặc Aspirin vào thì chỉ độ hơn 15 phút sau là tâm thần thấy chùng xuống, nhẹ người ra. Chúng ta cảm thấy thoải mái, dễ chịu, nhưng đầu óc không còn có thể tập trung tư tưởng để suy tính hay tìm cách giải quyết vấn đề một cách sắc bén như trước. Chúng ta không còn hứng thú lý sự, tranh biện, hoặc... cằn nhằn gì nữa, và bằng lòng với cảm giác an bình giả tạo. Tất cả chẳng qua chỉ là vì Acetaminophen và Aspirin có tác dụng làm xoa dịu thần kinh, và đó là tác dụng chung của các loại ma dược.)
Vậy những cảm giác nói trên của các môn đồ Vô Vi có từ đâu ra ?
Từ những năm thuộc thập niên 1980, nhiều người đã nêu ra một dữ kiện quan trọng của môn luyện xuất hồn bằng cách Nút Tai - Bịt Mắt của đạo Vô Vi. Ðó là : hai ngón tay cái đút chặt vào hai lỗ tai khiến các nhĩ huyệt bị kích phấn, gây cho cơ thể tiết ra chất endorphin, và chất này có tác dụng tương đồng với ma dược.
Dĩ nhiên, LSH nổi sùng và tức khắc bác bỏ như sau:
- “Không ! Không phải ma túy như mấy người đó nói. Ngược lại, chúng ta bịt lại thì cái chấn động lực gia tăng mạnh hơn. Chấn động lực là nói về bên Vô Vi. Còn cái kia thuộc về Y Khoa. Họ không hiểu nên cho đó là maÕ túy. Y khoa có nhiều cái chưa hiểu, đừng có tưởng là tới đích, chưa tới đích đâu !”
Xin người đọc chớ thắc mắc “cái chấn động lực” đó là cái gì, bởi chính LSH cũng chỉ mường tượng lờ mờ rằng nút chặt hai lỗ tai và tự nhủ thầm “tung lên đầu, tung lên đầu,” thì điển phải dồn lên đầu. Dồn miết nó phải bung ra, đó là cục sáng bay lờn vờn trước mặt, là cục “Mô Ni Châu,” chính là “hồn,” là “Ta,” là “Chơn Ngã,” v.v. LSH gọi có được như vậy là nhờ chấn động lực. (Có môn đồ viết thư than gia đình bất hòa nên ông ta không luyện xuất hồn đều đặn được, thì LSH gọi đó là “phản chấn động lực của gia đình” !)
Cũng xin chớ thắc mắc bác sĩ y khoa nào đã dám tuyên bố láo rằng y khoa đã “tới đích” khiến LSH đổ quạu, dẫu rằng y khoa đã cứu sống LSH, và cũng đã mổ mắt cho LSH vào đầu năm 2000.
Tuy nhiên, tính chất “ma túy” nêu trên có thể chính là câu giải đáp cho sựÕ kiện này : nhiều người luyện xuất hồn Vô Vi sau một thời gian vài ba tháng cho đến sáu tháng đã cảm thấy :
- Ðầu óc nhẹ nhàng, thảnh thơi
- Không còn cằn nhằn vợ con
- Hết nhức đầu, hết nhức lưng
- Cảm thấy “vạn vật thái bình,” an ổn
- Cảm thấy mình là một phần của “Thiêng Liêng ở trển”... giáng lâm xuống đây, bị nhốt kẹt trong cái xác này để học bài
v.v.
Một ít các cụ nhất định là nhờ luyện xuất hồn nên được khoẻ mạnh, trường thọ. Tuy nhiên, nếu các môn đồ Vô Vi, trẻ cũng như già, cứ đi bộ cho đúng cách là cũng có kết quả rất tốt cho cơ thể và tâm thần. Những ưu tư, phiền muộn sẽ lắng đọng, và sau một vài tháng sẽ thấy kết quả cụ thể như ăn ngon, ngủ yên, tăng sức. Báo chí gần đây cho biết đi bộ có thể ngừa được và giảm được nhiều bệnh, kể cả một loại bệnh tiểu đường.
Nếu nói riêng về endorphin, ngoài món đi bộ, các môn chạy bộ lúp xúp, hoặc massage, hoặc ngâm mình trong bồn nước ấm cũng có thể khiến cho cơ thể tiết ra chất này.

Nhĩ Huyệt
Khoảng năm 1976, tại Sài Gòn, tôi có đến dự buổi thuyết trình của bác sĩ Trương Thìn về đề tài “Trị liệu bệnh ghiền ma túy bằng phương pháp châm cứu.” Có khoảng 150 châm cứu gia hai miền Nam-Bắc đến tham dự. Bác sĩ Thìn là một tây y sĩ nhưng cũng giỏi khoa châm cứu. Ông tường trình rất cặn kẽ việc ông dùng khoa châm cứu để chữa trị những người ghiền ma túy tại “Trại Phục Hồi Nhân Phẩm,” nơi ông giữ chức vụ y sĩ trưởng.
Phần trình bày thành quả trị liệu của bác sĩ Thìn làm mọi người tham dự hôm ấy ngạc nhiên và cực kỳ phấn khởi. Bảng so sánh cho thấy các phương pháp cai ma túy đang được áp dụng lúc bấy giờ tại Việt Nam và tại các viện cai ma túy đắt tiền trên thế giới có hiệu quả sau 6 tháng, 4 tháng, 3 tháng, 2 tháng, hoặc 1 tháng, xuống đến phương pháp nhanh nhất là 3 tuần. Còn phương pháp dùng khoa châm cứu của bác sĩ Thìn thì sao ? Phương pháp nhĩ châm của bác sĩ Thìn cai bệnh ghiền ma túy chỉ trong 7 ngày !!!
Phim chiếu trên màn ảnh cho thấy một người đàn ông mới nhập trại và đang lên cơn ghiền, vặn mình vật vã kịch liệt dưới bốn cánh tay kềm giữ vất vả của hai y tá. Rồi thì hai người y tá cũng giữ chặt được người bệnh để bác sĩ Thìn châm các mũi kim vào hai tai anh ta. Chỉ hơn năm phút sau, con bệnh bớt dằn vật, rồi từ từ buông tay xuôi xuội, nằm êm ru.
Bằng vào kết quả phi thường ấy, và so sánh thời gian cai bệnh ngắn kỷ lục 7 ngày của bác sĩ Thìn, chúng ta có thể biết việc kích động các huyệt tai quả thật rất là quan trọng. Kích động ấy khiến cơ thể tiết ra lượng endorphin hoặc một hóa chất tương đồng nào đó, và tiết ra nhiều đủ để hóa giải cơn ghiền một cách mau chóng và thần hiệu.
Dữ kiện y khoa cụ thể này cũng cho thấy : tổng kết các tác dụng sinh hóa trên cơ thể do các mũi kim ghim chính xác vào các huyệt tai, với các tình trạng tâm thần, lý trí, lý giải của tổ sư ÐTH, của Phật Tám LSH, và của các môn đồ, chúng ta có được một phần giải đáp cho những kết quả hoặc hậu quả bi thảm của cái gọi là “Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp”.

Ước vọng và hậu quả
Thực tế cho thấy nhân điện hoặc “điển” không hề thực sự chữa được bệnh như rất nhiều môn đồ Vô Vi vẫn còn mơ tưởng. Họ ước vọng sẽ có điển để tự trị bệnh cho chính mình, và trị bệnh cho bá tánh làm phước. Mộng ước diễm tuyệt của họ là một ngày không xa lắm mình sẽ chỉ cần đặt nhẹ bàn tay vào da thịt người bệnh là người bệnh sẽ lập tức ngừng rên rỉ, cơn đau kinh niên sẽ lật tức tan biến. Thế là căn bệnh trầm kha mà lương y Tây, Tàu đều đã bó tay sẽ lành, rồi người bệnh sẽ thành kính, trân trọng tạ ơn cứu tử, và mình sẽ... khiêm tốn từ chối không nhận tiền bạc.
Mộng ước đó đã, đang, và sẽ chỉ là một ảo mộng !
Vì sao ? Vì ngoài sự kiện Chúa Giê-su chữa khỏi cho chỉ một, hai con bệnh mà kinh thánh đã ghi lại, cho đến nay vẫn chẳng thấy ai khác có khả năng thần bí đó. Hiện tại, có rất nhiều bệnh nhân ung thư đang phải chịu đựng các cơn đau kinh khiếp từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây, cho đến khi tắt thở trong các bệnh viện ung thư công, tư, hoặc của các cơ sở tôn giáo. Chưa từng có một ai khoan thai bước vào các bệnh viện ấy để dùng bàn tay mình thoa nhẹ vào da thịt người bệnh và chận đứng nỗi thống khổ cho bệnh nhân. Nếu làm được việc ấy, họ đã chẳng ngần ngại gì làm để có thể thu hút thêm tín đồ cho tôn giáo mình, hoặc để hốt bạc triệu, bạc tỉ một cách nhẹ nhàng, và lại còn được nổi danh lẫy lừng khắp thế giới. Những màn bịp chữa bệnh có tổ chức của các ông đạo trên các sân khấu đại hội trường đông hằng ngàn người, hoặc tại những cơ sở tôn giáo, đều bị các nhà khoa học, các y sĩ, và các phóng viên đưa ra các bề trái.
Thực ra, ước vọng có được khả năng chữa bệnh nhờ luyện xuất hồn chỉ là một trong nhiều món tham rất đáng được thương xót của thầy trò đạo Vô Vi:
1. Không muốn bỏ tâm sức, năm tháng vào việc nghiên cứu và học hỏi Phật pháp cho tường tận và tu hành suốt đời, mà chỉ muốn lẹ lẹ thành Phật, thành thánh chỉ sau một thời gian vài tháng hoặc vài năm luyện xuất hồn. Riêng trong món này, LSH tự cho mình là cao siêu hơn Phật Thích-Ca.
2. Không muốn khép mình trong đời sống tu hành kham khổ để tu cho thành đạo, chỉ muốn luyện xuất hồn “tê mê” và hưởng dục lạc thế gian, hãnh diện gọi đó là “đời đạo song tu”.
Riêng trong món này, thầy trò Vô Vi khinh bỉ những người tu hành xa lánh thế tục là... “hèn nhát”.
3. Không muốn bỏ tâm sức và tiền của vào thời gian dài 20 năm đằng đẵng đi học để thành bác sĩ y khoa, mà chỉ muốn mau mau có “điển” để chữa bệnh tài như thánh chỉ sau một thời gian vài tháng hoặc vài năm luyện xuất hồn.
Riêng trong món này, đã mấy mươi năm trời rồi mà thỉnh thoảng chỉ có ai đó tình cờ có chút kết quả tí ti. Thế nên trong gần 20 năm qua, các môn đồ Vô Vi xoay qua học các lớp “M.D. cấp tốc,” học nghề chẩn bệnh bằng kính lúp soi hình chụp tròng con mắt, xúc ruột, “massage therapy,” v.v. Họ kiếm tiền bằng cách tổ chức những “khóa thanh lọc” để thực hành các món chữa bệnh đó trên các đồng đạo. Tất cả mọi việc đều phải có sự chấp thuận hoặc chủ trì của LSH.
Tất cả những dữ kiện kể trên quá đủ để thấy bề trái của việc gọi là “tự chữa bệnh và chữa bệnh cho người khác bằng điển” của đạo xuất hồn. Tuy vậy, những ai vẫn còn ôm cứng mộng ước này đặc biệt những người tại Việt Nam, có từ tâm muốn làm phước cứu bá tánh nghèo khổ, bệnh hoạn rất có thể vẫn không tin nổi đó là sự thực 1000%, và vẫn còn tin vào “chánh pháp” Vô Vi.
Tuần Báo Phát Triển Ðiển Năng (trước gọi là “Vovi LED,” viết tắt các chữ “Life Energy Development”) số 305, ngày 6/5/2001, có câu giáo lý dưới đây của LSH :
“Hỏi : Ðường nào là đường chánh pháp ?
“Ðáp : Thưa đường xuất phát từ trung tâm bộ đầu là đường chánh pháp, không thể bóp méo sự thật.
Tuần Báo này số 312, ngày 24/6/2001, thì có câu :
“Hỏi : Nguyên lý tròn hay méo ?
“Ðáp : Thưa, nguyên lý lúc nào cũng tròn.
Vậy, tôi xin mời các độc giả đó đọc tiếp phần cuối cùng dưới đây rồi sẽ tiếp tục luyện xuất hồn theo “đường chánh pháp” và “nguyên lý lúc nào cũng tròn” ấy cũng không muộn.

Ông T. bị hoạt tinh
”Tuần Báo Phát Triển Ðiển Năng” số 317, ngày 29/7/2001, đăng thư của một môn đồ tên T. gởi cho “Ðức Ông Tám” :
“... Trong mười ngày gần đây, hình như khi tiểu tiện, con bị “xuất tinh” hai lần, (giống như nước vôi, chớ không giống như nước cơm) trong khi con không cương cứng, không rặn đại tiện. Sau mỗi lần như vậy, con cảm thấy người mệt mỏi hơn cả giao hợp sáng đêm. Kế đó con công phu không được, y như ruột xe bị bể, bơm hơi không vô. Ì ạch phải ba ngày sau con mới công phu lại được và cũng chỉ được ba mươi phút mà thôi, cộng vào bây giờ mỗi lần chiếu minh xong, khoảng 20 đến 30 phút là không kích dục thì cũng nổi sân.”
Như thường lệ, “Ðức Ông Tám” phủi tay :
“Con nên tìm thầy đông y bắt mạch và sắc thuốc tàu uống ...”

Hai ông Tư D. Và Ba Ch. Phát Ðiên
Tuần Báo Phát Triển Ðiển Năng số 305, ngày 6/5/2001, đăng lá thư của ông MVT, 75 tuổi, tuổi Kỷ Mùi, qua Hoa Kỳ năm 1990, gởi cho “ông Tám tôn kính” để xin chỉ giáo. Thư có các đoạn :
“Khi tôi còn ở Việt Nam, vào năm 1978, tôi theo tu với hai bạn: 1 - Anh Tư D (tác giả bức thư đính kèm) và 2 - là anh Ba Ch, tu theo pháp của Ông là Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí.
Tu được một năm tôi thấy anh Tư D đột nhiên phát điên cùng một lúc anh Ba Ch nổi nóng đến cực điểm vác dao chém vợ con. Vì vắng mặt Ông, tôi không biết hỏi nguyên do sự trên với ai, hỏi ông E và ông Sáu L, không ai giải thích thỏa đáng. Tôi hoảng quá, nên thôi, không dám công phu nữa.
...
Và sau đây tôi nói rõ về nguyên nhân “Ðiên” của anh Tư D để ông chỉ dạy ảnh khỏi tái phát.
Mục đích Tư D tu vì sợ trễ Kỳ Hội Long Hoa (vì đạo gốc của anh là Ðạo Cao Ðài). Ngày công phu bốn lần: Tý Ngọ Mẹo Dậu. Còn anh Ba Ch tu để đạt lục thông và có điện mạnh để trị bịnh cho bà con lối xóm, cũng công phu 4 thời.
Mỗi đêm hai anh đều xuất hồn lên Thiên Ðình, yết kiến Ngọc Hoàng Thượng Ðế và cùng gặp bà Tây Vương Mẫu sắp mở hội Ðào Tiên, có bia ghi danh sách tên tuổi của anh D - Ch trên thiên đình. Mừng quá, 5 giờ chiều hôm đó, hai người cùng Thiền để bỏ xác. Nghe tiếng động, anh Ba Ch mở mắt ra thấy anh Tư D leo lên mái nhà giở ngói vừa nói: trở ngại vì mái ngói nầy mà hồn không lên Thiên Ðình được.
Hốt hoảng Ba Ch chạy về nhà vác dao rượt vợ con chém vì họ cản không cho tu. Còn Tư D từ đó điên luôn. Tôi thấy vậy cũng hoảng hồn không dám tu nữa (công phu), vì vậy mà tôi qua bên Tịnh Ðộ Tông.
Kính thưa ông Tám, tôi nói ra đây hết sự thật để Ông hiểu rõ nguyên do hầu độ chúng tôi đến con đường giải thoát.”
Tôi đánh máy các trích đoạn trong lá thư của cụ MVT mà lòng không khỏiÕ buồn thương cho hai nạn nhân này. Chuyện “Hội Long Hoa,” chuyện “xuất hồn lên Thiên Ðình thấy có bia ghi danh sách tên tuổi,” có gì là mới đâu ? Ðạo Vô Vi cũng đã náo nức chuẩn bị suốt thập niên 80 để “Cha Trường” lên ngôi “Long Hoa Giáo Chủ.” “Ðức Ông Tám” cũng từng khoe rằng mình đã lên “Thiên Ðình” lật sổ xem, thấy mình thành Phật cách nay 5000 năm. Và cũng cơn mê muốn “có điện mạnh để trị bịnh cho bà con lối xóm” !
Ông E. và ông Sáu L. là hai môn đồ trong số các môn đồ Vô Vi kỳ cựu nhất. Hai ông này không giải thích thỏa đáng cho nạn nhân, nhưng LSH thì có giải thích tức thì. “Ông Tám tôn kính” không dạy các môn đồ phát điên ấy đi tìm thầy thuốc bắc. “Ông Tám tôn kính” viết một bài trả lời dài thoòng để đổ tội cho họ đã “không phân tách sự việc trước khi hành,” “mượn phương pháp thực hành của Pháp Lý Vô Vi mà hướng tâm về sự phù hộ thì sẽ tạo loạn cho chính mình,” và phải “ăn uống điều độ trong cuộc sống thì mới dễ hành pháp lý được” ...
Suốt mấy thập niên qua, có rất nhiều báo cáo về những hậu quả của việc luyện xuất hồn Vô Vi, và các nạn nhân đều thành kính xin LSH chữa trị hoặc chỉ dạy. Tất cả đều bị đổ tội lên đầu : vì chính mình luyện sai, luyện không đúng cách, vì nghiệp chướng, vì không biết ăn uống bổ dưỡng, vì không biết “đời đạo song tu,” v.v.
Ông Tư D., gốc đạo Cao Ðài, nhưng vấn đề đã được ông MVT trình bày rõ rệt là ông Tư D. và ông Ba Ch. tu theo Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí, và hai ông đã phát điên sau triệu chứng “lên thiên đình giở sổ.” Tuy vậy, như thường lệ, LSH phủi tay và đổ tội cho các ông.
Các báo cáo khác như “trước trán có một lỗ nhỏ hủng vào,” hoặc “trên đầu có cục u lên,” hoặc thấy đốm sáng, thấy bay trên trời, v.v., được LSH khen ngợi và chúc mừng, ngay cả những trường hợp có các hậu quả đi kèm theo.
Những môn đồ theo đạo Vô Vi trên dưới 10 năm nay tất phải biết rất rõ điều này : Ông T., ông Tư D. và ông Ba Ch. kể trên hoàn toàn không phải là những nạn nhân đầu tiên, và chắc chắn họ cũng không phải là những nạn nhân cuối cùng của cái gọi là “Pháp Lý Vô Vi Khoa Học Huyền Bí Phật Pháp”.

HẾT

Trích và sưu tập từ nguồn :
http://www.daophatngaynay.com/viet/doi/020-daoxuathon1.htm

Về Đầu Trang Go down
Sponsored content




ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp Empty
Bài gửiTiêu đề: Re: ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp   ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ  ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp I_icon_minitime

Về Đầu Trang Go down
 
ÔNG PHẠM BÁ NÓI NHỮNG TIÊU CỰC VỀ ĐẠO XUẤT HỒN Tức pháp lý vô vi khoa học huyền bí Phật pháp
Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
CỘNG ĐỒNG TÂM LINH VÀ HẠNH PHÚC CỦA TOÀN THỂ NGƯỜI VIỆT NAM TRÊN TOÀN THẾ GIỚI . :: Your first category :: - NHÓM NGHIÊN CỨU TÂM LINH ĐÔNG TÂY VÀ DIỂN ĐÀN TỰ DO VỀ TÂM LINH :: CHUYÊN ĐỀ NGOẠI CẢM HỌC - PSYCHIC-
Chuyển đến